Những vấn đề cần rút kinh nghiệm qua công tác kiểm sát giải quyết một vụ án dân sự theo thủ tục tái thẩm 

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất” tại tỉnh H theo thủ tục tái thẩm; Vụ 5- VKSND tối cao đã ban hành Thông báo rút kinh nghiệm trong toàn Ngành. Trang thông tin điện tử VKSND tối cao trích đăng để VKSND địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung.

Nội dung vụ án và quá trình tố tụng:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn Dự và Bà Nguyễn Thị Tình.

Bị đơn: Bà Phan Thị Oanh.

Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp Phó Đường, xã Tân Phước, huyện P, tỉnh H.

Trước Tòa, bà Nguyễn Thị Tình được chồng là ông Trần Văn Dự ủy quyền trình bày:

Cụ Trần Văn Mít và vợ là cụ Thái Thị Bi sinh được 06 người con là: ông Trần Văn Liên (chết); bà Trần Thị Tý (chết); ông Trần Văn Re; ông Trần Văn Qúy; ông Trần Văn Đu (chết 7/2009, vợ là bà Phan Thị Oanh); ông Trần Văn Dự (vợ là bà Nguyễn Thị Tình). Lúc sinh thời, cụ Mít cụ Bi được quyền sử dụng 43.652 m2 đất gồm cả đất hương hỏa (thổ cư + vườn) và đất canh tác. Khi còn sống hai cụ đã phân chia đất canh tác cho các con; còn phần đất hương hỏa thì vợ chồng bà và vợ chồng ông Đu bà Oanh đều cất nhà ở. Sau khi cha mẹ chết (2006, 2007) anh em trong gia đình có họp vào ngày 13/9/2007 và đi đến thống nhất: ông Đu chia thêm 6m chiều dài phần phía sau nhà cho ông Dự. Vì vậy diện tích đất của ông bà sử dụng sẽ là ngang 9m, dài 36m. Tháng 7/2009, ông Đu chết, bà Oanh (vợ ông Đu) không chịu tách phần đất cho vợ chồng ông bà. Do đó, vợ chồng bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Oanh phải trả lại phần đất diện tích 480m2 và tách quyền sử dụng đất cho ông Dự.

Bị đơn là bà Phan Thị Oanh trình bày: Lúc cha mẹ chồng bà còn sống đã chia đất cho vợ chồng bà và vợ chồng ông Dự, hai anh Trần Văn Liên và Trần Văn Qúy không được chia. Sau khi cha mẹ chồng chết thì ông Dự đã bán 2.000m2 đất được chia, chuyển về phần đất của vợ chồng bà được chia để ở và gây mâu thuẫn nên anh em mới họp mặt ngày 13/9/2007 để hòa giải. Bị đơn không đồng ý chia theo yêu cầu của nguyên đơn.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2010/DSST ngày 07/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện P. đã xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Công nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Dự theo lược đồ giải thửa ngày 23/6/2010 có kích thước ngang phía trước là 9,30m, ngang phía sau là 10,10m, chiều dài hai cạnh bằng nhau là 49,50m, diện tích 480m2 tọa lạc tại ấp Phó Đường, xã Phước Hưng, huyện P, tỉnh H. (kèm lược đồ).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá và quyền kháng cáo.

Ngày 20/9/2010 bà Phan Thị Oanh kháng cáo.

* Bản án số 18/2011/DSPT ngày 25/02/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh H. xử: Bác yêu cầu đòi quyền sử dụng nhà và đất của ông Trần Văn Dự và bà Nguyễn Thị Tình đối với bà Phan Thị Oanh.

Công nhận quyền sử dụng hợp pháp nhà và đất của bà Phan Thị Oanh tại các thửa 442, 451 tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH-850446 và AH-850451 do ông Trần Văn Đu đứng tên. Buộc ông Trần Văn Dự và bà Nguyễn Thị Tình phải di dời giao trả nhà và đất tại các thửa 442, 451 tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AH-850446 và AH-850451 do ông Trần Văn Đu đứng tên cho bà Phan Thị Oanh.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Trần Văn Dự và bà Nguyễn Thị Tình có nhiều đơn khiếu nại, nêu rõ: Anh em trong gia đình chỉ có “Tờ họp mặt gia đình” đề ngày 13/9/2007; không có “Tờ họp mặt gia đình” đề ngày 14/5/2007, ông Đu giả mạo tài liệu này nộp cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P. làm thủ tục để được cấp Giấy CNQSD.

Ngày 16/9/2011, Viện trưởng Viện KSND tỉnh H. có Công văn số 99/VKS -P5 đề nghị Viện KSND tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên vì: Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chuyển tên từ cụ Bi sang cho ông Đu đứng tên để xử bác yêu cầu của nguyên đơn, không xem xét đến các công trình xây dựng và các loại hoa màu, cây ăn trái của ông Dự bà Tình là không đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn.

Ngày 06/01/2012, Chi cục thi hành án huyện P, tỉnh H. cũng có Công Văn số 11/ĐN.THA đề nghị Viện trưởng Viện KSND tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị Bản án số 18/2011/DSPT ngày 25/02/2011 của TAND tỉnh H.

Ngày 03/02/2012 Viện trưởng VKSND tỉnh H. có Báo cáo bổ sung số 09/VKS-P5 và cung cấp các tài liệu như: Tờ họp mặt gia đình ngày 14/5/2007 (do ông Đu nộp cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P. để làm thủ tục cấp Giấy CNQSD), đơn xin giám định chữ ký của ông Dự, các tài liệu mẫu để giám định chữ ký, Quyết định trưng cầu giám định số 70/QĐ-VKS-VP ngày 20/12/2011 của VKSND tỉnh H. và Kết luận giám định số 650/GĐ-PC54 ngày 14/01/2012 của Công an tỉnh H. kết luận: không phải chữ ký của ông Trần Văn Dự trong “Tờ họp mặt gia đình” đề ngày 14/5/2007.

Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đơn khiếu nại của đương sự và Kết luận giám định số 650 nêu trên, ngày 15/5/2012, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định kháng nghị tái thẩm số 38/QĐKN-V5 đối với Bản án số 18/2011/DSPT ngày 25/02/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

Tại Quyết định tái thẩm số 06/2012/DS-TT ngày 22/6/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tái thẩm nêu trên của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hủy toàn bộ Bản án số 18/2011/DSPT ngày 25/02/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh H. và Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2010/DSST ngày 07/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện P, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh H. xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm.

*Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

.Khi giải quyết những vụ án dân sự có liên quan đến nhà đất mà Tòa án căn cứ vào việc đương sự đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để công nhận quyền sử dụng đất cho đương sự đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó đương sự khác không đồng ý, thì Tòa án yêu cầu cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cung cấp những tài liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự để xem xét, đánh giá và quyết định cho phù hợp với quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án không làm được như vậy thì khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến cần làm rõ vấn đề đó để đảm bảo việc giải quyết vụ án được thận trọng, khách quan.

Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa, khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan Nhà nước cung cấp hồ sơ, tài liệu để xem xét việc kháng nghị theo thẩm quyền.

. Theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Viện kiểm sát không trực tiếp ra quyết định trưng cầu giám định tư pháp và cũng không được áp dụng thẩm quyền trưng cầu giám định trong Tố tụng hình sự để giải quyết vụ án dân sự. Việc VKSND tỉnh H. đã căn cứ một số điều trong Bộ luật Tố tụng hình sự để ra Quyết định trưng cầu giám định số 70/QĐ-VKS-VP ngày 20/12/2011 để có kết quả giám định, báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao như đã nêu trên là chưa đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thái Hưng

vksndtc.gov.vn