ĐIỂM MỚI VỀ CHỨNG CỨ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (viết tắt là BLTTDS 2015) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua vào ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, có những nội dung bao gồm các quy định về những nguyên tắc c ơ bản trong tố tụng dân sự; tr ình tự, thủ tục khởi kiện để tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự và những vấn đề mới cơ bản khác. Trong phạm vi bài viết này, tôi phân tích những quy định mới về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS 2015; làm rõ bản chất của chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng cứ và chứng minh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Về chứng cứ, chứng minh được quy định tại Chương VII BLTTDS năm 2015, gồm có 20 Điều: từ Điều 91 đến Điều 110 BLTTDS 2015, trong đó sửa đổi 20 Điều.

Chứng minh được quy định tại Điều 91, 92 BLTTDS 2015; là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Các chủ thể tố tụng dân sự thông qua hoạt động chứng minh phải xác định được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự và làm cho mọi người thấy rõ nó là có thật, là đúng với thực tế. Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự. Bản chất vụ việc dân sự có được làm sáng tỏ hay không phụ thuộc vào hoạt động chứng minh có làm sáng tỏ được sự thật khách quan của vụ việc dân sự hay không.

Còn chứng cứ được quy định từ Điều 93 đến Điều 110 BLTTDS 2015. Theo Điều 93 BLTTDS 2015 thì “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.

Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng trong tố tụng dân sự. Mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ. Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các cơ quan tiến hành tốt tụng cũng xem xét được tính đúng đắn của sự việc để bảo vệ lợi ích của người dân và bảo vệ pháp luật.

Thực tế trong thời gian vừa qua, nội dung quy định về chứng cứ, chứng minh trong BLTTDS năm 2004 đã bộc lộ nhiều bất cập: có những tài liệu chứng cứ do cơ quan, tổ chức lưu giữ mà đương sự không thể tự mình thu thập được; hoặc có những trường hợp, thẩm phán thấy cần tiến hành một số hoạt động thu thập tài liệu chứng cứ mới đảm bảo cho việc giải quyết vụ án, nhưng do đương sự không yêu cầu nên thẩm phán không có cơ chế để thực hiện... Do đó, so với BLTTDS năm 2004, BLTTDS 2015 có những sửa đổi bổ sung về nội dung này như sau:

Điểm mới thứ nhất, về nghĩa vụ chứng minh:

Quy định rõ về nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự cụ thể là một trong những nội dung quan trọng của BLTTDS 2015 nhằm làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của mình khi đưa ra yêu cầu; thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; nếu đương sự không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và Tòa án không thể thu thập chứng cứ được thì có khả năng bị Tòa tuyên bác yêu cầu. BLTTDS 2015 đã quy định:

Thứ nhất, nghĩa vụ chứng minh của đương sự: Theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015 đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Thứ 2, chứng minh của người đại diện: Theo quy định tại Điều 85 BLTTDS 2015, Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của BLDS; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

Thứ 3, Chứng minh của người làm chứng: Theo quy định tại Điều 87 BLTTDS 2015, người làm chứng có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc; khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết trừ trường hợp mà lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích mới mình.

            Thứ 4, Chứng minh của người giám định: Theo quy định tại Điều 88 BLTTDS 2015, người giám định có nghĩa vụ trình bày, giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan. Trường hợp không giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn, tài liệu cung cấp cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng được thì người giám định phải thông báo cho Tòa án có thẩm quyền.

            Thứ 5, Chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Theo quy định tại Điều 76 BLTTDS 2015, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Thứ 6, Chứng minh của Viện kiểm sát nhân dân: Theo khoản 6 Điều 97 BLTTDS 2015, Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho viêc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, phúc thẩm. Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp (theo Điều 279 BLTTDS 2015).

Thứ 7, Chứng minh của Tòa án: Theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ. Tại khoản 2 Điều 6 của BLTTDS 2015 thì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do luật định.

Như vậy, chứng minh được xem là một nội dung quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự. Về nguyên tắc, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải có trách nhiệm chứng minh. Tuy nhiên, trên thực tế, xuất phát từ đặc trưng của vụ việc dân sự, đối tượng tham gia tố tụng dân sự khiến họ gặp khó khăn trong việc chứng minh cho yêu cầu của mình. Để bảo đảm cho người yếu thế không thể cung cấp được tài liệu chứng cứ vẫn có điều kiện thực hiện việc tranh tụng, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, điểm mới của BLTTDS 2015 là đã đặt ra vấn đề trong một số trường hợp đương sự có yêu cầu không phải có nghĩa vụ chứng minh mà nghĩa vụ chứng minh phải thuộc về người bị yêu cầu (bị đơn) như sau:

+ Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

+ Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.

+ Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;

+ Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.

Điểm mới thứ 2, những tình tiết sự kiện không phải chứng minh.

Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 BLTTDS 2015.

BLTTDS 2015 đã có những quy định khá chặt chẽ, và thể hiện quyền chủ động của Thẩm phán trong việc đánh giá chứng cứ. Theo đó, bên cạnh việc thừa nhận những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận hoặc là đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đã có hiệu lực pháp luật hoặc những tình tiết, sự kiện khác đã được ghi trong văn bản và đã được công chứng, chứng thực thuộc trường hợp không phải chứng minh như quy định tại điểm c khoản 1 Điều 80 BLTTDS năm 2004, điểm c khoản 1 Điều 92 BLTTDS 2015 còn quy định thêm “…trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính”. Với quy định mới này đã tháo gỡ cho thẩm phán giải quyết được dứt điểm vụ án dân sự, đặc biệt là bảo vệ kịp thời quyền lợi của đương sự.

Ngoài ra, tại các khoản 2, 3 Điều 92 BLTTDS 2015 cũng quy định thêm một số nội dung mới, liên quan đến sự thừa nhận của đương sự cũng như người đại diện hợp pháp của đương sự khi họ tham gia tố tụng trong vụ án dân sự. Theo đó, khi một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Trường hợp đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. 

Nói chung, trong quá trình cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nếu các tình tiết sự kiện được đưa ra thuộc trường hợp miễn trừ nghĩa vụ chứng minh theo luật định, thì các đương sự không cần thiết phải chứng minh giá trị pháp lý của các tình tiết, sự kiện đó. Tuy nhiên, việc pháp luật quy định không phải chứng minh, cần hiểu là không phải chứng minh đối với bản thân các tình tiết, sự kiện đó, chứ không phải đối với tất cả các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án.

Điểm mới thứ 3, về nguồn chứng cứ:

Nguồn chứng cứ là hình thức tồn tại, chứa đựng chứng cứ. Chứng cứ chỉ có thể hình thành và được thu nhập từ nguồn nhất định.

Theo Điều 94 BLTTDS 2015, nguồn chứng cứ bao gồm các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử, vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Ở đây, BLTTDS 2015 bổ sung thêm trường hợp dữ liệu điện tử; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; Văn bản công chứng, chứng thực cũng được gọi là một trong những nguồn của chứng cứ.

Về dữ liệu điện tử: Đây là phương tiện hiện nay trong các mối quan hệ về dân sự, kinh doanh, thương mại được sử dụng khá phố biến. Do đó, việc bổ sung nguồn chứng cứ này là cần thiết nhằm đáp ứng được những yêu cầu thực tế đặt ra.

Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập: có nghĩa là những văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý phải do người có chức năng lập thì mới được xem là nguồn của chứng cứ vì  theo quy định của pháp luật thì việc ghi nhận lại sự kiện, hành vi pháp lý có thể do những người khác nhau thực hiện. Việc bổ sung nguồn chứng cứ này là để bảo đảm tốt hơn nữa quyền lợi của đương sự. 

Văn bản chứng thực là các giấy tờ, văn bản, hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực. Tuy nhiên, không phải mọi văn bản công chứng, chứng thực đều là nguồn của chứng cứ mà văn bản công chứng, chứng thực đó phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật về công chứng, chứng thực quy định. Hiện nay, do nhu cầu nên văn bản công chứng, chứng thực được thực hiện phổ biến. Vì vậy, việc bổ sung nguồn văn bản công chứng, chứng thực là cần thiết. Việc thực hiện công chứng, chứng thực do người của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện nên tính xác thực cao, là cơ sở quan trọng để Tòa án có được quyết định chính xác khi giải quyết vụ án.

Điểm mới thứ 4, về xác minh thu thập chứng cứ:

Trước đây, BLTTDS 2004 chưa quy định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân thu thập tài liệu chứng cứ bằng các biện pháp nào. Điều 97 BLTTDS 2015 quy định các biện pháp các tổ chức, cá nhân thu thập tài liệu, chứng cứ: Thập các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; đề xuất đưa ra những người làm chứng và xác lập lời khai của những người làm chứng; yêu cầu UBND địa phương xác nhận chữ ký của người làm chứng cũng như có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ các tài liệu cho sao chép các tài liệu đó; Đương sự có quyền yêu cầu tòa án thu thập tài liệu chứng cứ trong trường hợp đương sự không thu thập được; có quyền yêu cầu tòa án định giá, thẩm định tại chỗ.

Đồng thời xuất phát từ mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp với tranh tụng, cho nên vai trò của người tiến hành tố tụng không chỉ giới hạn ở việc chỉ giải quyết trong phạm vi chứng cứ do đương sự cung cấp mà còn phải thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án được khách quan toàn diện, thông qua các biện pháp như: lấy lời khai đương sự, lấy lời khai người làm chứng, đối chất, thẩm định tại chỗ, giám định, định giá tài sản...

Khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án. Việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng không phải ra quyết định.

Việc quy định như trên nhằm thể hiện vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp rất cần thiết cho việc giải quyết vụ án, đồng thời cũng khẳng định rõ không phải mọi thu thập chứng cứ đều do Tòa án chủ động thực hiện, như: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng”.

Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ:  Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú.

BLTTDS 2015 cũng quy định nghĩa vụ của thẩm phán trong 3 ngày làm việc kể từ khi thu thập tài liệu, chứng cứ, phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự.

Về việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát: Kế thừa quy định của BLTTDS 2004, khoản 6 Điều 97 BLTTDS 2015 quy định Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Như vậy, ngoài trường hợp trên, Viện kiểm sát không có quyền thu thập tài liệu chứng cứ. Các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát theo quy định tại BLTTDS 2015 mở rộng hơn so với BLTTDS 2004, không chỉ giới hạn ở biện pháp “Yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng” như quy định của BLTTDS 2004. Mà Viện kiểm sát được áp dụng đầy đủ các biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ.

Qua thực tiễn áp dụng BLTTDS 2015, tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng nhận thấy: BLTTDS 2015 với nhiều nội dung mới, trong đó có những quy định mới liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự. Trong các nhiệm vụ quyền hạn đó có một quyền quy định khá chi tiết, cụ thể hơn so với Bộ LTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) và là cơ sở để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, đó chính là quyền yêu cầu.

Quyền yêu cầu của Kiểm sát viên được quy định tại khoản 3 Điều 58 BLTTDS 2015: ”Kiểm sát viên khi được Viện trưởng phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ, việc dân sự” và tại Điều 22 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao quy định ”Trong quá trình giải quyết vụ, việc dân sự, nếu Kiểm sát viên xét thấy cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ, việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật thì Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ”.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào Viện kiểm sát có yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập thêm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tòa án đều bắt buộc phải thực hiện. Việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên là tùy thuộc vào việc nhận định, đánh giá của Thẩm phán và Hội đồng xét xử.

Từ khi BLTTDS 2015 có hiệu lực đến nay, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã thụ lý 12.287 vụ, việc (có 11.809 vụ, việc sơ thẩm; 478 vụ, việc phúc thẩm). Trong đó, án sơ thẩm thụ lý mới 10.450 vụ, việc (cấp tỉnh: 242 vụ, việc; cấp huyện 10.208 vụ, việc); án phúc thẩm thụ lý mới 432 vụ, việc. Tòa án đã giải quyết 10.291 vụ, việc (9.858 vụ, việc sơ thẩm; 433 vụ, việc phúc thẩm), đạt tỷ lệ %. Số án bị cấp phúc thẩm xử hủy, sửa là 139 vụ, chiếm tỷ lệ %. Thông qua hoạt động kiểm sát, Viện kiểm sát 2 cấp đã kháng nghị phúc thẩm 52 vụ (tỉnh 23 vụ, huyện 29 vụ), Tòa án chấp nhận kháng nghị 37 vụ (tỉnh 18 vụ, huyện 19 vụ); Tòa không chấp nhận kháng nghị 07 vụ (tỉnh 04 vụ, huyện 03 vụ); Đề nghị kháng nghị GĐT 10 vụ, Viện kiểm sát Tối cao đã có văn bản trả lời 03 vụ, có cơ sở kháng nghị 03 vụ; Viện kiểm sát tỉnh đã ban hành 87 văn bản kiến nghị; Viện kiểm sát 2 cấp đã ban hành 119 văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, trong đó: tỉnh 11 văn bản, huyện 108 văn bản (số liệu thống kê từ 01/7/2016 đến 31/5/2018).

Việc bổ sung cho Viện kiểm sát quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự sẽ tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát trong tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ trong quá trình giải quyết vụ án là yếu tố quan trọng để bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự đúng pháp luật. Từ đó sẽ hạn chế được số lượng án bị hủy, tiết kiệm được thời gian, tiền của cho xã hội và các đương sự. Tuy nhiên, để hoạt động này được thực hiện có hiệu quả, Viện kiểm sát cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong việc thực hiện quyền yêu cầu, đặc biệt là thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp đã được quy định tại Chương III – Thông tư liên tịch số 02/2016/VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016. Khi Tòa án không thực hiện đúng các quy định tại Thông tư này, Kiểm sát viên cần tham mưu Lãnh đạo Viện ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.

Thứ 2, để Tòa án có thời gian thực hiện các nội dung yêu cầu của Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc giải quyết và tham gia phiên tòa cần nâng cao trách nhiệm trong việc nghiên cứu hồ sơ, rút ngắn thời gian nghiên cứu, sớm đề ra các yêu cầu khi thấy cần thiết, tránh trường hợp khi ngày xét xử đã đến gần Kiểm sát viên mới đề ra yêu cầu.

Quy định rõ về chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh là một trong những nội dung quan trọng của BLTTDS 2015 nhằm làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của mình khi đưa ra yêu cầu, thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, để xác định chứng cứ nào là có thật, giúp cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan, đòi hỏi Kiểm sát viên và Thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ, có kiến thức xã hội và khả năng nhạy bén trong quá trình xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ và BLTTDS 2015 đã có những quy định phù hợp với thực tế, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân./.