Trần lãi suất và vướng mắc trong nhận thức, áp dụng giải quyết các tranh chấp thương mại 

Lãi suất cơ bản - trần lãi suất không phải là vấn đề mới, nó đã được thảo luận trên bàn nghị sự của Quốc Hội nhiều, khá sâu, có nhiều quan điểm ngược chiều và phán quyết của Quốc Hội là vẫn kiên định vấn đề lãi suất cơ bản, thể hiện  tại các đạo luật: Bộ luật dân sự (BLDS – có 6 điều liên quan đến nội dung này); Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010, các quy định này phù hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo việc tự do hóa lãi suất nhưng cũng khá chặt chẽ...hầu hết ai cũng nhận thức, áp dụng đúng quy định trong giao dịch tín dụng là:  áp dụng trần lãi suất trong HĐ tín dụng các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất “nhưng không được trái pháp luật” hoặc “phải phù hợp với pháp luật”.

Một thời gian, quan hệ thương mại trong lĩnh vực tín dụng rất sôi động, thúc đẩy kinh tế, tuy vậy vài năm gần đây vấn đề lãi suất cả thị trường chính thống và thị trường đen (cho vay lãi nặng) đã tác động rất lớn đến việc xóa sổ nhiều doanh nghiệp; đó là diễn biến bất thường theo chiều hướng xấu, biểu hiện điển hình của sự rối loạn là trước đó các Ngân hàng thi nhau tăng lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay; mọi cam kết đều thể hiện sự tự nguyện nhưng và là sự tự nguyện theo kiểu khiên cưỡng, lãi suất cao hoạt động sản xuất kinh doanh rơi vào thế bế tắc, khả năng thanh toán nợ hạn chế, thậm chí mất khả năng, nhiều doang nghiệp trở thành bị đơn trong các vụ kiện; cùng tình trạng các ngân hàng có nợ khó đòi, nhiều NH bị lừa, có NH bị chính nhân viên của mình móc nối rút ruột, tiền mất, nguy cơ không thu hồi vốn nhiều... từ việc “tự nguyện thỏa thuận” khi không thu hồi vốn được các bên tranh chấp; việc cho vay theo thỏa thuận vượt trần trong thời gian qua đã đến mức báo động và dấu hiệu của sự đổ bể là kiện nhau ra Tòa án các cấp và thời điểm hiện nay là lúc giải quyết hậu quả của cái gọi là tự do hóa lãi suất vượt trần.

Tự do hóa lãi suất đến mức vi phạm quy định pháp luật nếu chỉ là hiện tượng thì thôi nhưng có dấu hiệu của một tình trạng và nếu là tình trạng thì cần báo động chấm dứt ngay bởi vấn đề không chỉ dừng ở việc giải quyết từng tranh chấp, từng vụ án mà việc thực hiện lãi suất cơ bản còn là vấn đề chính trị, xã hội. Nói là vấn đề chính trị bởi nó liên quan đến định hướng, chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta; là vấn đề xã hội thể hiện ở nhiều khía cạnh nhưng rõ nhất là sự tác động đến nền kinh tế, mặt trái đó là vấn đề đạo đức, vấn đề pháp luật nhất là xử lý các quan hệ cho vay lãi nặng “theo kiểu xã hội đen” vậy định hướng của Nhà nước về vấn đề này như thế nào? Câu hỏi còn vẫn bỏ ngỏ.

Cho vay vượt trần, việc đầu tiên trong xác định lỗi chính là bên cho vay (Ngân hàng, người dân) có phải vì được lợi mà chính họ là thường là người chủ động hoặc mặc nhiên chấp nhận thỏa thuận lãi suất không phù hợp pháp luật (hay vượt trần)? về nguyên tắc do ký kết trái pháp luật nên đây là các hợp đồng vô hiệu, nếu phán quyết vô hiệu thì chính bên cho vay là người phải chịu thiệt hại đầu tiên mới đúng! Tuy nhiên thực tiễn áp dụng pháp luật không hoàn toàn như vậy.

Trong thời điểm hiện nay, khi các NH không cầm cự được đã khởi kiện ra tòa khá nhiều. Điều lạ lùng là rất nhiều Hợp đồng tín dụng vượt trần trái pháp luật ấy lại được nhiều Tòa án chấp nhận vô điều kiện, đẩy người vay – thường là người yếu thế rơi vào lối bế tắc hoàn toàn. Những vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng mà các Ngân hàng thương mại khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết hầu hết xảy ra trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán nợ mà khi ký kết hợp đồng tín dụng đều không nắm rõ quy định của pháp luật về lãi suất nên chấp nhận mức lãi suất do Ngân hàng thương mại đưa ra. Do đó, việc bản án sơ thẩm tuyên bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất theo thoả thuận (mà hầu hết là sự thoả thuận về lãi suất chênh lệch rất cao so với lãi suất cơ bản do NHNN quy định) là chưa xem xét toàn diện tính hiệu lực, hiệu quả và khả thi của bản án trên thực tế. Xin lược trích phần tuyên của một bản án đã chấp nhận hoàn toàn yêu cầu khởi kiện của NH (buộc bị đơn phải trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận vượt trần) và kể cả lãi suất chậm thi hành án cũng tuyên luôn:“bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản nợ gốc  kể từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc theo mức lãi suất mà hai bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng" . Nếu xét xử kiểu này là thừa nhận tình trạng các Tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quy định của pháp luật, thoát khỏi sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự, hợp thức hoá cho các vi phạm của các Tổ chức tín dụng về tự do hoá lãi suất vượt trần.

Vận dụng hướng dẫn để lách luật, không bảo vệ bên yếu thế?

Trong thực tiễn Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn áp dụng trần lãi suất (TTsố16/2008; số 07/2010 hướng dẫn thống nhất trong đó có cụm từ “thỏa thuận với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật”) nhưng  tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 Ngân hàng nhà nước lại hướng dẫn “tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thoả thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn”, hướng dẫn này quên hay khéo léo không sử dụng cụm từ “phù hợp với quy định pháp luật”mà các đạo luật đã quy định (BLDS, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng nhà nước và các văn bản trên đã hướng dẫn); vậy là từ đây các rắc rối xẩy ra, có nhiều, rất nhiều giao dịch thương mại loại này đã “tự do hóa lãi suất” đến mức không tuân thủ pháp luật vượt khá xa trần lãi suất, đặc biệt là hiện tượng cho vay lãi nặng gâu nhiều hệ lụy xã hội; đã xẩy ra các tranh chấp phía người vay yêu cầu giải quyết theo pháp luật (nhưng không biết yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô hiệu), phía cho vay (là các NH thương mại) dứt khoát yêu cầu Tòa phải phán họ được kiện vì hai bên đã “tự nguyện thỏa thuận lãi suất”. Nếu bên cho vay được kiện nghĩa là người đi vay phải chấp nhận khoản lãi suất vượt trần, mà nếu là thỏa thuận vượt trần tức là giao dịch trái pháp luật - thực chất là giao dịch vô hiệu.   

Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật"; cũng tại Khoản 5 Điều 474  và Khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 thì các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được trái pháp luật, cụ thể là không được trái với Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự 2005. Trong trường hợp có tranh chấp về lãi suất thì đối với lãi suất trong hạn không được vượt quá 13,5% năm ((9 %  (lãi suất cơ bản hiện nay của NHNN) + 4,5% (tức 50% của 9%)). Đối với lãi quá hạn được tính từ thời gian quá hạn hợp đồng theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố đến thời điểm xét xử.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 thì: "Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố  đối với loại cho vay tương ứng" được hiểu là quy định về trần lãi suất cho vay tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 đã điều chỉnh tất cả hợp đồng vay tài sản, trong đó có cả hợp đồng tín dụng. Nếu các bên trong quan hệ hợp đồng tín dụng thoả thuận lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản  thì sự thoả thuận đó là trái pháp luật. Việc Luật CTCTD 2010 và Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 quy định lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận được hiểu TCTD và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất nhưng sự thoả thuận đó phải theo quy định pháp luật và đây là quy định dẫn chiếu đến các văn bản pháp luật khác. Pháp luật điều chỉnh quan hệ vay tài sản  bao gồm BLDS, Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dụng..v.v.., trong khi đó hiện nay trần lãi suất cho vay được quy định tại Điều 476 BLDS 2005 mà không quy định trong Luật các tổ chức tín dụng và Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 mà các Ngân hàng thương mại đang áp dụng cho vay với lãi suất thoả thuận. Vì vậy, sự thoả thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật ở đây chính là theo quy định tại Điều 476 BLDS năm 2005. Từ đó cho thấy, quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là phù hợp với BLDS 2005. Việc các tổ chức tín dụng áp dụng Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước để khởi kiện yêu cầu Toà án buộc khách hàng phải chịu lãi suất theo thoả thuận là không chính xác. Căn cứ khoản 2 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì trong trường hợp này phải áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn đó là BLDS năm 2005.

Cần nhận thức Hợp đồng tín dụng là quan hệ dân sự. Khi tham gia quan hệ này, cả hai bên (Ngân hàng và khách hàng) đều phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Theo đó, cùng với việc bên vay thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật để được vay món tiền thì phía cho vay (Ngân hàng) cũng có trách nhiệm và nghĩa vụ đi kèm. Trên thực tế nếu cam kết đúng pháp luật chỉ trừ trường hợp có rủi ro khách quan (không nhiều lắm), còn lại nếu cả hai bên đều thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình thì không có lý do gì mà Ngân hàng không thu hồi được vốn. Trong trường hợp người vay gặp rủi ro thì phía Ngân hàng cũng phải có trách nhiệm "chia sẻ" với khách hàng. Việc chia sẻ thực chất là tính đúng, tính đủ lãi suất theo quy định của pháp luật dân sự. Nhiều vụ việc Ngân hàng không muốn giải quyết theo hướng này, chỉ yêu cầu thực hiện theo cam kết có lợi cho Ngân hàng, thực chất nếu hiểu đúng thì bên bất lợi phải là Ngân hàng vì họ đã tham gia giao dịch trái pháp luật và khách hàng là người quản lý trực tiếp tài sản(tiền) của họ. Chúng tôi cho rằng, khi có tranh chấp xảy ra thì phải giải quyết theo pháp luật và tranh chấp dân sự đó phải lấy Bộ luật dân sự làm chuẩn mực và chuẩn mực đó chính là quy định tại khoản 5 Điều 474 và khoản 1 Điều 476 BLDS và Luật các tổ chức tín dụng nêu trên.

Kiến nghị:  từ những phân tích trên, chúng tôi đề nghị:

1.QH, Nhà nước cần tiếp tục duy trì quy định về lãi suất cơ bản coi đây là công cụ quan trọng trong điều tiết tiết thị trường lãi suất; cần có định hướng có tính chiến lược, giám sát cơ chế xác định lãi suất của các tổ chức tín dụng, tránh trường hợp thả nổi, quản lý lỏng lẻo để áp dụng vượt trần lãi suất như vừa qua.

2.Cần rà soát xem xét lại nội dung hướng dẫn áp dụng pháp luật tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 để hướng dẫn bổ sung, tránh trường hợp nhận thức và áp dụng, xử lý lách luật như thời gian qua.

3. Cần yêu cầu tổ chức tổng kết thực tiễn hoạt động cho vay vượt trần tại các ngân hàng tín dụng để chấn chỉnh và có các quy định có tính răn đe, nghiêm cấm trong việc cho vay lãi nặng trong nhân dân; mặt khác tổng kết thực tiễn giải quyết các tranh chấp tín dụng thỏa thuận vượt trần nhằm hướng dẫn giải quyết đúng pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các khách hàng yếu thế khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự nhưng thiếu hiểu biết pháp luật.

Nguồn: vienkiemsat.nghean.gov.vn