Phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội vào hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, việc huy động sức mạnh, nguồn lực của tất cả tầng lớp nhân dân luôn là một yếu tố quan trọng có tính quyết định thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn". Ngày nay, trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, Đảng ta tiếp tục chính sách dựa vào dân để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương tăng cường thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân, tổ chức xã hội vào việc giải quyết những nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động thi hành án hình sự. Thi hành án hình sự là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài. Đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng dưới sự lãnh đạo thống nhất của Cấp uỷ Đảng. Phải động viên quần chúng nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia hoạt động thi hành án hình sự, nhất là đối với việc thi hành các hình phạt không phải là phạt tù, tử hình; tham gia thi hành các biện pháp tư pháp. Mặt khác, xét từ góc độ công việc thì sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội... vào một số nội dung của hoạt động thi hành án hình sự là một giải pháp nhằm tăng tính hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự; tiết kiệm kinh phí, nguồn nhân lực và giảm tải một phần công việc của bộ máy thi hành án hình sự.

Hiện nay, số người bị kết án hình sự phải thi hành các hình phạt không phải là hình phạt  tù, hình phạt tử hình chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng số người phải thi hành án hình sự. Họ không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được thi hành án tại nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi thi hành án. Ngoài sự quản lý giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức được phân công trách nhiệm thi hành án, họ còn chịu sự giám sát, tác động của cộng đồng dân cư, đặc biệt là sự giúp đỡ của cộng đồng về các mặt tinh thần, vật chất, công ăn việc làm, không phân biệt đối xử... để họ yên tâm sửa chữa lỗi lầm sớm hoàn lương. Ngoài sự tác động của chính quyền cơ sở, cơ quan tổ chức được pháp luật thi hành án hình sự quy định, sự tác động của cộng đồng, người thân, gia đình đối với người bị kết án đang thi hành án là hết sức nhân văn và hiệu quả, tạo điều kiện cho họ chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án.

Một vấn đề có tác động lớn trong việc nâng cao hiệu quả của công tác quản lý về thi hành án hình sự là hoạt động giúp người bị kết án tù chuẩn bị các điều kiện về tinh thần, vật chất, công ăn việc làm để sau khi mãn hạn tù sớm tái hoà nhập cộng đồng. Hoạt động này mang một ý nghĩa quan trọng trong chính sách hình sự, thi hành án hình sự ở nước ta; bởi lẽ, sau một thời gian thi hành án các đối tượng này không thể hoà nhập cộng đồng hoặc hoà nhập một cách khó khăn mà dẫn đến tái phạm, vi phạm pháp luật thì mọi biện pháp áp dụng đối họ trước đó trở nên vô nghĩa, chính sách nhân đạo của Nhà nước không đạt được hiệu quả thực tế cuối cùng. Vì thế, việc giúp cho người chấp hành án hình sự tái hoà nhập cộng đồng có thể được xem là khâu cuối cùng nhằm thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ ý nghĩa của một bản án hình sự.

Thực hiện công tác tái hoà nhập cộng đồng không chỉ thể hiện chính sách nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, mà còn là biện pháp để góp phần ổn định an ninh, trật tự và phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Một thực tế cho thấy, các đối tượng được mãn hạn tù cho về địa phương sinh sống mà tái phạm thì tội phạm xảy ra thường nghiêm trọng, tính chất nguy hiểm cao, với thủ đoạn tinh vi hơn. Hiện nay tỉ lệ tái phạm còn cao, nhất là những đối tượng trú quán tại địa bàn thành phố. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là những người chấp hành xong hình phạt không thể tạo lập được cuộc sống bình thường, vì không có nghề, công việc sinh sống ổn định.

Để tổ chức thi hành bản án hình sự trên thực tế, mỗi năm Nhà nước đã giành một khoản chi ngân sách lớn cho hoạt động thi hành án hình sự như đầu tư xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp hệ thống trại giam, trại tạm giam, đảm bảo các điều kiện ăn, ở, phòng bệnh, chữa bệnh, dạy nghề cho phạm nhân. Những năm gần đây, được sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, Cơ quan Thi hành án phạt tù (trại giam) đã thành lập nhiều trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp cho phạm nhân nhằm chuẩn bị cho họ có nghề để có thể kiếm sống sau khi mãn hạn tù. Tuy nhiên, do số lượng phạm nhân ngày càng có chiều hướng gia tăng nên các trung tâm dạy nghề hiện có ở các trại giam chưa thể đáp ứng được mà cần phải có sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức phi chính phủ và của toàn xã hội.

Sự tham gia vào công tác dạy nghề, giúp đỡ người bị kết án có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập chính đáng vừa thể hiện tinh thần nhân ái, nguồn động viên tinh thần to lớn giúp họ sửa chữa lỗi lầm, sớm hoàn lương trở thành người có ích cho xã hội, vừa nhằm tiết kiệm một phần kinh phí cho nhà nước hàng năm dành cho hoạt động này.

Mặt khác, hiện nay số người bị kết án tù đang có xu hướng gia tăng dẫn đến tình trạng các trại giam bị quá tải trong giam giữ, quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Sự gia tăng số người bị kết án tù chấp hành án ở trại giam kéo theo sự gia tăng về khối lượng công việc, biên chế, kinh phí... cho các cơ quan thi hành án. Do vậy, nếu như cơ quan quản lý nhà nước về công tác thi hành án hình sự xây dựng được một cơ chế hợp lý thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, tổ chức xã hội vào hoạt động thi hành án hình sự, làm cho chất lượng thi hành án ngày càng được nâng cao thì đây cũng là một vấn đề đáng để cơ quan xét xử chú ý trong việc áp dụng rộng rãi các hình phạt khác thay cho việc áp dụng hình phạt tù trong những trường hợp có thể, nhằm làm giảm số người phải đi chấp hành án ở trại giam.

Xây dựng cơ chế thu hút sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế... vào công tác giúp đỡ người bị kết án hình sự tái hoà nhập cộng đồng là một vấn đề lớn đang được cơ quan quản lý về công tác thi hành án hình sự quan tâm, coi đây là một giải pháp hiệu quả trong lĩnh vực thi hành án.

Công tác tái hoà nhập cộng đồng là một hoạt động mang tính xã hội hoá cao bởi các lý do: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trang bị những điều kiện cần thiết về văn hoá, nghề nghiệp cho đối tượng, những chính sách xã hội mới là yếu tố quyết định sự hoà nhập thành công của họ. Các biện pháp tác động của xã hội thông qua các tổ chức, cá nhân, gia đình rõ ràng là phù hợp với trạng thái tâm lý của đối tượng hơn là các nhân viên và tổ chức công quyền. Nếu duy trì một lực lượng lớn các nhân viên nhà nước chuyên trách đảm nhiệm công việc này thì là một phương án không khả thi và tốn kém, trong trường hợp này sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội, nhân viên tình nguyện đem lại hiệu quả thiết thực hơn.

Ở nước ta, để quản lý, giáo dục những người mãn hạn tù về sinh sống tại địa phương, chính quyền cơ sở nhiều nơi đã phân công ban, ngành, đoàn thể và cá nhân là thành viên có tâm huyết, uy tín của các tổ chức chính trị - xã hội (Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên...) trực tiếp theo dõi, giúp đỡ đối tượng nhằm mục đích cảm hoá giáo dục họ. Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000 đã chỉ rõ: “Cần kết hợp và phát huy vai trò, trách nhiệm của gia đình phạm nhân, của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức Đảng và cộng đồng dân cư trong việc nhận giúp đỡ, quản lý, giáo dục, tạo điều kiện tìm việc làm cho người mãn hạn tù hoặc được hưởng đặc xá tha tù trở về. Giao trách nhiệm cho mỗi tổ chức, đoàn thể xã hội (thanh niên, phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân, công đoàn, mặt trận) ở mỗi cấp nhận giúp đỡ một số đối tượng được tha tù, coi đây là một chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động hàng năm, đồng thời gắn việc thực hiện chủ trương này với các phong trào xây dựng làng văn hoá mới, cụm dân cư đoàn kết, vững mạnh.v.v.”.

Vấn đề tái hoà nhập cộng đồng đối với những người vi phạm pháp luật hình sự bị cách ly khỏi xã hội ở nước ta đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Bộ luật Hình sự; Quy chế trại giam… Điều 179, 180 Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án hình sự là: Chỉ đạo cơ quan chuyên môn, Uỷ ban nhân dân cấp dưới và có chính sách phù hợp để khuyến khích sự đóng góp, hỗ trợ của các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù tìm việc làm, ổn định cuộc sống, học nghề, hoà nhập cộng đồng. Hướng dẫn số 48/HĐTVĐX ngày 21/7/2011 của Hội đồng tư vấn đặc xá hướng dẫn việc triển khai thực hiện Quyết định số 1123/2011/QĐ-CTN ngày 19/7/2011 của Chủ tịch Nước về đặc xá năm 2011 có nêu: “Bộ Thông tin và truyền thông có trách nhiệm…giáo dục, nâng cao nhận thức, kêu gọi trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và quần chúng nhân dân trong việc xoá bỏ thái độ kỳ thị, mặc cảm đối với người được đặc xá và quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ họ ổn định cuộc sống, tránh tái phạm”.

Công tác tái hoà nhập cộng đồng trên thực tế ở nhiều địa phương đã thu hút được sự tham gia tích cực của đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội vào hoạt động quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người bị kết án hình sự, góp phần giảm tỉ lệ tái phạm. Nhiều người sau khi mãn hạn tù trở về địa phương đã được dạy nghề và tìm kiếm được việc làm, trở thành người lương thiện. Công tác tái hoà nhập cộng đồng không chỉ thể hiện ở các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà ở nhiều nơi đã trở thành những phong trào quần chúng sâu rộng trong toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tái hoà nhập cộng đồng hiện nay đã phát sinh một số vướng mắc chưa xây dựng được cơ chế hợp lý để thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội vào hoạt động thi hành án hình sự; thể hiện trên các mặt:

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về công tác tái hoà nhập cộng đồng còn hết sức chung chung.

Những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật mang tính khái quát cao, mới chỉ dừng lại ở những vấn đề mang tính nguyên tắc; trong khi đó, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, tổ chức hữu quan như trại giam, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc quản lý, giáo dục hoặc tạo điều kiện giúp đỡ cho người mãn hạn tù trở lại cuộc sống không được làm rõ.

Hơn nữa, đây là một hoạt động mang tính xã hội hoá cao, vì vậy, ngoài việc quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước thì quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của từng tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động này cũng phải được quy định rõ, có như vậy thì vai trò của tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, công dân mới phát huy được tác dụng trên thực tế.

Thứ hai, chưa có một cơ quan làm đầu mối thống nhất.

Đây là một công tác có ý nghĩa quan trọng, nhưng xét về mặt tổ chức thì thiếu một cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ đầu mối phối hợp các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc giúp Chính phủ hoạch định chính sách, dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác tái hoà nhập cộng đồng. Hiện nay, việc tổ chức thực hiện công tác tái hoà nhập cộng đồng không có sự thống nhất trên phạm vi toàn quốc; hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào tính sáng tạo và sự quan tâm của từng địa phương.

Thứ ba, về nhân sự, mặc dù lực lượng Công an ở cơ sở hiện nay là lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức công tác tái hoà nhập cộng đồng tại các địa bàn dân cư, nhưng xét về bản chất của công tác này thì không thể coi đây là lực lượng chuyên trách thực hiện công tác tái hoà nhập cộng đồng, bởi lẽ, nhiệm vụ của họ thực ra chỉ dừng lại ở nhiệm vụ quản lý đối tượng mãn hạn tù về mặt hành chính nhằm ổn định an ninh, trật tự trên địa bàn, vì những hoạt động mà họ áp dụng mang tính chất nghiệp vụ. Mặt khác, một lực lượng tình nguyện thường xuyên cũng chưa có dấu hiệu được hình thành tại các cộng đồng dân cư.

Thứ tư, đối với quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân trong các trại giam, trại tạm giam.

Giai đoạn chuẩn bị những điều kiện tối thiểu về văn hoá, tay nghề, tâm lý, tư tưởng cho người phạm tội để trở lại cuộc sống bình thường, thì việc dạy nghề, học văn hoá, sinh hoạt thể thao có quy định nhưng thực hiện còn mang tính hình thức, "phong trào" mà chưa được chú trọng đúng mức. Các nghề được dạy rất khó có thể tìm kiếm được việc làm trong xã hội như: Đan lát cơ bản, may cơ bản, thợ mộc, sửa chữa xe máy... Lao động của phạm nhân chưa mang tính hướng nghiệp mà chủ yếu là trang bị tay nghề cho họ để mục đích tận dụng sức lao động và nguyên liệu sẵn có ở trại giam.

Thứ năm, vấn đề thông báo, phối hợp của trại giam với chính quyền cơ sở và gia đình đối tượng.

Tái hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù là một giai đoạn rất khó khăn đối với những người mới chấp hành xong hình phạt tù. Đối với người chưa thành niên thì giai đoạn này càng khó khăn. Chính vì vậy, tại khoản 4 Điều 308 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003 quy định: "Đối với người chưa thành niên đã chấp hành xong hình phạt, Ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội ở xã, phường, thị trấn để giúp đỡ người đó trở về sống bình thường trong xã hội". Thực tế cho thấy, sự phối hợp giữa Ban giám thị trại giam và chính quyền xã, phường mới dừng lại ở những thủ tục mang tính hành chính. Ở một số địa phương cũng chưa nhận được những thông tin đầy đủ về quá trình cải tạo, giáo dục của đối tượng tại trại giam, về tâm lý, tư tưởng của đối tượng cũng như những nghề họ được dạy để có những biện pháp quản lý, giúp đỡ có hiệu quả.

Thứ sáu, ý thức trách nhiệm của cơ quan, đoàn thể và công dân tại địa phương.

Ý thức trách nhiệm của các cơ quan, đoàn thể và công dân trong vấn đề này chưa cao, thông thường họ đều cho rằng, công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ đối tượng là việc của Công an và gia đình đối tượng, dẫn đến tình trạng là các địa phương chưa thật sự chú trọng đến công tác giáo dục, giúp đỡ đối tượng tái hoà nhập cộng đồng. Các biện pháp thường mang tính kết hợp nhằm phục vụ cho các mục đích thực hiện các chương trình kinh tế, xoá đói giảm nghèo, các chương trình mang tính hiệp hội...

Thứ bảy, vấn đề tạo công ăn việc làm cho đối tượng.

Qua thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến phạm tội (tái phạm) là do không có công ăn việc làm, nghèo đói. Vì vậy, một trong những biện pháp hiệu quả nhất để người phạm tội tái hoà nhập cộng đồng là tạo công ăn việc làm cho họ. Trong thực tế, vấn đề này chưa thực hiện được. Mặt khác, khái niệm "có công việc" rất rộng, chẳng hạn như công việc rất thất thường, mang tính mùa vụ như phụ hồ, bốc vác, thuê mướn nhân công làm một số công việc đột xuất... cũng được coi là có việc làm. Do vậy, thực chất việc giải quyết việc làm cho đối tượng tái hoà nhập cộng đồng hầu như không đạt được hiệu quả, tỉ lệ có việc làm thực sự sau khi ra tù so với trước khi ra tù hầu như không tăng.

Để góp phần cho việc triển khai thực hiện Luật thi hành án hình sự 2010 trên thực tế có hiệu quả, thiết nghĩ: Việc sớm xây dựng và ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để thể chế hoá quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác tái hoà nhập cộng đồng nhằm làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước được giao chức năng, đồng thời tạo cơ chế hợp lý thu hút sự tham gia tích cực của đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể tổ chức xã hội.... vào hoạt động thi hành án hình sự mà cụ thể là giám sát, giáo dục, giúp đỡ người bị kết án hình sự nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án hình sự. Đó là một nội dung, một biện pháp quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự./.

Nguồn: Kiểm sát Online