Một số nhóm sai phạm, thiếu sót thường xảy ra trong lĩnh vực THADS 

Qua kiểm tra về công tác THADS tại các cơ quan THADS địa phương, phát hiện các sai phạm, thiếu sót chủ yếu theo quy định của Luật THADS năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành trong những vấn đề sau:

Vấn đề thứ nhất, về quá trình thụ lý thi hành án:

Luật THADS 2008 không có khái niệm “thụ lý thi hành án”, tuy nhiên, quá trình thụ lý thi hành án có thể được hiểu bao gồm việc từ việc nhận, xử lý theo quy định đối với bản án, quyết định của toà án và các tài liệu kèm theo từ toà án và đơn yêu cầu thi hành án từ người được thi hành án (những nội dung này được quy định tại Điều 27 đến 35 Luật THADS 2008). Đây là khâu đầu tiên trong nghiệp vụ thi hành án và là cơ sở phát sinh trách nhiệm thi hành án theo quy định của pháp luật đối với cơ quan thi hành án, nếu làm tốt khâu này sẽ là tiền đề cho việc hoàn thành tốt các bước tiếp theo. Những sai phạm, thiếu sót thường gặp trong quá trình thường gặp ở khâu này như sau:

- Việc chuyển giao bản án, quyết định của toà án cho cơ quan thi hành án thường bị chậm, không thường xuyên. Trách nhiệm chính thuộc toà án, nhưng cơ quan thi hành án cũng thể hiện việc chưa phối hợp chặt chẽ, không đôn đốc thường xuyên để các vụ việc dồn lại vào từng thời điểm, ảnh hưởng việc tổ chức nhân lực, hoàn thành nhiệm vụ.

- Sau khi nhận bản sao bản án, quyết định của toà án hoặc đơn yêu cầu thi hành án, một số trường hợp cơ quan thi hành án không kịp thời vào sổ nhận bản án, quyết định, sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn dẫn đến tình trạng khó xác định được thời gian ra quyết định thi hành án.

 - Khi giao nhận bản án, quyết định của toà án không đồng thời với việc bàn giao các tài liệu khác (các quyết định, biên bản kê biên, tạm giữ tang vật, tài sản, tài liệu khác có liên quan) hoặc tang vật, tài sản của vụ án, ảnh hưởng đến thời gian ra quyết định thi hành án.

- Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, một số vụ việc cơ quan thi hành án không yêu cầu người yêu cầu thi hành án nộp bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và các tài liệu cần thiết khác có liên quan kèm theo.

- Cá biệt, trước đây, còn có những trường hợp, Chấp hành viên đã nhận đầy đủ bản án, quyết định của toà án, đơn yêu cầu thi hành án nhưng không vào nhận bản án, quyết định, sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án, không tiến hành tác nghiệp và xếp hồ sơ vào trong tủ.

Vấn đề thứ hai: về ra quyết định thi hành án

Quyết định thi hành án là văn bản do cơ quan thi hành án có thẩm quyền ban hành xác định quyền, nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án và những người liên quan trong một vụ việc cụ thể. Vì vậy quyết định thi hành án là văn bản không thể thiếu trong hồ sơ thi hành án. Nội dung của quyết định phải thể hiện được toàn bộ nghĩa vụ của người phải thi hành, đồng thời cũng là quyền của người được thi hành và trách nhiệm của cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên. Hình thức của quyết định thi hành án phải đúng theo qui định. Việc ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng đối với thi hành một vụ việc cụ thể, cho nên quyết định thi hành án phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác, kịp thời. Cơ quan thi hành án thường có những sai phạm, thiếu sót sau:

Một là, ra quyết định chậm hơn so với quy định: theo quy định tại Điều 36 Luật THADS 2008 thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án, Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định thi hành án. Điều 36 Luật THADS 2008 còn quy định: “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành”. Tuy nhiên trên thực tế, thời hạn này vẫn còn chưa được tuân thủ ở một số cơ quan thi hành án đối với một số hoặc nhiều vụ việc.

Hai là, quyết định thi hành án quá vắn tắt, sơ sài như, cẩu thả: "Cho thi hành khoản tiền phạt+ án phí", "Xử lý tang vật", "Xem bản án", hay “như án tuyên”, sai tên họ, sai tên công ty , địa chỉ...

Ba là, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án không đúng quy định tại Điều 5 của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, nay là Nghị định 125/NĐ 2013/NĐ-CP  mà một số nội dung đã được hướng dẫn tại Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ THADS (sau đây gọi tắt là Công văn số 404/TP-THA), những sai phạm, thiếu sót đó cụ thể là:

Quyết định thi hành án bao gồm cả phần chủ động thi hành và phần thi hành theo yêu cầu;

Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra nhiều quyết định thi hành án cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra một quyết định thi hành án chung cho nhiều người được thi hành án đối với các khoản trả lại tài sản, hoàn trả tiền tạm ứng án phí (thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án).

Ra quá nhiều quyết định thi hành án đối với một vụ việc làm mất tính chất liên đới chịu trách nhiệm thi hành của những người phải thi hành án vì lý do: để số lượng vụ việc nhiều, với mục đích chạy theo thành tích thi đua.

Bốn là, bỏ sót một số khoản không ra quyết định thi hành, chủ yếu đối với các khoản chủ động  thi hành thu tiền, tài sản cho nhà nước,

Bản án tuyên 01 người phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, phải sung công một khoản tiền (bao gồm cả lãi suất), đồng thời Bản án cũng tuyên 01 người khác phải nộp án phí, nhưng khoản án phí của người thứ hai cũng không được đưa vào thi hành;

Bản án tuyên một người phải nộp án phí, tiền phạt (bao gồm cả lãi suất) và tịch thu sung công 02 máy điện thoại di động, tiêu hủy 0,316 chế phẩm Heroin là những khoản phải chủ động ra quyết định thi hành nhưng lại không được đưa vào quyết định thi hành án.

Ra quyết định thi hành án sai lệch số liệu, nội dung bản án, quyết định của toà án;

Vấn đề thứ ba: về thông báo về thi hành án

Việc thông báo về thi hành án đã được quy định tại từ Điều 39 tới Điều 43 Luật THADS 2008, một số thiếu sót, sai phạm thường gặp là:

Khi gửi  thông báo về thi hành án cho người nhận thay, cơ quan thi hành án không lập biên bản xác định rõ trách nhiệm của người nhận thay trong việc chuyển thông báo cho người được nhận thông báo, không xác định thời điểm đưa thông báo cho người nhận thay.

Trong trường hợp vì lý do khách quan mà người đã cam kết nhận thay thông báo không chuyển được thông báo cho người được nhận thông báo nhưng cơ quan thi hành án đã bỏ mặc, không thực hiện việc thông báo bằng hình thức niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại  Điều 42 Luật Thi hành án dân sự 2008.

Khi tiến hành niêm yết công khai, Chấp hành viên đã không ấn định thời gian nhất định (kể từ ngày niêm yết) để người được thông báo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ.

Khi xác định người được thông báo không ở tại địa phương nhưng cơ quan thi hành án chỉ thông báo trên đài báo địa phương mà không thông báo trên Đài, Báo trung ương nên người phải thi hành án không nhận được thông báo.

Vấn đề thứ tư: về xác minh điều kiện thi hành án

 Về nội dung này, qua kiểm sát phát hiện có một số thiếu sót, sai phạm thường gặp sau đây:

 Một là, Chấp hành viên còn chậm thực hiện hoặc chưa đảm bảo thời hạn xác minh, đặc biệt là đối với các trường hợp thuộc diện chủ động thi hành án. Cụ thể:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 44 của Luật THADS 2008: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay”. Tuy nhiên, thực tế, có một số trường hợp kể từ ngày ra quyết định đến ngày Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án là từ 04 đến 07 tháng, cá biệt có trường hợp sau hàng năm, Chấp hành viên mới tiến hành xác minh điều kiện thi hành án.

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 6, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP cũng quy định: “Đối với việc thi hành án thuộc diện chủ động thi hành án mà người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án thì ít nhất 6 tháng một lần Chấp hành viên phải thực hiện xác minh điều kiện thi hành án của đương sự. Trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án mà đang chấp hành hình phạt tù hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới thì thời hạn xác minh giữa các lần không được quá một năm”. Thực tế có trường hợp biên bản xác minh thể hiện người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án vì lý do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng sau 8-9 tháng Chấp hành viên mới tiến hành xác minh lại; có trường hợp Chấp hành viên xác minh lần cuối và được biết gia đình đương sự đã bán nhà chuyển đi đâu không rõ sau đó Chấp hành viên không tiến hành xác minh lại; cá biệt có trường hợp qua xác minh thể hiện người phải thi hành án không có tài sản, vẫn tại địa chỉ theo bản án nhưng sau hàng năm Chấp hành viên mới tiếp tục xác minh lại.

Hai là, nội dung xác minh của Chấp hành viên còn chung chung chưa rõ ràng, chưa phản ánh được điều kiện thi hành án của đương sự và xác minh chưa đầy đủ điều kiện của những người phải thi hành án trong cùng một quyết định.

Việc xác minh chung chung, mang tính hình thức: Biên bản xác minh chỉ ghi “đương sự có mặt tại nhà” nhưng không xác minh rõ đương sự có tài sản không, có nghề nghiệp không v.v; hoặc biên bản xác minh chỉ ghi: “đương sự cư trú tại địa phương, nghề nghiệp nội trợ mà không phản ánh điều kiện kinh tế của đương sự”;

Hồ sơ có nhiều người phải thi hành án nhưng Chấp hành viên chưa tiến hành xác minh điều kiện của tất cả những người phải thi hành án, đặc biệt là đối với án thuộc diện chủ động thi hành, ví dụ: có những hồ sơ có 03 người phải thi hành án nhưng Chấp hành viên chỉ xác minh 01 hoặc 02 trong số 03 người phải thi hành án đó.

Ba là, khi xác minh trực tiếp, Chấp hành viên không xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, điều kiện kinh tế mà chỉ căn cứ vào nội dung trình bày của đương sự hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, không thông qua các cơ quan có chức năng đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, đăng ký giao dịch bảo đảm để xác minh đối với tài sản phải đăng ký ở cơ quan các cơ quan nêu trên. Trong trường hợp mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng và các bên mua, bán đã không thực hiện quy định này nhưng Chấp hành viên không xác minh, không căn cứ vào hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc tặng cho, không thông qua chủ sở hữu, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng hoặc người làm chứng, như: xác nhận của người bán, của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng về việc mua bán...do đó không xác định được điều kiện thi hành án.

Bốn là, đối với người phải thi hành án là các cơ quan hoặc tổ chức Chấp hành viên đã bỏ mặc, không xác minh tài sản bằng việc trực tiếp xem xét tài sản, kiểm tra hệ thống sổ sách quản lý vốn, tài sản.v.v. và thông qua các cơ quan khác như: cơ quan quản lý vốn, tài sản hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh, đăng ký tài sản, ngân hàng, tổ chức tín dụng, cá nhân, tổ chức liên quan khác để xác minh điều kiện tài sản của các cơ quan, tổ chức này.

Năm là, Chấp hành viên đề nghị Thủ trưởng ra Quyết định hoãn thi hành án trước khi xác minh điều kiện thi hành án của đương sự, có trường hợp hồ sơ thể hiện sau 01 năm ra quyết định hoãn thi hành án theo đề nghị của Chấp hành viên thì Chấp hành viên mới tiến hành xác minh lần đầu; cá biệt có trường hợp sau gần 04 năm ra quyết định hoãn thi hành án theo đề nghị của Chấp hành viên, Chấp hành viên mới tiếp tục tiến hành xác minh lại điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Vấn đề thứ năm: về ủy thác thi hành án

Tình trạng "mất án" có thể xảy ra ở khâu này mà nguyên nhân là do cơ quan thi hành án chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác; hoặc lợi dụng vào việc uỷ thác cho cơ quan khác thi hành cán bộ thi hành án cố tình làm sai lệch nội dung vụ việc để phục vụ động cơ cá nhân. Cơ quan thi hành án thường có những vi phạm, thể hiện:

Khi có quyết định ủy thác, không lưu Phiếu báo nhận ủy thác của cơ quan nhận uỷ thác vào hồ sơ thi hành án mà thay vào đó là giấy báo phát bưu phẩm của bưu điện. Nguyên nhân các hồ sơ lưu trữ thiếu phiếu báo nhận uỷ thác bởi các nguyên nhân sau:

Các Chấp hành viên đã nhận được phiếu báo nhận uỷ thác nhưng không cập nhật thường xuyên lưu vào hồ sơ.

Nơi được uỷ thác nhận được hồ sơ uỷ thác nhưng không cập nhật vào sổ nhận, theo dõi hồ sơ uỷ thác.

Uỷ thác "khống", tức là có làm thủ tục uỷ thác nhưng không tiến hành uỷ thác.

- Không ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án trước khi uỷ thác trong trường hợp vụ  việc đã ra quyết định thi hành án.

Có ký nhận uỷ thác nhưng không ra ngay quyết định thi hành án.

Khi tiến hành làm thủ tục uỷ thác, Chấp hành viên đã làm mất trách nhiệm liên đới của những người phải thi hành án, tự chia kỷ phần cho người thi hành án phải liên đới chịu trách nhiệm mà bản án, quyết định của toà án không chia theo kỷ phần hoặc phân chia lại kỷ phần khi đã thi hành được một phần trách nhiệm.

Uỷ thác sai lệch địa chỉ, số liệu, nội dung bản án, quyết định của toà án vì động cơ cá nhân hoặc ủy thác thiếu các khoản phải thi hành.

Vấn đề thứ sáu: về cưỡng chế thi hành án

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền quy định nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tầu tán, hủy hoại tài sản. Cưỡng chế thi hành án dân sự đây là một biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành án, thể hiện việc Cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên. Do đó, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Điều 9, Điều 46 và Chương V, từ Điều 66 đến Điều 121) và Nghị định số 58/2009/NĐ-CP (từ Điều 8 đến Điều 17) quy định về cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Tuy vậy, trên thực tế, khi tiến hành cưỡng chế thi hành án nảy sinh rất nhiều tình huống phức tạp mà cơ quan thi hành án phải xử lý. Vì vậy, khi xem xét việc cưỡng chế thi hành án, trước hết phải xem xét các điều kiện để áp dụng cưỡng chế, sau đó là việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế và toàn bộ quá trình tổ chức việc cưỡng chế; đặc biệt chú ý việc xử lý các tình huống nảy sinh khi cưỡng chế thi hành án. Trong quá trình thi hành án, cơ quan thi hành án thường mắc các các sai sót sau:

Cơ quan thi hành án không muốn áp dụng các biện pháp cưỡng chế, vin vào các lý do rất chung chung như: giữ ổn định tình hình chính trị địa phương, vì lý do bản án tuyên không được sự đồng tình, ủng hộ của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương hoặc không để xảy ra những việc đáng tiếc khi sắp đến một lễ, hội lớn nào đó…

Cơ quan thi hành án còn lúng túng trong việc lựa chọn áp dụng các biện pháp.

Chậm áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dẫn đến hậu quả người phải thi hành án tẩu tán tài sản hoặc có các thủ đoạn đối phó, người được thi hành khiếu, kiện Chấp hành viên, cơ quan thi hành án.

Kê biên loại tài sản không được kê biên.

Kê biên nhầm tài sản.

Khi kê biên tài sản không làm đủ các thủ tục khi không có mặt chủ sở hữu hoặcngười nhà đã thành niên của chủ sở hữu, người láng giềng của người có tài sản bị kê biên.

Chưa phân biệt được việc kê biên tài sản thuộc sở hữu chung theo phần và kê biên tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất khi cưỡng chế kê biên tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để thanh toán nghĩa vụ cho người phải thi hành án.

Không xem xét giải quyết những vướng mắc có liên quan đến tài sản sẽ kê biên, để sau khi kê biên tiến hành các thủ tục tiếp theo phát sinh khiếu nại khó giải quyết.

Không giao tài sản đã kê biên cho người được thi hành án, người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng bảo quản mà lại giao cho cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân địa phương hoặc niêm phong lại khi đang còn tiến hành các thủ tục tiếp theo.

Chậm đưa tài sản đã kê biên ra bán đấu giá.

 Không thành lập Hội đồng định giá trong trường hợp các bên đương sự không thoả thuận được về giá. Hội đồng định giá không đủ thành phần, hoặc thành phần không đúng thẩm quyền.

Khi định giá tài sản có tính năng kỹ thuật phức tạp không thành lập Hội đồng hoặc có thành lập Hội đồng nhưng không đúng, không đủ thành phần.

Trường hợp kê biên bán đấu giá toàn bộ nhà ở của người phải thi hành án, buộc họ và thân nhân phải ra khỏi nhà trong khi họ không còn chỗ ở nào khác mà không có giải pháp thích hợp.

Chậm xử lý tài sản gửi giữ, ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ tài sản, quyền lợi của người cho thuê kho…

Chậm giao tài sản cho người mua được tài sản qua đấu giá.

Việc tổ chức cưỡng chế chưa có kế hoạch chu đáo đầy đủ, không dự kiến hết các tình huống để có phương án đối phó, khi tình huống xảy ra thì xử lý lúng túng, có khi cưỡng chế không thành, gây dư luận xấu, tốn kém kinh phí và lực lượng; ngược lại, có khi sử dụng lực lượng quá lớn, chi phí quá tốn kém cho việc cưỡng chế một vụ việc đơn giản, giá trị tài sản ít.

Không hướng dẫn cho những người có tranh chấp  về tài sản kê biên quyền được khởi kiện ra toà án giải quyết.

Đặc biệt, khi cưỡng chế trả nhà, việc lập biên bản thống kê tài sản của người phải thi hành án để di chuyển đến kho trông giữ đã có nhiều sai phạm, khuất tất, gây cho người có tài sản nghi ngờ, khiếu kiện bị thất thoát tài sản. Ví dụ, khi lập biên bản thực hiện cưỡng chế trả nhà và thống kê tài sản của người phải thi hành án để đưa đến kho trong giữ đã có nhiều vấn đề sai phạm như sau:  Số lượng tài sản ghi trong Biên bản bao gồm 31 loại tài sản, nhưng cuối Biên bản không ghi chốt lại có tổng số bao nhiêu loại tài sản bị cưỡng chế; không ghi cụ thể Biên bản gồm bao nhiêu trang; các thành phần tham gia không ký giáp lai vào từng trang; người có mặt chứng kiến không ký vào Biên bản nhưng người không chứng  kiến lại ký vào Biên bản( cán bộ làm trực tiếp- lãnh đạo ký); phần bị gạch đi nhưng không có chữ ký xác nhận, không có dấu giáp lai; người  được thi hành án không có tên trong Biên bản lại  ký vào Biên bản; Biên bản không gạch chéo phần còn trống...

Vấn đề thứ bảy: về thu, chi tiền thi hành án

Khi kiểm tra việc thu, chi tiền thi hành án, cần xem xét việc sử dụng các mẫu biên lai, phiếu thu, phiếu chi các chứng từ, tài liệu lưu trong hồ sơ thi hành án có quy định và có phù hợp thực tế hay không; có phản ánh trung thực đầy đủ quá trình thi hành vụ việc không? Khi cần thiết phải đối chiếu với sổ sách, tài liệu, chứng từ của kế toán, thủ quỹ hay đối khớp với các hồ sơ, tài liệu khác. Các sai sót thường gặp trong thu, chi tiền thi hành án là:

Khi thu tiền thi hành án, Chấp hành viên không dùng biên lai thu tiền thi hành án hoặc không dùng biên lai mà chỉ viết giấy biên nhận.

Biên lai thu chưa phản ánh trung thực nội dung thi hành án.

Thu bằng chuyển khoản hoặc chuyển từ tạm thu sang thu chính thức không thực hiện đầy đủ các thủ tục.

Chấp hành viên thu tiền của người phải thi hành án không nộp vào quỹ mà giữ luôn số tiền đó để trả trực tiếp cho người được thi hành án nhưng vẫn có phiếu chi, có chữ ký của Thủ trưởng cơ quan thi hành án. Điều đó chứng tỏ Thủ trưởng cơ quan thi hành án không quản được thu (đầu vào) nhưng vẫn chi ra (đầu ra) là sai cơ bản về nguyên tắc quản lý tài chính.

Trong Phiếu chi tiền thi hành án, người nhận tiền không đứng tên người ghi trong chứng từ, Chấp hành viên không tiến hành yêu cầu thủ tục uỷ quyền, hoặc thủ tục uỷ quyền không đầy đủ, thiếu chặt chẽ.

Nội dung ghi trên chứng từ thu, chi không rõ ràng.

Thu tiền của người phải thi hành án để quá lâu mới trả cho người được thi hành. 

Khi nộp tiền vào ngân sách Nhà nước chưa có đủ các Bản kê nộp ngân sách cho từng vụ do Chấp hành viên lập.

Khi nộp tiền bằng tiền mặt không có Phiếu chi xuất quỹ.

Chỉ lập Bảng kê các khoản nộp vào ngân sách là tiền thu sung công, tiền xử lý tang vật, tài sản… còn khoản án phí, tiền phạt thì gộp chung thành một khoản cho cả một lần nộp ngân sách. Khoản tiền này có tháng tới hàng chục triệu đồng, rất khó xác định thuộc những vụ nào khi thanh tra, kiểm tra.

Việc thu, chi tiền cưỡng chế thi hành án thường thiếu nhiều thủ tục như: Dự trù kinh phí, phê duyệt của Thủ trưởng, biên lai thu tiền của đương sự, danh sách những người nhận tiền… Các chứng từ, biên lai, phiếu thu, phiếu chi, bảng kê tiền nộp ngân sách… không được lưu giữ đầy đủ vào hồ sơ thi hành án.

Các chứng từ thu, chi không được lưu đầy đủ trong hồ sơ thi hành án, mà chủ yếu lưu ở bộ phận kế toán, thủ quỹ.

Không sao (phô tô) các bản kê nộp ngân sách để lưu vào từng hồ sơ các vụ có các khoản nộp ngân sách. Vì vậy, hồ sơ thi hành án không thể hiện toàn bộ quá trình thi hành án.

Qua kiểm quỹ, số tiền mặt có trong quỹ ít hơn nhiều số tiền thể hiện trên các chứng từ, sổ sách. Điều này chứng tỏ có sự lợi dụng tiền thi hành án vào các mục đích khác như cho vay mượn, xâm tiêu, sử dụng vào những việc khác

Vấn đề thứ tám: về giao nhận, bảo quản và xử lý tang vật, tài sản

Điều kiện đảm bảo cho việc giao nhận, bảo quản và xử lý tang vật, tài sản rất khác nhau. Rất ít nơi có kho tang vật để đảm bảo thực hiện đầy đủ, thống nhất các quy định của pháp luật. Có nghịch lý thực tế là: Nơi có nhiều tang vật, tài sản thì số lượng và diện tích kho rất hạn chế, ngược lại nơi có ít tang vật, tài sản thì kho tàng đầy đủ, rộng rãi. Chính vì vậy, cách xử lý của từng địa phương cũng khác nhau, vừa phải tuân thủ các quy định chung đồng thời phải căn cứ vào điều kiện thực tế và các quy định, quy ước của các ngành liên quan ở địa phương. Kiểm sát việc giao nhận, bảo quản, xử lý tang vật tài sản là việc làm khó khăn, vất vả, phức tạp; yêu cầu phải thận trọng, tỷ mỷ đối chiếu, rà soát để phát hiện, tổng hợp nhận xét, kết luận được chính xác tình hình. Các cơ quan thi hành án thường có những sai sót sau:

Thứ nhất, bảo quản tang vật, tài sản:

Thủ kho không tiến hành các thủ tục nhập kho các tang vật, tài sản theo quy định

Thủ kho tự ý đưa vào kho và xuất ra khỏi kho tang vật, tài sản mà cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát chuyển sang trước khi có bản án, quyết định của Toà án để đảm bảo thi hành án khi chưa có ý kiến của Thủ trưởng cơ quan thi hành án. Những tài sản loại này thường có giá trị lớn.

Thủ kho không lập Sổ theo dõi tang vật, tài sản, không thực hiện chế độ kiểm kê tang vật, lập báo cáo thống kê không đúng số liệu thực tế.

Cách sắp xếp tang vật, tài sản trong kho thiếu khoa học. Tài sản gửi giữ nơi khác không hợp đồng đầy đủ, không kiểm tra thường xuyên để tài sản xuống cấp, hư hỏng, thiếu hụt, mất mát.

Vẫn còn tình trạng tráo đổi, sử dụng trái phép tang vật, tài sản, nhất là đối với các loại tang vật như: Xe máy, Video, máy ảnh, quạt điện…dưới hình thức "mượn" để dùng tại cơ quan hoặc đưa về nhà riêng.

Không thực hiện đúng quy định về niêm phong và mở niêm phong dẫn đến việc người có tài sản nghi ngờ, khiếu kiện gay gắt.

Thứ hai, xử lý tang vật, tài sản:

Chậm xử lý, để tồn đọng nhiều.

Khi xử lý tang vật, tài sản thuộc diện phải tiêu huỷ, tang vật mục nát, hư hỏng, không thành lập Hội đồng hoặc Hội đồng không đủ thành phần.

Có trường hợp còn "huỷ khống" tang vật, tức là tang vật còn nguyên trong kho nhưng trong hồ sơ đã đầy đủ thủ tục huỷ tang vật.

Vấn đề thứ chín: viềc phân loại án

Việc phân loại án tuỳ thuộc vào công tác xác minh khả năng thi hành án và việc áp dụng các quy định của pháp luật để ra các quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án, xác định án có điều kiện thi hành hoặc không có điều kiện thi hành

Thường có sự nhầm lẫn giữa việc thi hành án trả dần với việc chưa có điều kiện thi hành, thi hành chậm;

Đối với những vụ việc thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án thu tiền, tài sản cho nhà nước, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, cơ quan thi hành án thường không tích cực tổ chức xác minh điều kiện thi hành án mà xếp ngay vào diện việc chưa có điều kiện, tồn đọng, theo.

 Chấp hành viên không chủ động xác minh tài sản của đương sự đối với các hồ sơ trước đó đã xác minh chưa có khả năng thi hành, do đó khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành vẫn coi hồ sơ đó chưa có điều kiện thi hành.

Trên đây là các dạng vi phạm phổ biến trong lĩnh vực thi hành án dân sự, tôi nêu nên để các bạn đồng nghiệp tham khảo./.

Phạm Quang Dũng - Viện trưởng VKSND huyện An Lão