Thực trạng, khó khăn và giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác xử lý vi phạm, tội phạm liên quan đến “Tín dụng đen” 

Thực trạng tình hình vi phạm, tội phạm liên quan đến tín dụng đen

Thời gian qua, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan hoạt động cho vay, thuê, cầm cố tài sản với lãi suất cao, không có sự bảo đảm của pháp luật dạng "Tín dụng đen" diễn biến phức tạp. Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng thắt chặt nguồn vốn cho vay, nên các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu sử dụng vốn phải tìm đến các nguồn vốn khác. Lợi dụng tình hình đó, một số cá nhân, không có chức năng làm tín dụng nh­ưng vẫn đi huy động tiền cho vay, hình thành đ­ường dây “Tín dụng đen” với lãi suất huy động và cho vay rất cao mà không l­ường trư­ớc đư­ợc hậu quả. Thực chất của “Tín dụng đen” là huy động và cho vay tín dụng không qua hệ thống ngân hàng, không đăng ký kinh doanh, lãi suất cao hơn rất nhiều lần so với quy định của pháp luật, chưa được cấp phép và chịu sự quản lý chính thức bởi cơ quan quản lý Nhà nước. Tín dụng đen hiện chiếm trên dưới 30% tín dụng chính chức của Việt Nam, với quy mô khoảng 50 tỉ USD.

Do mất khả năng thanh toán, nên các vụ vỡ nợ “Tín dụng đen” liên tiếp xảy ra, với số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội như: Giết người, Cố ý gây thương tích, Cướp tài sản, Cưỡng đoạt tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Bắt giữ ng­ười trái pháp luật, Xâm phạm chỗ ở của công dân,… đậm tính chất xã hội đen đặc biệt nghiêm trọng. Nhiều vụ có dấu hiệu phạm tội theo kiểu xã hội đen, đặc biệt nghiêm trọng, như vụ Ðồng Cao Cường, trú tại phố Bùi Thị Xuân (Hà Nội) cùng đồng bọn đã dùng súng bắn chết chị Nguyễn Thị Liên, tại địa chỉ 488 phố Xã Ðàn, Kim Liên (Hà Nội).

Đối tượng cho vay và đi vay trong "Tín dụng đen" rất đa dạng. Đáng chú ý là những băng nhóm chuyên cho vay nặng lãi được tổ chức chặt chẽ, tập hợp nhiều đối tượng có tiền án, tiền sự, côn đồ hung hãn, sẵn sàng dùng các thủ đoạn tàn ác, trái pháp luật với con nợ và gia đình họ, để thu hồi các khoản tiền lãi và nợ gốc. Mặt khác, số đối tượng vay mượn tiền, tài sản thường tạo vỏ bọc sang trọng, giàu có để tạo niềm tin, nhằm huy động vốn với lý do "kinh doanh". Thực tế, nhiều vụ đối tượng vay tiền, lại sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, buôn lậu... Một số khác vay tiền với lãi suất cao để kinh doanh, nhưng bị thua lỗ, thâm hụt vốn, không có khả năng trả nợ cho nên đã bỏ trốn. “Tín dụng đen” len lỏi khắp các địa phư­ơng trong cả nư­ớc đã gây ra những rủi ro và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với cả người cho vay và người đi vay, ảnh h­ưởng trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân... Từ năm 2010 đến tháng 6-2012, trên địa bàn cả nước xảy ra hơn 4.300 vụ việc phạm tội liên quan tội phạm "tín dụng đen", trong đó, có 31 vụ giết người, 218 vụ cố ý gây thương tích, 338 vụ cướp tài sản, 689 vụ cưỡng đoạt tài sản, hơn 1.000 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gần 1.900 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, 54 vụ hủy hoại tài sản...Tại 18 địa bàn trọng điểm xảy ra hơn 2.000 vụ liên quan tội phạm "tín dụng đen". Riêng 05 thành phố, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Tp. Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng, Cần Thơ, xảy ra 18 vụ gây thiệt hại gần 2.000 tỷ đồng. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2013, cả nước đã xảy ra 128 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 124 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, 04 vụ giết người, 28 vụ cướp tài sản, 98 vụ cưỡng đoạt tài sản, 55 vụ hủy hoại tài sản liên quan đến “Tín dụng đen”;

Các thủ đoạn phạm tội liên quan đến "Tín dụng đen" thường là: Sử dụng danh nghĩa công ty, ngân hàng để huy động tiền, dùng lãi suất cao để huy động tiền, trả trước lãi, dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng trong việc cho vay (lãi nặng), sẵn sàng cho vay tiếp khi người vay chưa trả được nợ, khi người vay không còn khả năng trả nợ sẽ bị xiết tài sản. Trung bình lãi suất vay khoảng 2000đ/triệu/ngày, tương đương 6%/tháng, có vụ huy động lãi suất lên đến 12%/tháng, tương đương 144%/năm. Đa số các vụ án huy động vay lãi đều không thế chấp bằng tài sản hoặc chỉ có một tài sản nhưng thế chấp cho nhiều người với số tiền vay vượt quá nhiều lần trị giá tài sản thế chấp; thủ tục thế chấp không bảo đảm theo quy định.

Trên toàn quốc có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thụ lý án tranh chấp hợp đồng vay tài sản có thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất (nợ đen), ở các dạng như sau: 

Các đối tượng hứa hẹn cho người vay tiền để giải quyết khó khăn trước mắt, với điều kiện là họ phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu... để các đối tượng này giúp vay vốn Ngân hàng lấy tiền trả nợ. Khi giao tiền vay họ bị khấu trừ toàn bộ tiền lãi, tiền phí dịch vụ, tiền môi giới, nên người vay chỉ nhận được khoản tiền thấp hơn nhiều so với số tiền vay, sau đó trách nhiệm của người vay là phải trả tiền vay cho Ngân hàng theo quy định.

Các đối tượng cho vay với lãi suất cao và yêu cầu người vay bảo đảm bằng biện pháp lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại phòng Công chứng với giá thấp hơn thực tế. Khi người vay không có khả năng thanh toán thì đối tượng buộc người vay tiền phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất... Hoặc việc thế chấp quyền sử dụng đất chỉ thực hiện qua giao dịch bằng miệng, hoặc giấy tờ viết tay đảm bảo tín chấp với nhau...

Trường hợp người cho vay hứa hẹn cho người vay tiền giải quyết khó khăn trước mắt, người cho vay tiền dùng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của chính họ làm tài sản thế chấp cho người cần vay vốn. Khi giao tiền vay, người vay vốn bị khấu trừ toàn bộ tiền lãi, tiền phí dịch vụ, tiền môi giới nên người vay chỉ nhận được khoản tiền thấp hơn nhiều so với vốn vay, sau đó trách nhiệm của người vay phải trả tiền cho ngân hàng theo quy định. Khi người vay tiền không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ ngân hàng, người cho vay tiền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khoản vay và khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo lãnh với người vay và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ được xử lý bằng tài sản của chủ doanh nghiệp, cá nhân...thông qua việc xét xử và thi hành án.

Bên cho vay tiền không lập hợp đồng vay tài sản hoặc không giao giấy tờ vay nợ, mà yêu cầu bên vay nợ phải thực hiện các hợp đồng mang tính bảo đảm tại phòng Công chứng. Vì vậy khi xảy ra tranh chấp bên vay không có tài liệu chứng minh việc vay nợ, số tiền vay và lãi suất, cũng không chứng minh được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ là hợp đồng mang tính bảo đảm, do đó sẽ chịu sự bất lợi khi Tòa phán quyết.

Các đối tượng cho vay nặng lãi không ép người vay phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng Công chứng để đảm bảo khoản vay, mà hợp đồng chuyển nhượng chỉ xuất hiện khi người vay tiền không có khả năng thanh toán, do đó buộc họ phải chuyển nhượng nhà đất với giá rẻ để trả nợ.

Các đương sự cho nhau vay tài sản (tiền) có thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông dụng nhưng không có chứng thực của cấp có thẩm quyền, không đăng ký thế chấp bằng giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, hoặc có nhưng chỉ là số rất ít. Mục đích vay để kinh doanh hoặc để đáo hạn ngân hàng. Khi xẩy ra tranh chấp, một trong hai bên không thừa nhận, không chứng minh được vay để đáo hạn ngân hàng hoặc vay nóng, vay lãi suất cao, vì người cho vay đã nhập lãi vào gốc và buộc người vay phải viết giấy biên nhận nợ mới, mà không huỷ giấy vay cũ, giấy vay không thể hiện lãi suất. Bên cho vay dùng nhiều giấy gộp lại để đi kiện, do đó người vay tiền phải trả lãi mẹ đẻ lãi con, hoặc buộc phải giao nhà đất... Quá trình giải quyết các vụ tranh chấp này thấy rằng, bên cho vay tài sản là những người nắm toàn bộ chứng cứ có lợi (giấy biên nhận nợ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà có công chứng, hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bên vay thế chấp); người vay do nhu cầu cần tiền, nhưng thiếu hiểu biết, dễ bị lợi dụng, khi xảy ra tranh chấp, người cho vay tài sản khởi kiện ra Toà với đầy đủ chứng cứ thuyết phục; còn người vay do bất lợi về chứng cứ, nên kết quả xét xử hầu hết phần thắng thuộc về nguyên đơn.

Một số kết quả giải quyết vi phạm, tội phạm liên quan đến tín dụng đen

Để giải quyết kịp thời và làm giảm các tội phạm liên quan đến “Tín dụng đen” Viện kiểm sát nhân dân phối hợp chặt chẽ với Toà án hai cấp kiểm sát thụ lý việc giải quyết 327 vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản có thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất (nợ đen).

Viện kiểm sát đã kiểm sát chặt chẽ thông báo thụ lý của Toà án; tham gia xét xử; kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án... thận trọng, khách quan khi xem xét những giao dịch nào chính danh, giao dịch nào giả cách, xác định quan hệ tranh chấp chính xác, vận dụng đúng các quy định của pháp luật nội dung và tố tụng để đưa ra đường lối giải quyết đúng, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Qua kiểm sát, đã phát hiện vi phạm và kịp thời ban hành 06 quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm; báo cáo đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 01 vụ; ban hành 25 kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục vi phạm.

Phối hợp giải quyết các vụ án liên quan đến “Tín dụng đen” Viện phúc thẩm 1 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm 18 vụ liên quan đến “Tín dụng đen”, gồm: 06 vụ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 12 vụ về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; đã xét xử, trong đó y án sơ thẩm 12 vụ, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo 06 vụ; Vụ 3 Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 10 vụ các bị cáo có hành vi phạm tội liên quan đến “tín dụng đen”, gồm: 07 vụ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 02 vụ về tội Cưỡng đoạt tài sản, 01 vụ về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; đã giải quyết 08 vụ (trả lời đơn cho đương sự 06 vụ, trả lời Viên kiểm sát địa phương thỉnh thị đường lối giải quyết án liên quan đến “ Tín dụng đen” 01 vụ, kháng nghị 01 vụ).

Khó khăn, vướng mắc của công tác xử lý tội phạm liên quan dến “Tín dụng đen”:

Thực tế các cơ quan tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã cố gắng phối hợp giải quyết kịp thời các vụ án có hành vi phạm tội liên quan đến “Tín dụng đen”, song những vụ việc được phát hiện và xử lý, đặc biệt là xử lý đứt điểm thì chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Bởi có quá nhiều những khó khăn và vướng mắc ảnh hưởng lớn đến phát hiện, xử lý tội phạm liên quan đến “Tín dụng đen”, cụ thể :

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chế tài chưa đủ mạnh để răn đe, còn nhiều lỗ hổng để các đối tượng "lách luật". Tội phạm liên quan đến "Tín dụng đen" chủ yếu được xử lý tại các Điều 139, 140 và 163 BLHS. Tuy nhiên quá trình áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" quy định tại Điều 140 BLHS, các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều quan điểm khác nhau về hành vi bỏ trốn cũng như mục đích chiếm đoạt và chưa có hướng dẫn. Sự phối hợp giữa các Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trong một số vụ án còn chưa kịp thời, thống nhất, nhất là quan điểm trong đánh giá chứng cứ, xử lý vụ việc (là hình sự hay dân sự, là lừa đảo hay lạm dụng”. Việc xử lý vi phạm về "Tín dụng đen" chưa có sự đồng đều thống nhất và chưa thực sự nghiêm minh, có nguyên nhân là do quan điểm xử lý giữa các địa phương, một số bộ, ngành chưa thống nhất. Nhiều địa phương, cơ quan pháp luật chỉ vào cuộc khi đã xảy ra hậu quả.

- Đối với Tội cho vay lãi nặng (Điều 163: Cấu thành cơ bản của tội này gồm hai tình tiết: “Cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên và có tính chất chuyên bóc lột”. Quy định như Bộ luật hình sự chưa phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Việc cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên đã thể hiện tính chất bóc lột và cần phải bị xử lý về hình sự mà không cần phải kèm theo tình tiết “có tính chất chuyên bóc lột”. Tình tiết “có tính chất chuyên bóc lột” nên được quy định là tình tiết tăng nặng trong xử lý tội phạm này, đồng thời nên sửa thành “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” cho phù hợp với cách thể hiện chung của Bộ luật hình sự.

- Quy định về lãi suất của Bộ luật dân sự (Điều 476) thì: lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với khoản vay tương ứng. Bộ luật Hình sự thiếu quy định để xử lý đối với trường hợp cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất do pháp luật quy định nhưng chưa đến 10 lần mức lãi suất này và người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về tội phạm này nhưng chưa được xóa án tích.

- Tại khoản 2 Điều 163 quy định tình tiết định khung tăng nặng “Thu lợi bất chính lớn” và hiện không có hướng dẫn áp dụng tình tiết này nên rất khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.

Ngoài ra, Luật các tổ chức tín dụng nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, tức là hoạt động vay vốn và cho vay. Nhưng không có ranh giới nào phân biệt giữa hoạt động vay vốn hợp pháp và bất hợp pháp ở ngoài ngân hàng. Hoạt động tín dụng đen khó kiểm tra, xử lý một cách triệt để vì nó chỉ diễn ra ngầm giữa các cá nhân, không có một thủ tục vay mượn chính thức nào. Hơn nữa, trong hoạt động tín dụng “đen”, cả người cho vay và người đi vay đều cùng có lỗi, và vì vậy, họ phải gánh chịu hậu quả.

- Khi cho vay trong "Tín dụng đen" các chủ cho vay thường sử dụng các thủ đoạn rất tinh vi và không ghi lãi suất vào hợp đồng vay mượn cũng như việc chứng minh có tính chất chuyên bóc lột rất khó khăn vì chưa có hướng dẫn. Các đối tượng cho vay lãi thường rất tinh vi trong việc tạo lập các chứng cứ khi giao dịch vay tài sản, do đó nếu có tranh chấp, các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nói riêng không có cơ sở kết luận đâu là giả dối. Những người vay tiền phần lớn là những người nghèo, kém hiểu biết về xã hội và pháp luật, do đó khi tham gia tố tụng, bản thân họ cũng gặp khó khăn trong việc tự bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của mình.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác xử lý vi phạm, tội phạm liên quan đến “Tín dụng đen”:

 Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xử lý tội phạm liên quan đến “Tín dụng đen”, thấy cần thiết tiến hành các giải pháp sau:

 - Các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường tổng kết thực tiễn, hướng dẫn pháp luật và tổ chức tập huấn nhằm áp dụng thống nhất một số quy định trọng Bộ luật hình sự liên quan đến “Tín dụng đen”, nhất là các Điều 139 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 140 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Điều 163 Tội cho vay lãi nặng BLHS.

Đối với Điều 139, 140 BLHS, tập trung vào việc xác định mục đích chiếm đoạt tài sản, làm rõ các hình thức lừa đảo, lạm dụng thông qua “tín dụng đen”, tránh tình trạng hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế hoặc ngược lại.

Đối với Điều 163 BLHS, cần nghiên cứu, sửa đổi theo hướng loại bỏ hoặc sửa đổi các yếu tố cấu thành không còn phù hợp với thực tiễn, như “Cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên”, “Có tính chất chuyên bóc lột”, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm này, cụ thể:

 Sửa cấu thành cơ bản của tội cho vay nặng lãi theo hướng quy định: Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên hoặc trên mức lãi suất do pháp luật quy định nhưng chưa vượt quá 10 lần và đã bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm , thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

 - Quy định tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là tình tiết định khung tặng nặng. Quy định rõ mức thu lợi bất chính lớn để thuận lợi trong thực tiễn áp dụng xử lý tội phạm này.

- Tăng cường giám sát và kiến nghị với cơ quan chức năng có chính sách tín dụng hợp lý để người dân có nhu cầu vay vốn tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn vốn vay tại ngân hàng, thay vì để người dân buộc phải tìm đến hình thức “tín dụng đen”;

- Tăng cường, siết chặt quản lý nhà nước về việc cấp giấy phép kinh doanh, công chứng, nhất là công chứng tư, chứng thực việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất, để tránh tình trạng đối tượng cho vay nặng lãi lợi dụng thủ tục pháp lý này để hợp pháp hóa động cơ, mục đích và việc làm bất hợp pháp.

- Cần tăng cường chỉ đạo các cơ quan chức năng, tổ chức, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về đất đai cho người dân; kịp thời thông báo rộng rãi cho người dân cảnh giác về phương thức, thủ đoạn của một số đối tượng lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, kém hiểu biết của họ để trục lợi bất chính.        

- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xử lý nghiêm khắc tội phạm liên quan đến "Tín dụng đen"; xây dựng Quy chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực phòng ngừa các vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. 

Thái Hưng

Nguồng: vksndtc