Giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên đối với những vụ án Viện kiểm sát cấp trên ủy quyền Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự 

Để đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự đúng quy định pháp luật, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, cùng với việc tăng cường công tác kiểm sát điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra thì hoạt động tranh tụng tại phiên toà cũng giữ một vai trò cực kỳ quan trọng.

Xác định được tầm quan trọng của tranh tụng tại phiên tòa đối với việc xác định sự thật khách quan của vụ án, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Tiếp đó, trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp…”. Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội khoá XIII tiếp tục khẳng định: “Toà án nhân dân tối cao chỉ đạo các Toà án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên toà”. Vấn đề tranh tụng đã được đồng chí Nguyễn Hoà Bình, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xác định là một trong những nhiệm vụ cần thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố “nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tăng cường tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự là tư tưởng mang tính đột phá, xuyên suốt nội dung đổi mới và hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, được Ðảng ta xác định là một trong những vấn đề quan trọng nhất của cải cách tư pháp”(1).

Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại các phiên toà hình sự nói chung và tranh tụng của Kiểm sát viên đối với những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên truy tố chuyển Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm là một đòi hỏi cấp thiết. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên đối với những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên truy tố chuyển Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử trên cơ sở đi sâu tìm hiểu, phân tích thực trạng tranh tụng của Kiểm sát viên và căn cứ pháp lý đối với loại án này.

1. Căn cứ pháp lý

Án uỷ quyền được hiểu là các vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, lập cáo trạng truy tố, sau đó chuyển Viện kiểm sát cấp dưới (Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp huyện) thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm(2).

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành không có điều luật nào quy định cụ thể về việc ủy quyền truy tố của Viện kiểm sát mà thông thường vụ án do Cơ quan điều tra cấp nào điều tra và đề nghị truy tố thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định truy tố. Thực tế, để xác định thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát căn cứ vào Điều 110 BLTTHS quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra các cấp, Điều 170 BLTTHS quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án các cấp thì Viện kiểm sát cấp huyện thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với những vụ án hình sự do Cơ quan điều tra cấp huyện điều tra và Viện kiểm sát truy tố bị can trong vụ án đó ra Toà án cấp huyện để xét xử sơ thẩm; Viện kiểm sát cấp tỉnh thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với những vụ án hình sự do Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra và Viện kiểm sát truy tố bị can trong vụ án đó ra Toà án cấp tỉnh để xét xử sơ thẩm.

Tuy nhiên, khoản 4 Điều 110 BLTTHS lại quy định cho Cơ quan điều tra cấp Trung ương có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh, nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đối với những vụ án do Cơ quan điều tra cấp Trung ương điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra mà không thể là Viện kiểm sát cấp tỉnh. Theo trình tự thông thường, những vụ án này sẽ do Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố bị can ra Toà án nhân dân tối cao để xét xử nhưng vì Toà án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm; do đó, vụ án phải được chuyển về địa phương để xét xử sơ thẩm. Để giải quyết vấn đề này, ngành Kiểm sát nhân dân đã ban hành quy chế nghiệp vụ để có cơ sở giải quyết đối với trường hợp vừa nêu.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC, ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì: “Đối với những vụ án hình sự được thụ lý điều tra ở cấp Trung ương… nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao ... ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp tỉnh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm; nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao… quyết định chuyển vụ án về Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền làm cáo trạng truy tố”.

Như vậy, cơ sở pháp lý của việc Viện kiểm sát cấp trên truy tố chuyển Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là căn cứ vào thẩm quyền điều tra quy định tại Điều 110 BLTTHS, việc chuyển vụ án quy định tại Điều 166

BLTTHS, thẩm quyền xét xử của Toà án quy định tại Điều 170 BLTTHS và Điều 45 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Thực trạng tranh tụng của Kiểm sát viên đối với các vụ án ủy quyền

Theo số liệu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong 05 năm từ 2005 đến 2010 tất cả các các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều có án uỷ quyền, đã uỷ quyền cho cấp tỉnh 196 vụ/1683 bị can, chuyển cho cấp huyện lập cáo trạng truy tố 05 vụ/29 bị can, chiếm 0,5% tổng số án thụ lý truy tố. Loại án uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới chủ yếu thuộc các nhóm tội phạm về tham nhũng, nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nhóm tội phạm về ma tuý, nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia…

Nhìn chung, các vụ án uỷ quyền đều là các vụ án lớn, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, đòi hỏi cơ quan thụ lý điều tra cấp trên, nhất là ở cấp Trung ương phải thụ lý điều tra, truy tố mới phát huy hiệu quả. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có sự phối hợp chặt chẽ, đảm bảo xử lý các vụ án kịp thời, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với các vụ án do Viện kiểm sát cấp trên truy tố, chuyển Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn còn một số tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, một số vụ án thường bị trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, nhất là các vụ án về kinh tế, chức vụ và tham nhũng. Đáng lưu ý là hầu hết các vụ án Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung có căn cứ pháp luật, được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tối cao chấp nhận bổ sung. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần không những gây tốn kém thời gian, công sức cho các cơ quan tiến hành tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án kéo dài mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng.

Thứ hai, các vụ án do Viện kiểm sát cấp trên ủy quyền cho cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, nếu tại phiên tòa xét xử có những tình tiết mới khác với nội dung truy tố của Viện kiểm sát cấp trên thì Kiểm sát viên phải đề nghị hoãn phiên tòa và báo cáo với Lãnh đạo cấp mình để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định. Như vậy, Kiểm sát viên không có quyền quyết định đối với những vấn đề phát sinh tại phiên tòa. Trong khi đó, theo tinh thần cải cách tư pháp thì mọi phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Mặt khác, theo quy định tại Điều 195 BLTTHS thì tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn. Như vậy, việc ủy quyền tiến hành tố tụng đặt trong mối quan hệ với các quy định của

BLTTHS và tinh thần cải cách tư pháp thì lại có sự mâu thuẫn.

Thứ ba, theo quy định của Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự sau khi nhận hồ sơ đề nghị truy tố từ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải giữ lại hồ sơ trong thời hạn truy tố, chỉ sau khi làm xong cáo trạng truy tố mới ủy quyền và chuyển giao hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp tỉnh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 166 BLTTHS thì, trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ban hành cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án. Như vậy, chỉ trong vòng ba ngày Viện kiểm sát cấp tỉnh không có đủ thời gian để nghiên cứu hồ sơ nắm vững nội dung vụ án trong khi không được tham gia kiểm sát từ giai đoạn điều tra và phần lớn các vụ án này đều là những vụ án nghiêm trọng, phức tạp; do đó, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tranh luận tại phiên tòa, vì Kiểm sát viên kiểm sát xét xử không đủ thời gian nắm chắc toàn bộ hệ thống chứng cứ của vụ án.

Thứ tư, khó khăn về khoảng cách địa lý dẫn đến những khó khăn về việc chuyển hồ sơ, vật chứng, khắc phục những thiếu sót, sai phạm, yêu cầu điều tra bổ sung…

Những tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướng mắc trên xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

- Những vụ án do Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử thường là những vụ án lớn, hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt lớn, số lượng bị can, bị hại rất đông, ở nhiều tỉnh, thành; có vụ án liên quan đến cán bộ lãnh đạo chính quyền, sở, ban, ngành tại địa phương nên ít nhiều chịu sự tác động của Cấp uỷ cơ sở, gây khó khăn cho công tác điều tra, kiểm sát điều tra, truy tố và xét xử.

- Quy định pháp luật hình sự hiện hành và các văn bản liên quan, nhất là xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp Trung ương, thẩm quyền kiểm sát điều tra, truy tố của Viện kiểm sát; quy trình, quy chế phối hợp, trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp trong việc uỷ quyền và nhận ủy quyền các vụ án do Viện kiểm sát cấp trên truy tố rồi chuyển cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn chưa được quy định cụ thể, làm rõ, dẫn đến lúng túng, khó khăn trong quá trình áp dụng.

Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan, còn có một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến những tồn tại, hạn chế như: Chưa gắn công tố với điều tra; trình độ năng lực của một số Kiểm sát viên còn có hạn chế nhất định, Kiểm sát viên chưa chủ động nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; việc phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp dưới và Viện kiểm sát cấp trên khi giải quyết một số vụ án uỷ quyền chưa chặt chẽ… Trong số những nguyên nhân vừa nêu, chúng tôi nhận thấy có 02 nguyên nhân chính cần được khắc phục kịp thời là:

Thứ nhất, chưa gắn công tố với hoạt động điều tra. Một số Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra chưa chủ động, nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra ngay từ đầu và trong quá trình điều tra để kịp thời cùng Điều tra viên khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình điều tra vụ án. Việc đề ra yêu cầu điều tra còn thụ động, có trường hợp đề ra yêu cầu điều tra nhưng không theo dõi, đôn đốc và giám sát chặt chẽ để Điều tra viên thực hiện yêu cầu nghiêm túc, có chất lượng. Đối với Viện kiểm sát được uỷ quyền, do chưa có quy chế phối hợp, chưa biết được án uỷ quyền… nên chưa thể phân công Kiểm sát viên chủ động nắm tình hình, nội dung vụ án ngay từ đầu hoặc trước khi kết thúc điều tra mà chỉ nghiên cứu sau khi đã có cáo trạng truy tố nên khó bảo vệ cáo trạng, thực hiện tốt chức năng tranh tụng tại phiên toà.

Thứ hai, công tác phối hợp giải quyết án giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới có lúc có nơi chưa thật sự chặt chẽ; việc tổ chức rút kinh nghiệm, đề ra biện pháp khắc phục án giải quyết kéo dài, trả hồ sơ điều tra bổ sung, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà chưa kịp thời; chưa xác định rõ cơ chế uỷ quyền và phân cấp trong ngành Kiểm sát nhân dân…

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên đối với các vụ án ủy quyền

Để nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên đối với những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên truy tố chuyển Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, chúng tôi cho rằng cần thực hiện những giải pháp sau:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần xây dựng cơ chế, quy trình phối hợp, tạo điều kiện cho Viện kiểm sát được uỷ quyền tiếp cận hồ sơ, nội dung vụ án càng nhanh càng tốt như: Sau khi khởi tố vụ án, qua quá trình điều tra ban đầu, xác định vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của địa phương nào thì báo cho Viện kiểm sát địa phương đó biết, cử Kiểm sát theo dõi, nắm bắt những tình tiết, diễn biến quá trình điều tra vụ án. Khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát địa phương cử Kiểm sát viên cùng nghiên cứu hồ sơ với Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp trên để thống nhất quan điểm truy tố hoặc điều tra bổ sung trước khi Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định truy tố.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao sửa đổi Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự theo hướng quy định cho Viện kiểm sát được uỷ quyền có đầy đủ thẩm quyền theo quy định tại Điều 181 và Điều 195 BLTTHS như: Quyền rút quyết định truy tố trước khi Toà án mở phiên toà, quyền được rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận tội nhẹ hơn sau khi xét hỏi tại phiên toà.

- Đối với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải bám sát quá trình điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án và xuyên suốt trong quá trình điều tra phải cập nhật, nghiên cứu hồ sơ, tài liệu đảm bảo việc phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp uỷ quyền phải tham dự phiên toà ở cấp được uỷ quyền để rút kinh nghiệm, xử lý tình huống phát sinh.

- Đối với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, xác định nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử là của mình mà không phải làm thay cấp trên; nếu thấy có những khó khăn, vướng mắc thì kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình trao đổi với đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên cho ý kiến, tìm biện pháp tháo gỡ kịp thời.

- Khi sửa đổi, bổ sung BLTTHS cần quy định vấn đề ủy quyền để tạo căn cứ pháp lý cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm và xây dựng quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp giải quyết loại án này. Vấn đề quan trọng nhất là phải giải quyết được mối quan hệ giữa Kiểm sát viên cấp trên kiểm sát điều tra và Kiểm sát viên cấp dưới kiểm sát xét xử để Kiểm sát viên kiểm sát xét xử có đủ thời gian, điều kiện nghiên cứu hồ sơ, nắm chắc hệ thống chứng cứ của vụ án./.

(1) Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp – Nguyễn Hoà Bình, Uỷ viên Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Xem: http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Nghien-cuu-Trao-doi/76/2205/Nang-cao-chat-luong-thuc-hanh-quyen-cong-to-va-kiem-sat-cac-hoat-dong-tu-phap.aspx.

(2) Xem: Điều 45 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Lê Văn Ngà

Nguồn: vksndtc.gov.vn