NHỮNG VƯỚNG MẮC CƠ BẢN CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU TRONG DỰ THẢO LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN (SỬA ĐỔI) 

Về vai trò của Ủy ban kiểm sát; việc tổ chức Uỷ ban kiểm sát ở các cấp Viện kiểm sát

Theo Điều 138 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật TCVKSND năm 2002, Ủy ban kiểm sát VKSND là một thiết chế nằm trong cơ cấu tổ chức bộ máy của VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh, có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của VKSND. Thực tiễn cho thấy, việc thành lập UBKS và vai trò quyết định của UBKS nêu trên đã góp phần tăng cường tính dân chủ trong hoạt động của VKSND, đồng thời phát huy trí tuệ tập thể, khắc phục được mặt hạn chế của nguyên tắc “Tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành”. Tuy nhiên, việc quy định Ủy ban kiểm sát có quyền thảo luận và quyết định đối với việc giải quyết những vụ án, vụ việc về hình sự, dân sự, hành chính là không phù hợp với quy định của pháp luật về tố tụng (theo pháp luật tố tụng, vấn đề này thuộc thẩm quyền quyết định của cá nhân Viện trưởng hoặc kiểm sát viên – với tư cách là người tiến hành tố tụng).

Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp sửa đổi năm 2013, theo đó chế định Ủy ban kiểm sát VKSND đã không còn được quy định trong Hiến pháp mà được giao cho Luật quy định. Do đó, Luật TCVKSND (sửa đổi) cần nghiên cứu sửa đổi quy định về địa vị pháp lý của UBKS, nhất là quy định về tổ chức và thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát VKSND

Qua thảo luận về vấn đề này, có 02 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng vì Hiến pháp năm 2013 không tiếp tục quy định về Ủy ban kiểm sát; do vậy, không nên duy trì cơ chế tập thể quyết định. Cần quán triệt nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành với vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Viện trưởng. Chỉ nên xác định vai trò của Ủy ban kiểm sát là “cơ quan” cho ý kiến về một số vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của VKSND, những vấn đề này được quy định cụ thể trong Luật. Việc lấy ý kiến của Ủy ban kiểm sát là một thủ tục bắt buộc trước khi Viện trưởng quyết định về vấn đề đó.

Với vai trò này, Ủy ban kiểm sát nên được tổ chức ở 3 cấp là VKSND tối cao, VKSND cấp cao và VKSND cấp tỉnh. Đối với VKSND khu vực/cấp huyện, do số lượng cán bộ không nhiều, về tính chất nhiệm vụ thì Viện trưởng có thể quyết định ngay, những khó khăn, vướng mắc trong công tác nghiệp vụ đã có các phòng nghiệp vụ thuộc VKSND cấp tỉnh hướng dẫn, chỉ đạo nên không cần thiết phải thành lập UBKS.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị cần tiếp tục quy định vai trò của Ủy ban kiểm sát như Luật tổ chức VKSND năm 2002, vì đây là sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước theo quy định của Hiến pháp với nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành (nguyên tắc đặc thù của VKSND). Riêng đối với vấn đề giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, hành chính quan trọng thì không nên giao cho Ủy ban kiểm sát quyết định để bảo đảm phù hợp với quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của Viện trưởng VKSND trong pháp luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính hiện hành.

Với vai trò này, chỉ nên tổ chức Ủy ban kiểm sát ở VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh như hiện nay, vì xuất phát từ nhiệm vụ của Uỷ ban kiểm sát là quyết định những vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của VKSND nên cần tổ chức Ủy ban kiểm sát ở những cấp kiểm sát có hoạt động nghiệp vụ toàn diện, có vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành Viện kiểm sát cấp dưới về mọi mặt, có quan hệ chặt chẽ với tổ chức Đảng và chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp trước các cơ quan dân cử. Trong hệ thống 4 cấp Viện kiểm sát theo chủ trương cải cách tư pháp, chỉ có VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh có đầy đủ các điều kiện này. VKSND cấp tỉnh bên cạnh việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư, quyết định của VKSND tối cao, còn phải thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Về vấn đề này,chúng tôi cho rằng, Dự thảo Luật cần quy định vai trò của Ủy ban kiểm sát như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, theo đó, Ủy ban kiểm sát không có vai trò quyết định, nhưng có trách nhiệm phải thảo luận về phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát, các dự thảo báo cáo của Viện trưởng trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các dự án luật, dự án pháp lệnh và các vấn đề quan trọng khác mà Viện trưởng thấy cần thiết. Trong các cuộc họp của Ủy ban kiểm sát, Viện trưởng kết luận và Quyết định cuối cùng. Trong trường hợp Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Ủy ban kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện quyết định của mình, đồng thời báo lên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc đưa ra Ủy ban kiểm sát để thảo luận về những vấn đề quan trọng nêu trên là một thủ tục bắt buộc trước khi Viện trưởng quyết định về các vấn đề đó, nhưng quyền quyết định là quyền của Viện trưởng.

Cơ sở của đề nghị này xuất phát từ các lý do sau đây:

Thứ nhất, trong lịch sử xây dựng và phát triển ngành Kiểm sát nhân dân, vai trò của Ủy ban kiểm sát qua từng thời kỳ được quy định khác nhau. Trước năm 1992, chế định Ủy ban kiểm sát không được quy định trong Hiến pháp. Đến Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2001) đã quy định Ủy ban kiểm sát thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của VKSND, quy định này đã được cụ thể hóa tại các điều 32 và 34 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Đến nay, Hiến pháp sửa đổi năm 20123 đã không còn quy định về chế định Ủy ban kiểm sát như Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), mà chỉ khẳng định nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành với vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Do đó, để bảo đảm quán triệt nguyên tắc này, không nên quy định Ủy ban kiểm sát có vai trò quyết định các vấn đề quan trọng của trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

Thứ hai, hiện nay, theo quy định của các luật về tố tụng tư pháp thì chỉ có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên mới là chủ thể có các thẩm quyền tố tụng, Ủy ban kiểm sát không phải là chủ thể tố tụng, do đó, không thể có vai trò quyết định đối với việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính. Tuy nhiên, việc thảo luận về các vụ án hình sự, dân sự, hành chính phức tạp để giúp Viện trưởng đưa ra quyết định đúng đắn là một nội dung hoạt động rất quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, cần phải được giao cho Ủy ban kiểm sát thực hiện và phải coi đây là một thủ tục bắt buộc trước khi Viện trưởng quyết định.

Với vai trò nêu trên, Ủy ban kiểm sát nên được tổ chức ở 3 cấp Viện kiểm sát là VKSND tối cao, VKSND cấp cao và VKSND cấp tỉnh.

Về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên

Hiện nay, theo quy định của Luật TCVKSND năm 2002 và Pháp lệnh KSV VKSND năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011), có 02 loại Hội đồng tuyển chọn KSV VKSND, đó là (1) Hội đồng tuyển chọn KSV VKSND tối cao; và (2) Hội đồng tuyển chọn KSV trung cấp, KSV sơ cấp. Thành phần Hội đồng tuyển chọn KSV, ngoài Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, còn có các thành viên khác là đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan. Thực tiễn cho thấy, quy định về Hội đồng tuyển chọn KSV VKSND đã phát huy hiệu quả tích cực, tăng cường tính khách quan, dân chủ trong công tác tuyển chọn, bổ nhiệm KSV, góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên của VKS, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong thời gian qua. Tuy nhiên, quy định này cũng bộc lộ một số hạn chế như: chưa phát huy vai trò chủ động của VKS trong việc tuyển chọn, bổ nhiệm KSV; việc tuyển chọn KSV có lúc, có nơi còn mang tính hình thức; mặt khác, vừa qua Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương nghiên cứu áp dụng chế độ thi tuyển đối với các chức danh tư pháp, trong dó có chức danh Kiểm sát viên VKSND. Do đó, Luật TCVKSND (sửa đổi) cần sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên VKSND.

Qua thảo luận về việc đổi mới cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn, nổi lên 03 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đề nghị chỉ quy định Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên VKSND tối cao, các ngạch Kiểm sát viên khác thực hiện theo hình thức thi tuyển vào ngạch. Việc thi tuyển sẽ bảo đảm tính khách quan, công bằng trong tuyển chọn Kiểm sát viên. Đồng thời cũng phù hợp với xu thế tuyển chọn công chức hiện nay và phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 49-NQ/TW “nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp”.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị giữ nguyên quy định về Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên đa thành phần như hiện nay nhằm bảo đảm tính dân chủ, khách quan và sự giám sát đối với công tác cán bộ của ngành Kiểm sát. Những khó khăn, bất cập trong việc tổ chức Hội đồng tuyển chọn thời gian qua chủ yếu là do công tác tổ chức thực hiện, không ảnh hưởng đến chất lượng Kiểm sát viên được tuyển chọn. Cần nghiên cứu đổi mới các quy định có liên quan như nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên, quy định về miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên để nâng cao chất lượng Kiểm sát viên, tránh việc phải tổ chức Hội đồng nhiều lần thì sẽ khắc phục được những khó khăn trong thực tiễn nêu trên.

Loại ý kiến thứ ba đề nghị trong trường hợp vẫn tiếp tục quy định Ủy ban kiểm sát có thẩm quyền quyết định một số vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của VKSND thì nên quy định Hội đồng tuyển chọn đa thành phần như hiện nay đối với Kiểm sát viên VKSND tối cao; các ngạch Kiểm sát viên khác sẽ do Ủy ban kiểm sát tuyển chọn. Phương án này bảo đảm được sự chính xác, hiệu quả của công tác tuyển chọn do Ủy ban kiểm sát nắm rõ về năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức của Kiểm sát viên. Đồng thời, tránh được những bất cập và hình thức của Hội đồng tuyển chọn hiện nay.

Dự thảo Luật đã thể hiện quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai thành 02 phương án tại các điều, từ Điều 72 đến Điều 76.

Về vấn đề này, chúng tôi tán thành với loại ý kiến thứ nhất, theo đó chỉ quy định Hội đồng tuyển chọn đối với Kiểm sát viên VKSND tối cao, các ngạch Kiểm sát viên khác thực hiện hình thức thi tuyển vào các ngạch. Việc thi tuyển sẽ bảo đảm tính khách quan, công bằng trong tuyển chọn Kiểm sát viên. Đồng thời cũng phù hợp với xu thế tuyển chọn công chức hiện nay và phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 49-NQ/TW “nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp”. Tuy nhiên, cần quy định rõ trách nhiệm của Hội đồng thi tuyển Kiểm sát viên theo hướng, Hội đồng thi tuyển có trách nhiệm tuyển chọn người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để dự kỳ thi tuyển để bổ nhiệm làm Kiểm sát viên; tổ chức thực hiện việc thi tuyển, xác định kết quả thi tuyển và đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Kiểm sát viên; đồng thời, Luật cần giao nhiệm vụ cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết vấn đề này.

3. Về ngạch Kiểm sát viên

Luật TCVKSND và Pháp lệnh KSVVKSND hiện hành quy định có 03 ngạch Kiểm sát viên, gồm: Kiểm sát viên VKSND tối cao, KSV trung cấp và KSV sơ cấp. Mặc dù pháp luật quy định Kiểm sát viên là chức danh tư pháp, nhưng cách phân chia ngạch, bậc và các chính sách, chế độ áp dụng đối với các ngạch, bậc KSV VKSND về cơ bản vẫn tương đương với các công chức hành chính khác (tương đương với chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính và chuyên viên), như vậy là chưa phù hợp với địa vị pháp lý đặc thù của KSV. Mặt khác, trong thời gian tới, nếu tổ chức hệ thống VKSND thành 4 cấp, tương ứng với tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử thì việc quy định 03 ngạch KSV sẽ không phù hợp; do đó, cần sửa đổi quy định về ngạch KSV VKSND.

Qua thảo luận vấn đề này, có 02 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đề nghị tổ chức 04 ngạch Kiểm sát viên, gồm có: Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp. Đây cũng là phương án đã được đưa ra khi xây dựng Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND vào năm 2011 nhưng chưa thực hiện được vì vướng quy định của Hiến pháp. Tại thời điểm đó, việc sửa đổi các ngạch Kiểm sát viên thành Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên VKSND tối cao cũng là bước chuẩn bị cho việc bổ sung ngạch Kiểm sát viên cao cấp khi VKSND được tổ chức thành 4 cấp.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị chỉ quy định 02 ngạch Kiểm sát viên là Kiểm sát viên VKSNDTC và Kiểm sát viên. Ngạch Kiểm sát viên VKSNDTC có 3 bậc, ngạch Kiểm sát viên có thể có từ 12 - 15 bậc. Quan điểm này được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Dự thảo Luật đã thể hiện thành 02 phương án tại Điều 62 của Dự thảo Luật.

Về vấn đề này, chúng tôi nhất trí với loại ý kiến thứ nhất và Phương án 1 tại Điều 62 Dự thảo Luật; theo đó quy định có 4 ngạch Kiểm sát viên, gồm “Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp”. Quy định này về cơ bản vẫn kế thừa pháp luật hiện hành, chỉ bổ sung ngạch Kiểm sát viên cao cấp để phù hợp với việc tổ chức VKSND thành 04 cấp theo yêu cầu cải cách tư pháp. Tuy nhiên, số lượng Kiểm sát viên VKSND tối cao sẽ giảm cơ bản so với hiện nay (hiện có 170 KSV VKSNDTC), chỉ gồm các Lãnh đạo VKSNDTC và một số chuyên gia đầu ngành, có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp chuyên sâu về các lĩnh vực công tác cơ bản của Ngành; có uy tín và phải được Chủ tịch Nước bổ nhiệm. Như vậy, các Kiểm sát viên VKSND tối cao đã được bổ nhiệm trước khi Luật TCVKSND (sửa đổi) có hiệu lực thi hành, nếu không tiếp tục được bổ nhiệm và phê chuẩn là KSV VKSND tối cao thì sẽ được chuyển sang ngạch KSV cao cấp. Việc giảm bớt số lượng KSV VKSND tối cao cũng thể hiện rõ tính chất đặc biệt, đề cao vai trò của ngạch chức danh tư pháp này trong VKSND; mặt khác, cũng phù hợp với pháp luật của nhiều nước trên thế giới.

Giả sử nếu chọn Phương án 2 thì sẽ tạo một sự thay đổi rất lớn, có thể không bảo đảm tương thích với các ngạch chức danh tư pháp khác như Thẩm phán, Điều tra viên, Chấp hành viên; hơn nữa, việc bố trí, sắp xếp các bậc Kiểm sát viên ở các cấp VKS cần có sự nghiên cứu, tính toán để bảo đảm phân biệt được vị trí công tác của các bậc KSV trong một cấp VKS.

4. Về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên

Điều 44 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định “Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên là năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm”. Tuy nhiên, qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, cho thấy quy định này còn tồn tại những bất cập sau đây: Thứ nhất, chức danh Kiểm sát viên là chức danh nghề nghiệp, thể hiện lĩnh vực công tác thuộc về chuyên môn, nên việc quy định nhiệm kỳ là không phù hợp. Thứ hai, khi gần đến thời hạn bổ nhiệm lại, các Kiểm sát viên thường mang nặng tâm lý né tránh, ngại va chạm, ảnh hưởng đến tinh thần đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Thứ ba, thực tế cho thấy thủ tục bổ nhiệm lại mang nặng tính hình thức, lãng phí về thời gian và tiền bạc trong khi đa số kiểm sát viên đều được bổ nhiệm lại, số lượng kiểm sát viên không được bổ nhiệm lại là rất ít. Thứ tư, thủ tục bổ nhiệm lại thường không kịp thời dẫn đến có một khoảng thời gian sau khi nhiệm kỳ đã kết thúc mà chưa kịp tiến hành bổ nhiệm lại thì kiểm sát viên không được tiến hành thủ tục tố tụng, làm chậm tiến độ công việc chung. Mặt khác, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã có chủ trương “tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”. Do đó, cần sửa đổi quy định về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên.

Qua thảo luận về vấn đề này, có 02 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đề nghịkhông quy định nhiệm kỳ của Kiểm sát viên vì chức danh Kiểm sát viên là chức danh nghề nghiệp, thể hiện lĩnh vực công tác thuộc về chuyên môn, không phải chức vụ quản lý. Nếu Kiểm sát viên có vi phạm thì đã có các quy định về miễn nhiệm, cách chức kiểm sát viên trong từng trường hợp cụ thể. Việc không quy định nhiệm kỳ phù hợp với cả 02 phương án thi tuyển hoặc Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên

Loại ý kiến thứ hai đề nghị quy định Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm, nếu được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì không xác định thời hạn. Quy định như vậy, một mặt góp phần hạn chế những bất cập của việc tổ chức Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên, mặt khác vẫn bảo đảm có cơ chế đánh giá cán bộ thận trọng, hiệu quả, tạo động lực để Kiểm sát viên tích cực nâng cao ý thức rèn luyện và trách nhiệm trong công tác. Tuy nhiên, việc quy định nhiệm kỳ như trên chỉ phù hợp với phương án tuyển chọn Kiểm sát viên thông qua Hội đồng như hiện nay, không phù hợp với phương án thi tuyển.

Dự thảo Luật đã thể hiện thành 02 phương án tại Khoản 2 Điều 61.

Về vấn đề này, chúng tôi nhất trí với loại ý kiến thứ nhất, theo đó đề nghị không quy định nhiệm kỳ của Kiểm sát viên vì chức danh Kiểm sát viên là chức danh nghề nghiệp, thể hiện lĩnh vực công tác thuộc về chuyên môn, không phải chức vụ quản lý. Nếu Kiểm sát viên có vi phạm thì đã có các quy định về miễn nhiệm, cách chức kiểm sát viên trong từng trường hợp cụ thể. Tham khảo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, hầu hết các nước cũng không quy định nhiệm kỳ của kiểm sát viên/công tố viên. Nếu theo phương án này thì Dự thảo Luật sẽ không có nội dung quy định về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên.

5. Về nhiệm vụ của Kiểm sát viên

Hiện nay, theo quy định của Luật TCVKSND năm 2002 và Pháp lệnh KSV VKSND năm 2002 (sửa đổi năm 2011) thì Kiểm sát viên được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Như vậy, những người công tác trong ngành Kiểm sát được bố trí thực hiện nhiệm vụ công tác khác, không trực tiếp thực hiện công tác nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp thì cho dù có đủ các điều kiện để được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cũng không được đưa vào diện được tuyển chọn, bổ nhiệm. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng trong việc bổ nhiệm chức danh tư pháp; mặt khác, không tạo thuận lợi cho công tác điều động, luân chuyển cán bộ trong Ngành, bởi vì, người đã được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên thì không muốn chuyển đến công tác tại các đơn vị khác không phải là đơn vị nghiệp vụ; ngược lại, người có khả năng thực hiện công tác nghiệp vụ lại không thể điều động, luân chuyển đến các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp vì chưa được bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương đổi mới, đó là: nghiên cứu mở rộng nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, trong đó có chức danh Kiểm sát viên VKSND. Do đó, Luật TCVKSND (sửa đổi) cần sửa đổi, bổ sung quy định về nhiệm vụ của Kiểm sát viên VKSND.

Qua thảo luận, có 2 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đề nghị cần mở rộng phạm vi nhiệm vụ của Kiểm sát viên, không chỉ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp mà còn thực hiện các nhiệm vụ khác, để tạo nguồn Kiểm sát viên phục vụ tốt cho công tác luân chuyển cán bộ của Ngành.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị tiếp tục giữ nguyên quy định về nhiệm vụ của Kiểm sát viên như pháp luật hiện hành, vì Kiểm sát viên là chức danh pháp lý đặc thù của ngành Kiểm sát nhân dân, chỉ làm các công tác thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Các công tác khác có thể giao cho các chức danh khác thực hiện.

Dự thảo Luật thiết kế theo loại ý kiến thứ nhất và đã thể hiện tại Khoản 1 Điều 61.

Về vấn đề này, chúng tôi nhất trí với ý kiến cho rằng, Kiểm sát viên được bổ nhiệm không phụ thuộc vào vị trí công tác, có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Viện trưởng VKSND cấp mình. Quy định này một mặt sẽ tháo gỡ được khó khăn, vướng mắc của pháp luật và thực tiễn công tác cán bộ của ngành Kiểm sát, tạo sự bình đẳng và thuận lợi cho công tác điều động, luân chuyển cán bộ của VKS; mặt khác, bảo đảm quán triệt nghiêm túc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu của việc xây dựng dự án Luật, thể chế hóa được chủ trương của Đảng về đổi mới các chức danh tư pháp, trong đó có chức danh Kiểm sát viên VKSND.

6. Về thẩm quyền điều tra của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định khi thực hành quyền công tốtrong giai đoạn điều tra,VKSNDcó quyền “trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật”. Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì Viện kiểm sát chỉ được tiến hành một số hoạt động điều tra khi vụ án đã được chuyển sang Viện kiểm sát để truy tố mà Viện kiểm sát thấy cần có thêm hoặc củng cố chứng cứ để quyết định việc truy tố. Trên thực tế, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, có những vụ án VKSND yêu cầu khởi tố, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, nhưng cơ quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của Viện kiểm sát thì pháp luật lại không có quy định để xử lý trách nhiệm cũng như các hoạt động tiếp theo đối với vụ án. Chính vì vậy, VKSND rất khó khăn trong việc bảo đảm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm “không để lọt tội phạm và người phạm tội”; tính quyền lực trong việc thực hiện các quyền của VKSND còn chưa đáp ứng yêu cầu chế ước, và đặc biệt, còn chưa đáp ứng yêu cầu “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đã được xác định tại Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

các quốc gia theo truyền thống luật Châu Âu lục địa, áp dụng mô hình tố tụng hình sự thiên về thẩm vấn (giống như nước ta) đều giao cho Viện kiểm sát/Viện Công tố trách nhiệm rất quan trọng trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, có quyền chỉ đạo, giám sát hoạt động điều tra của cảnh sát, có quyền trực tiếp điều tra tội phạm và chỉ huy cảnh sát để hỗ trợ mình tiến hành điều tra nếu cần thiết. Ở các quốc gia theo truyền thống luật án lệ, áp dụng mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, Viện Công tố thường chỉ giữ vai trò tư vấn cho cảnh sát trong hoạt động điều tra.

Qua thảo luận về vấn đề này, có 2 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhấtcho rằng để bảo đảm hiệu quả thực hiện chức năng công tố, nhất thiết phải tăng cường thẩm quyền điều tra của VKSND. Căn cứ các điều kiện cụ thể của nước ta, có thể quy định thẩm quyền điều tra của VKSND trong một số trường hợp sau:

- Tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật, khi xét thấy cần thiết;

- Viện kiểm sát đã yêu cầu điều tra nhưng yêu cầu đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ;

- Vụ án mà Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng xét thấy không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Vụ án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình điều tra.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị giữ nguyên quy định về thẩm quyền điều tra của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra như pháp luật hiện hành là phù hợp cả về phạm vi thẩm quyền và khả năng thực hiện việc điều tra của Viện kiểm sát.

Dự thảo Luật thiết kế theo loại ý kiến thứ nhất và đã thể hiện tại Điều 29.

Về vấn đề này, chúng tôi tán thành với loại ý kiến thứ nhất và quy định tại Điều 29 Dự thảo Luật. Quy định này sẽ bảo đảm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm không để lọt tội phạm và người phạm tội; bảo đảm thực hiện đúng chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị là “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”; đồng thời khắc phục được những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các quyền năng pháp lý của VKSND khi THQCT và KSĐT.

7. Về thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSND

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật TCVKSND năm 2002, Điều 110 BLTTHS năm 2003 và Điều 18 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006 và năm 2009), Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ được thành lập ở VKSND tối cao, có thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Thực tế cho thấy, quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao như vậy là chưa phù hợp, chưa tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm cho Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát thực sự là công cụ đắc lực phục vụ hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, đồng thời là công cụ đắc lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về Cơ quan điều tra của VKSND trong Luật TCVKSND (sửa đổi).

Qua thảo luận về vấn đề này, có 03 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nhưng không giới hạn về chủ thể thực hiện tội phạm, nhằm bảo đảm phù hợp với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Khi kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND không chỉ kiểm sát đối với các cơ quan, người có thẩm quyền mà còn kiểm sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời, giao cho Cơ quan điều tra VKSND điều tra các vụ án khác do Viện trưởng VKSND tối cao phân công. Đây là những vụ án thuộc thẩm điều tra của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (được quy định tại Điều 29 Dự thảo Luật), nhưng Viện trưởng VKSND tối cao thấy cần thiết giao cho Cơ quan điều tra VKSND thực hiện mới bảo đảm hiệu quả điều tra.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị pháp điển hóa quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tại Điều 4 Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra VKSND tối cao được ban hành kèm theo Quyết định số 1169/2010/VKSTC-C6 ngày 19/8/2010 của Viện trưởng VKSND tối cao. Đồng thời bổ sung thẩm quyền điều tra các vụ án khác do Viện trưởng VKSND tối cao phân côngnhư đã trình bày ở trên.

Loại ý kiến thứ ba đề nghị, nội dung về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân nên để quy định trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra, không quy định trong Luật TCVKSND.

Dự thảo Luật thiết kế the loại ý kiến thứ nhất và đã thể hiện tại Điều 30.

Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND trong Luật TCVKSND (sửa đổi) là cần thiết, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các quy định về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong các đạo luật có liên quan; tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho Cơ quan điều tra của VKSND thực sự phát huy được sức mạnh, là công cụ phục vụ hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát và là công cụ đắc lực phục vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Chúng tôi tán thành với Loại ý kiến thứ nhất và quy định tại Điều 30 Dự thảo Luật. quy định này vừa bảo đảm kế thừa các quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã được ghi nhận trong pháp luật hiện hành và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn; khắc phục được cơ bản những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp và tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực hoạt động tư pháp; đồng thời, bảo đảm phù hợp với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, bởi vì, VKSND không chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp mà còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cả những người tham gia tố tụng và những chủ thể có liên quan. Qua kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát có điều kiện thuận lợi hơn tất cả các cơ quan khác trong việc phát hiện tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp và các tội phạm khác liên quan đến hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp và tất cả các chủ thể có liên quan.

Tham khảo kinh nghiệm thế giới về vấn đề này cho thấy, các nước đều quy định có nhiều cơ quan điều tra để tránh sự “độc quyền” và ở nhiều nước, cơ quan công tố/kiểm sát có thẩm quyền điều tra và tổ chức cơ quan điều tra để tiến hành điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền (ví dụ: Trung Quốc, Nhật Bản…).

8. Về thẩm quyền quyết định biên chế; số lượng, cơ cấu kiểm sát viên, điều tra viên, viên chức và nhân viên của VKSND

Theo quy định tại Điều 47 Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định tổng biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên của VKSND theo đề nghị của Viện trưởng VKSNDTC. Viện trưởng VKSNDTC quyết định biên chế của Viện kiểm sát các địa phương và các đơn vị trực thuộc VKSNDTC.

Qua các cuộc hội thảo bàn về dự thảo Luật, VKSND tối cao nhận được ý kiến góp ý rằng: cần đổi mới nhận thức về vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội, không nên xem Ủy ban thường vụ Quốc hội như là cấp trên của VKSND tối cao để quyết định những vấn đề mang tính chất hành chính, không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội. Viện trưởng VKSND tối cao là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Quốc hội về toàn bộ hoạt động của ngành Kiểm sát, nên mở rộng thẩm quyền quyết định cho Viện trưởng VKSND tối cao đối với vấn đề số lượng, cơ cấu cán bộ của VKSND các cấp trong toàn ngành KSND…và trình Quốc hội phê chuẩn trên cơ sở ngân sách do Quốc hội quyết định.

Qua thảo luận về vấn đề này, có 02 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ quy định tổng biên chế của Viện kiểm sát nhân dân số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng VKSNDTC quyết định biên chế; số lượng và cơ cấu kiểm sát viên, điều tra viên của các đơn vị trực thuộc VKSNDTC và các Viện kiểm sát cấp dưới, quyết định số lượng, cơ cấu viên chức và nhân viên của VKSND.

Loại ý kiến thứ hai đề nghịquy định Ủy ban thường vụ Quốc hộichỉ quyết định số lượng Kiểm sát viên VKSNDTC. Viện trưởng VKSNDTC sẽ quyết định tổng biên chế; số lượng và cơ cấu kiểm sát viên, điều tra viên,viên chức và nhân viên của VKSND trên cơ sở ngân sách do Quốc hội quyết định.

Dự thảo Luật đã thể hiện thành 02 phương án tại Điều 102.

Về vấn đề này, chúng tôi tán thành với phương án 1 của Điều 102 Dự thảo Luật và đồng ý với các lập luận như loại ý kiến thứ nhất đã nêu./.

TS. Lê Hữu Thể,

Phó Viện trưởng VKSNDTC

vksndtc.gov.vn