Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo TTLT số 06/2013/TTLT 

Viện kiểm sát có chức năng: "Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp" (khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013). Để làm tốt chức năng đó thì khâu công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố là một trong những khâu công tác thực hiện chức năng đặc biệt quan trọng. Làm tốt khâu công tác này sẽ hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội, là sự khởi đầu cho một quá trình tố tụng, là "đầu vào" của một vụ án. Nghị Quyết số: 37/2012/QH13, ngày 23/11/2012 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm. Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/08/2013 của liên ngành trung ương (sau đây gọi tắt là TTLT số 06) về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là căn cứ pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng của mình.

Tuy nhiên trong thực tiễn đã nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc như sau:

1. Phân định các khái niệm về tố giác, tin báo tội phạm và hành vi vi phạm hành chính.

Theo khoản 1, 2 Điều 3 TTLT số 06 thì Tố giác về tội phạm được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Tin báo về tội phạm được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính."

Từ quy định trên đây có thế hiểu, những vi phạm do pháp luật quy định trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nhưng chưa đến mức bị xử lý hình sự theo quy định của quy định pháp luật hình sự thì được coi là vi phạm hành chính.

Trong khi Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính viện kiểm sát không có chức năng kiểm sát. Chính vì vậy mà trong thời gian qua có nhiều tin xảy ra đã không có sự thống nhất về quan điểm giữa Cơ quan điều tra và viện kiểm sát. Trong khi viện kiểm sát cho rằng đó là tố giác, tin báo tội phạm và thuộc đối tượng kiểm sát của viện kiểm sát thì cơ quan điều tra (CQĐT) lại cho rằng đó chỉ là tin vi phạm hành chính, viện kiểm sát không có chức năng kiểm sát đối với các quyết định xử phạt hành chính. Ví dụ: Vào ngày 25/05/2014 qua tin báo của nhân dân Cơ quan điều tra công an Thị xã Thái Hòa bắt quả tang tại nhà đối tượng Nguyễn Văn B, trú tại Phường Hòa Hiếu, Thị xã Thái Hòa, Tỉnh Nghệ An đang tàng trữ một số lượng (theo lời khai của đối tượng đó là pháo nổ). CQĐT đã tiến hành lập biên bản người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang. Tuy nhiên sau khi đưa về CQĐT cân trọng lượng ban đầu xác định trọng lượng chỉ là 9 kg (theo quy định 10 kg pháo nổ trở lên mới đủ khởi tố).

Trong khi quan điểm của viện kiểm sát trong vụ việc này đó là tin báo tội phạm, cơ quan điều tra cần phải lập biên bản người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang, tiên hành niêm phong vật chứng đưa về cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu đi giám định có sự tham gia của kiểm sát viên (tương tự như các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy). Trên cơ sở các tài liệu thu thập được để ra quyết định giải quyết tin báo (Khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án) theo quy định tại Điều 104 hoặc theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Cơ quan điều tra lại cho rằng đó chỉ là hành vi vi phạm hành chính, do vậy CQĐT chỉ tiến hành lập biên bản đối với người có hành vi vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt hành chính (không thuộc đối tượng kiểm sát tiếp nhận, giải quyết tin báo của viện kiểm sát). Tương tự như các hành vi đánh bạc bị bắt quả tang nhưng số tiền chứng minh để sử dụng vào việc đánh bạc dưới 2 triệu đồng, các hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng có trọng lượng dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự. Về bản chất thì đối với các tin này đã có sự chuyển hóa từ tố giác, tin báo tội phạm ban đầu sang tin vi phạm hành chính (việc này có thể xác định được ngay sau đó). Thông thường thì trong những vụ việc nêu trên CQĐT và viện kiểm sát sẽ phối hợp với nhau để xác định có đưa vào tố giác, tin báo tội phạm hay không. Tuy nhiên theo quan điểm của tôi đã là quy định của pháp luật thì phải chấp hành nghiêm chỉnh, vấn đề là cần phải có sự hướng dẫn cụ thể để áp dụng cho thống nhất tránh những quan điểm khác nhau gây khó khăn trong công tác phối hợp.

2. Về thẩm quyền giải quyết:

Tại Điều  116 Bộ luật TTHS về chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền quy định: Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, Cơ quan điều tra phải đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra;

Trong khi tại Điều 7 TTLT số 06 quy định về nhiệm vụ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Những tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì ngay sau khi tiếp nhận phải chuyển tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đó kèm theo các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.

Dẫn đến không có sự thống nhất trong việc giải quyết giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tại các địa phương khác nhau.

Cùng một tin báo tội phạm có nội dung tương tự, sau khi tiếp nhận xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình CQĐT ở địa phương này đã chuyển toàn bộ tin báo tội phạm đó cùng các tài liệu liên quan cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết, trong khi ở địa phương khác CQĐT nơi tiếp nhận tin báo tội phạm lại tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp ngăn chặn rồi sau đó mới chuyển cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết.

3. Về thời hạn giải quyết:

Theo khoản 2 Điều 103 Bộ luật TTHS quy định: Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.


Điều 13 TTLT số 06 quy định: Trường hợp đã hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa đủ căn cứ để quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết để thống nhất quan điểm giải quyết.

Thực tế cho thấy rằng có nhiều tố giác, tin báo có nhiều tình tiết phức tạp đòi hỏi cần phải có thời gian CQĐT mới có thể đưa ra quyết định cuối cùng và thời hạn tối đa hai tháng là không đủ để ra quyết định giải quyết. Tuy vậy theo quan điểm của tôi cho rằng Luật đã quy định thì phải thực hiện nghiêm chỉnh, TTLT số 06 quy định như vậy trong trường hợp viện kiểm sát nhất trí với quan điểm của CQĐT về việc cần có thời gian tiếp theo để điều tra thì vô hình chung đã vi phạm về thời hạn giải quyết theo quy định tại Điều 103 Bộ luật TTHS.

4. Về kiểm sát việc thu thập các tài liệu trong quá trình điều tra.

Điều 12 TTLT số 06 quy định: Khi được phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, Kiểm sát viên có quyền: Kiểm sát việc kiểm tra, xác minh nguồn tin của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Kiểm sát việc lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố...;

Tuy vậy TTLT số 06 lại không quy định trong quá trình điều tra, xác minh CQĐT thu thập được chứng cứ, tài liệu gì phải kịp thời trao đổi hoặc chuyển toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đó cho kiểm sát viên để kiểm sát việc giải quyết, dẫn đến sau khi nhận được Hồ sơ giải quyết tin báo, kiểm sát viên đã không "chủ động" và phải mất thời gian nghiên cứu dẫn đến khi có phát hiện ra những vi phạm trong quá trình điều tra, xác minh (nếu có) cũng khó có thể khắc phục (vật chứng không được thu giữ kịp thời, các dấu vết tại hiện trường không được phản ảnh đầy đủ...).

5. Về kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm tại các xã, Phường:

Hiện nay qua tìm hiểu được biết nhiều địa phương trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình (thông qua công tác kiểm sát thi hành án, công tác xét xử lưu động, thông qua các hộp thư tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm) tại các xã, Phường, thi trấn đã cử kiểm sát viên kết hợp tiến hành kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm. Một số địa phương khác tiến hành kiểm sát thông qua ký Quy chế Phối hợp với các xã, Phường hoặc thông qua việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành Chỉ thị để tiến hành kiểm sát. Qua kiểm sát đã phát hiện nhiều tin báo, tố giác tội phạm có dấu hiệu tội phạm nhưng đã không được công an các xã, phường chuyển lên CQĐT có thẩm quyền giải quyết nhằm để "thỏa thuận dân sự" hoặc ra quyết định giải quyết (xử phạt hành chính) sai quy định (Hành chính hóa, dân sự hóa các hành vi có dấu hiệu tội phạm), việc vào sổ tiếp nhận, lập hồ sơ tin báo không đúng các quy định của pháp luật, vi phạm về thời hạn giải quyết...qua đó ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật. Sau khi phát hiện vi phạm nhiều viện kiểm sát đã yêu cầu công an các xã, phường chuyển hồ sơ lên CQĐT và yêu cầu CQĐT tiến hành khởi tố, nhiều tin báo sau khi chuyển lên đã được CQĐT tiến hành khởi tố. Tuy vậy việc tiến hành kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại các xã, phường chỉ là cách "vận dụng" chứ chưa có quy định về mặt pháp lý cũng như không nằm trong các Kế hoạch hàng năm để tiến hành kiểm sát.