Các điều kiện bảo đảm chất lượng Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 

Trong tiến trình cải cách tư pháp, quan điểm của Đảng về tăng cường vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (KSND) trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; qua đó thấy rõ hơn trách nhiệm to lớn của ngành KSND trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm cho pháp chế xã hội chủ nghĩa được giữ vững, góp phần bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.  Tuy nhiên, qua tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong ngành KSND còn nhiều hạn chế, nhất là đội ngũ Kiểm sát viên (KSV)  còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa của một số KSV còn chưa cao, chưa ngang tầm với yêu cầu cải cách tư pháp, có KSV còn thụ động, lúng túng khi xét hỏi bị cáo, chưa tích cực tranh luận để bác bỏ những luận điểm không đúng của người bào chữa và những người tham gia tố tụng, nhiều KSV chưa có khả năng diễn đạt, trình bày và phản ứng linh hoạt với vấn đề mà luật sư đưa ra tại phiên tòa, làm hạn chế chất lượng, hiệu quả hoạt động tranh tụng  …;  đồng thời trong quá trình hội nhập quốc tế đã và đang phát sinh nhiều loại vụ, việc mới, phức tạp như các tranh chấp dân sự, thương mại quốc tế, các loại tội phạm có yếu tố nước ngoài; các yêu cầu tương trợ tư pháp quốc tế. Vì vậy,   các điều kiện để bảo đảm chất lượng đội ngũ KSV là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay. Để bảo đảm các điều kiện đó, cần thực hiện một số nội dung cơ bản sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tư pháp

Trên cơ sở các quan điểm của Đảng về hoàn thiện hệ thống pháp luật tư pháp gắn liền với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Tuy việc hoàn thiện pháp luật về tư pháp có thực hiện nhưng vẫn còn chậm so với yêu cầu thực tiễn, vẫn còn tình trạng chồng chéo, quy định chung chung, chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, có những qui định pháp luật còn chưa chặt chẽ, thiếu tính thống nhất dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong khi các văn bản hướng dẫn, giải thích các quy định của luật đến nay vẫn chưa được ban hành, điều này đã gây không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ; làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, nhất là các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện KSND năm 2002 cần sớm xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử; tổ chức hệ thống Viện kiểm sát phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra... Chính vì thế, việc sớm hoàn thiện pháp luật về tư pháp là yêu cầu hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Hai là, xác định số lượng, cơ cấu Kiểm sát viên ở mỗi cấp phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Chất lượng KSV đòi hỏi phải có một số lượng, cơ cấu hợp lý so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Tính hợp lý được biểu hiện ở sự gọn nhẹ, bố trí hợp lý, hoạt động có hiệu quả; trong đó mỗi cá nhân được phát huy hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt và đạt hiệu quả cao nhất. Trên cơ sở đó, tính hợp lý về số lượng biểu hiện ở sự cân đối và phù hợp giữa số lượng KSV với khối lượng công việc phải giải quyết, tránh tình trạng có nơi thì thừa, có nơi lại thiếu ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của Ngành; đồng thời gắn liền với việc xác định cơ cấu ngạch công chức, với việc khoán kinh phí, ngân sách hoạt động của các đơn vị ở mỗi cấp kiểm sát phù hợp với yêu cầu hoạt động thực tiễn. Cải tiến phương pháp định biên làm căn cứ cho việc quyết định về số lượng và cơ cấu KSV phù hợp với khối lượng và chất lượng công việc ở từng cấp.

Về cơ cấu KSV được xem xét, đánh giá trong quan hệ giữa các ngạch công chức, biểu hiện tập trung nhất là số lượng KSV so với số lượng các chức danh công chức khác theo tỷ lệ bao nhiêu là phù hợp để bảo đảm yêu cầu hoạt động hiệu quả, hay cụ thể hơn là trong một đơn vị Viện KSND ở mỗi cấp cần có bao nhiêu công chức lãnh đạo, bao nhiêu KSV tối cao, bao nhiêu KSV trung cấp, bao nhiêu KSV sơ cấp và bao nhiêu chuyên viên, nhân viên... Sự hợp lý trong cơ cấu KSV sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả đội ngũ cán bộ, công chức trong đơn vị nói chung và đội ngũ KSV nói riêng; tạo ra sự năng động, phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động thực tiễn. Số lượng và cơ cấu KSV hợp lý sẽ tạo thành sức mạnh vững chắc, giúp cho hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ KSV ở mỗi cấp có chất lượng, hiệu quả cao. Bên cạnh đó, cũng cần xác định cơ cấu hợp lý và cân đối giữa các thế hệ về giới tính, độ tuổi, dân tộc nhằm đáp ứng được với yêu cầu công việc, có tính kế thừa giữa các thế hệ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.

Ba là, thực hiện tốt công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên gắn với việc quản lý, sử dụng

Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm KSV là quá trình lựa chọn một người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định để bổ nhiệm vào ngạch KSV tương ứng; ngoài những quy định chung, cần xem xét thận trọng tiêu chuẩn về “Đức” và “Tài”. Hiện nay, đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì mặt trái của cơ chế này đang là thách thức đối với cán bộ, công chức nói chung và đối với đội ngũ KSV nói riêng. Lợi ích vật chất, tinh thần, lối sống thực dụng tiếp tục cám dỗ, những tác động của cuộc sống là vô cùng đa dạng, đa chiều có sức công phá mạnh mẽ đến ý chí, niềm tin, tư tưởng con người. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy “Đức” làm gốc là yếu tố quan trọng, phù hợp với mọi thời đại. Tuy nhiên, quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

Trong giai đoạn hiện nay, để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị "nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp". Thể chế hoá chủ trương này, dự thảo Luật tổ chức Viện KSND năm 2002 sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ chế bổ nhiệm đối với KSV theo hướng kết hợp giữa hình thức tuyển chọn và thi tuyển; theo đó, chỉ có Hội đồng tuyển chọn đối với KSV Viện KSND tối cao; còn đối với việc bổ nhiệm KSV cao cấp, KSV trung cấp, KSV sơ cấp được thực hiện theo hình thức thi tuyển. Với cách tiếp cận này, việc tuyển chọn, bổ nhiệm KSV được nâng lên tầm cao mới, chất lượng KSV bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Công tác quản lý là phải toàn diện cả đội ngũ KSV và từng KSV. Nội dung quản lý chủ yếu về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực, sức khoẻ, cả quá trình và hiện tại, trước mắt và triển vọng lâu dài, cả công tác chung và đời tư... Quản lý đội ngũKSV để nắm và phát huy được tiềm năng, qua đó rút ra được những vấn đề cơ bản nhất, phổ biến nhất để có phương hướng, kế hoạch xây dựng đội ngũ KSV trong sạch, vững mạnh; đồng thời, sắp xếp công việc phù hợp, phát huy tốt nhất năng lực sở trường, khắc phục khuyết, nhược điểm. Sẽ không có đội ngũ KSV mạnh nếu sắp xếp, sử dụng không phù hợp với phẩm chất đạo đức, năng lực, sở trường của từng KSV. Để đội ngũ KSV phát huy được trong thực tiễn công tác thì việc quản lý, sử dụng đội ngũ KSV một cách hợp lý, khoa học là một trong những điều kiện hết sức quan trọng, cần thiết không thể thiếu; đồng thời phải kết hợp với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá KSV; khen thưởng, kỷ luật kịp thời, thể hiện sự công bằng, minh bạch, nghiêm minh là những động lực thúc đẩy mạnh mẽ đối với đội ngũ KSV phấn đấu vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Bốn là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng Kiểm sát viên

Với lộ trình cải cách tư pháp hiện nay, vai trò của Viện KSND trong hệ thống bộ máy Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng thể hiện nhiều trọng trách, vai trò ngày càng quan trọng hơn; đồng thời, thực hiện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; ngành KSND đã xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao ý thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, KSV; nếu thực hiện sớm và hiệu quả vấn đề này sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành.

Trên thực tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ KSV ngành KSND chưa nhiều và không được thường xuyên; nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng chậm được đổi mới, nặng về hình thức, chưa chú trọng bồi dưỡng chuyên sâu để nâng cao năng lực, kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hệ thống đào tạo vẫn thiếu cơ sở nền tảng của một chiến lược phát triển toàn diện, lâu dài và đồng bộ; chưa có cơ sở bồi dưỡng cán bộ, KSV theo vùng, miền; một số giảng viên năng lực chuyên môn, kiến thức thực tiễn, khả năng truyền đạt kiến thức chưa đáp ứng yêu cầu; điều kiện để nghiên cứu học tập để tiếp thu kinh nghiệm, công nghệ đào tạo KSV, công tố viên của các nước có nền tư pháp tiên tiến còn hạn chế; cơ chế, chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng còn bất cập. Bên cạnh đó, cần phải xác định việc đào tạo, bồi dưỡng đối với KSV vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ để bản thân KSV có đủ kiến thức và năng lực bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không bị tụt hậu. Việc học tập có thể thực hiện với nhiều hình thức như tự học, học từ xa, học theo các lớp của ngành kiểm sát tổ chức...; đồng thời, trong điều kiện phải đảm đương công việc được giao thì việc tự nghiên cứu, tự học tập là hết sức quan trọng và cần thiết của mỗi KSV; vì vậy, đội ngũ KSV các cấp phải thường xuyên học tập, cầu tiến, tiếp thu tốt công nghệ tiên tiến các nước khu vực và trên thế giới nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày một cao hơn.

Như vậy, với chức năng, nhiệm vụ của ngành KSND; công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với KSV để nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện phẩm chất đạo đức là hết sức cần thiết và là yêu cầu tất yếu, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Năm là, có điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ phù hợp

Điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng đội ngũ KSV ở mỗi cấp trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhìn chung, về điều kiện, phương tiện làm việc hiện nay của đội ngũ KSV chưa đáp ứng được yêu cầu, còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhất là các trang thiết bị trong đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm; các đơn vị ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có nhiều trụ sở làm việc hiện nay đã hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng không đảm bảo an toàn cho người sử dụngBên cạnh đó, chế độ đãi ngộ và chính sách tiền lương của KSV sơ cấp hiện nay còn nhiều bất hợp lý, chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ để thúc đẩy đội ngũ KSV làm việc, chưa tương xứng với tính chất công việc và trách nhiệm nghề nghiệp. Trên thực tế, tiền lương của đội ngũ KSV chưa đảm bảo cho bản thân, nhất là đội ngũ KSV sơ cấp còn quá thấp so với yêu cầu thực tế nên đời sống của họ thực sự khó khăn, vất vả lo cho cuộc sống hàng ngày, là nguyên nhân khiến một bộ phận không nhỏ KSV chưa an tâm công tác, nhiệt tình dồn tâm sức cho công tác chuyên môn, không tập trung và đầu tư đúng mức cho công việc cũng như việc học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, ngành KSND chưa thu hút được nhiều sinh viên tốt nghiệp Đại học luật chính quy loại khá trở lên vào ngành kiểm sát; các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ngành KSND chưa đủ hấp dẫn để thu hút nguồn nhân lực.

Nhằm thể chế hoá các quan điểm của Đảng, dự thảo Luật tổ chức Viện KSND năm 2002 sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ tiền lương đối với KSV, Kiểm tra viên Viện KSND do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng Viện KSND tối cao. Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên, Trợ lý điều tra có thang bậc lương riêng"; Luật còn bổ sung quy định "Viện kiểm sát nhân dân được sử dụng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật". Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng đã xác định những vấn đề Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho ngành kiểm sát trong giai đoạn hiện nay: "Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị nâng cao năng lực hoạt động cho ngành kiểm sát nhân dân".

Như vậy, với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã tạo cơ sở bước đầu cho đội ngũ cán bộ tư pháp có đầy đủ điều kiện hơn khi thực hiện nhiệm vụ. Đây được xem là những mấu chốt quan trọng đối với đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và của đội ngũ cán bộ, KSV ngành KSND nói riêng trong quá trình cải cách tư pháp nên cần sớm được thực hiện một cách có hiệu quả, thống nhất./.

Th.s Ngô Thái Hòa - vks.kiengiang.gov.vn