Bàn về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân 

Khi bàn về chức năng của Viện kiểm sát, tất cả chúng ta đều thừa nhận chức năng thực hành quyền công tố là một chức năng mang tính Hiến định. Tuy nhiên chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp thì còn nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của chúng tôi, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước ta vì những lý do cơ bản sau:

Xét về khía cạnh lịch sử lập pháp, do hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1946 không được ban bố thi hành, Quốc hội giao cho Chính phủ cùng Ban Thường vụ Quốc hội căn cứ vào các nguyên tắc của Hiến pháp ban hành các văn bản pháp luật, vì vậy Tòa án và Cơ quan công tố được tổ chức theo các Sắc lệnh của Chính phủ. Theo các Sắc lệnh nói trên thì Cơ quan công tố nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án, do Bộ Tư pháp quản lý. Ngay trong cơ cấu này thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng thể hiện khá rõ, cụ thể các Công tố viên có quyền giám sát công tác điều tra của Tư pháp Cảnh sát, kiểm soát công việc quản trị lao tù, có quyền kháng cáo bản án hình sự đã tuyên, riêng người đứng đầu Viện công tố của Tòa Thượng thẩm (Chưởng lý) còn có cả nhiệm vụ giám sát việc thi hành các Đạo luật, Sắc lệnh và Quy tắc hiện hành trong quản hạt của mình. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I (từ ngày 16/4/1958 đến ngày 29/4/1958) Quốc hội đã quyết định Viện công tố Trung ương trực thuộc Chính phủ được thành lập trên cơ sở tách bộ phận công tố trực thuộc Tòa án ra. Tuy nhiên ngay cả trong mô hình này thì Viện công tố cũng đã có những nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp như giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử của Tòa án, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự, dân sự và trong hoạt động của các Cơ quan giam, giữ, cải tạo, khởi tố và tham gia tố tụng những vụ án dân sự. Như vậy, ngay từ lúc mới hình thành, Cơ quan công tố đã thể hiện rõ xu hướng độc lập cả về tổ chức lẫn thẩm quyền hoạt động. Chức năng không chỉ giới hạn ở thực hành quyền công tố mà còn giám sát hoạt động điều tra, giám sát đối với các hoạt động tư pháp và tham gia hoạt động tố tụng dân sự, kháng cáo bản án hình sự, dân sự. Chỉ sau đó hơn một năm, Hiến pháp năm 1959- Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nước ta ghi nhận sự ra đời của một loại hình cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là cơ quan Viện kiểm sát. Tại Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định "Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định". Sự ra đời của mô hình Viện kiểm sát thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất- điều kiện nền tảng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới. Xét bối cảnh lịch sử ra đời của Viện kiểm sát thì thấy việc lựa chọn mô hình này ở nước ta, Ban soạn thảo Hiến pháp năm 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu quyết định chuyển Viện công tố thành Viện kiểm sát bao gồm cả chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật là hoàn toàn có sự cân nhắc, tính toán và thể hiện tính khách quan chứ không phải là một sự sao chép máy móc mô hình Viện kiểm sát ở một số nước trên thế giới. Đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 tuy có những bổ sung, thay đổi về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhưng chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát.

Xét về khía cạnh lý luận, hiện có quan điểm cho rằng khi pháp luật mở rộng cho công dân, tổ chức quyền khởi kiện tại tòa án khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị đe dọa thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là không cần thiết. Quan điểm này là không thuyết phục vì trong một xã hội dân chủ cần có nhiều kênh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật. Mặt khác, kể cả người dân có quyền tự bảo vệ mình trước pháp luật thì họ cũng không có đủ điều kiện để sử dụng triệt để quyền năng này. Vấn đề là cần một lá chắn từ phía bộ máy nhà nước để bảo vệ quyền tự do và lợi ích chính đáng của người dân, đây là đòi hỏi cấp thiết. Hoàn thiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát chính là tạo một kênh quan trọng, một lá chắn hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức. Mặt khác, nếu ta bỏ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát thì chức năng này sẽ giao cho ai? Và nếu giao cho một cơ quan nào đó thì liệu họ có làm tốt hơn Viện kiểm sát hay không? Thực tế đã có chứng minh khi bỏ chức năng kiểm sát văn bản của Viện kiểm sát và giao cho Cục kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp cấp tỉnh làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, thì rất nhiều văn bản có vi phạm đã không được phát hiện kịp thời, thậm trí không phát hiện được. Còn thực sự nếu không giao chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp cho bất kỳ cơ quan nào thì Bộ máy nhà nước đã tự tạo ra một khoảng trống pháp luật và đó là nguyên nhân dẫn đến sự lạm dụng quyền trong hoạt động tư pháp. Nếu vậy thì nhà nước mất đi một công cụ quan trọng để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tư pháp.

Xét về khía cạnh thực tiễn, hai chức năng hiện nay của Viện kiểm sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp luôn là tiền đề cho chức năng thực hành quyền công tố, đó là mối liên hệ hữu cơ giữa hai chức năng, đơn cử hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giam, tạm giữ, kiểm sát điều tra, xét xử làm cơ sở cho các quyết định về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát chuẩn xác hơn. Đặc biệt, quá trình thực hiện hoạt động tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng còn được pháp luật trao thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng (bắt, tạm giữ, tạm giam…). Những sai sót, vi phạm trong hoạt động tư pháp luôn có khả năng dẫn đến những thiệt hại không thể bù đắp được. Do vậy, hoạt động tư pháp phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong hệ thống và cơ chế giám sát bên ngoài hệ thống, cơ chế giám sát trực tiếp và gián tiếp. Những cơ chế này phải thường xuyên, có tính chuyên nghiệp cao. Thực tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát thời gian qua đạt được những kết quả rất quan trọng, hàng năm, Viện kiểm sát các cấp đã phát hiện, ban hành hàng nghìn kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục vi phạm. Thực tiễn đó đã kiểm nghiệm và chứng minh trong điều kiện cụ thể của Nhà nước ta,Viện kiểm sát với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ chế giám sát tư pháp hữu hiệu và bổ trợ hiệu quả nhất cho chức năng thực hành quyền công tố.

Xét trên khía cạnh về quan điểm của Đảng, Nhà nước và Quốc hội, qua sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW, Bộ Chính trị nêu rõ “Một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng xét xử các vụ án dân sự thời gian qua còn thấp là do chưa có cơ chế giám sát, kiểm sát hiệu quả việc giải quyết các vụ án này. Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị khẳng định “Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay”. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI yêu cầu “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Tại phiên họp lần thứ tư, ngày 12/03/2012 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Đồng chí Trương Tấn Sang- Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng ban cải cách tư pháp Trung ương đã kết luận như sau: “Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân, đồng thời tiếp tục đổi mới, kiện toàn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nhiệm vụ chính trị theo đúng chủ trương, đường lối đã được xác định trong các văn kiện của Đảng”. Nhiều đạo luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp như: Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự, Luật tố tụng hành chính, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo hướng tăng cường vai trò giám sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Các văn bản pháp luật này đều khẳng định một cách nhất quán yêu cầu của Đảng, Quốc hội phải tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên tất cả các lĩnh vực tư pháp. 

Đảng ta đã khẳng định xây dựng nhà nước pháp quyền là vấn đề có tính quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, một trong những yêu cầu mới của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các Văn kiện của Đại hội XI là bảo đảm sự kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vì vậy, tiếp tục duy trì Viện kiểm sát với tính cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời có các cơ chế pháp lý để tăng cường hiệu lực, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát hoạt động tư pháp chính là biện pháp quan trọng góp phần đẩy mạnh các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta.

Tuy nhiên để Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân tiếp tục ghi nhận chức năng, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp sửa đổi thì toàn ngành và mỗi cán bộ Kiểm sát viên cần thấy rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và có các biện pháp cụ thể để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp và mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với một nền tư pháp vững mạnh bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và các quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Một trong những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài là phải xây dựng đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên “vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”. Đó cũng là mục tiêu mà cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân cần quyết tâm phấn đấu để đạt được./.

 Tiến sỹ Nguyễn Văn Quảng - vienkiemsathaiphong.gov.vn