THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 

Kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án là một trong những thao tác nghiệp vụ quan trọng của công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. Bởi lẽ , mục đích chính của xác minh điều kiện thi hành án là để trả lời câu hỏi hồ sơ thi hành án có điều kiện thi hành hay chưa có điều kiện thi hành án, có tổ chức việc thi hành án được hay không để phân loại án; từ đó có biện pháp đôn đốc, tổ chức thi hành án phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự . Và chỉ có kiểm sát tốt ngay từ giai đoạn xác minh điều kiện thi hành án mới chính là cơ sở đảm bảo cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án được kịp thời, đầy đủ và đúng pháp luật; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước.

Khi kiểm sát phát hiện vi phạm trong xác minh điều kiện thi hành án càng sớm thì việc khắc phục hậu quả càng nhẹ, làm tốt công tác kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án không đơn thuần chỉ là việc hạn chế vi phạm trong tổ chức thi hành án, hạn chế tổn thất mà còn nâng cao vị thế của ngành kiểm sát nhân dân. Do vậy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc xác minh điều kiện thi hành án là một yêu cầu mang tính chuyên môn đặt ra đối với công chức, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hai cấp được giao nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.

Vì vậy, muốn kiểm sát tốt việc xác minh điều kiện thi hành án thì bắt buộc Công chức, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính phải nắm chắc và vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự.

Qua số liệu thực tế, có thể thấy khối lượng vụ, việc thi hành án tương đối cao và ngày càng gia tăng. Mặc dù tổng số tiền thi hành giảm so với cùng kỳ năm 2018 nhưng tính chất ngày càng phức tạp, số vụ việc phải xác minh nhiều, kéo dài do phải phải xác minh ở nhiều cơ quan, tổ chức, nhiều địa điểm, nhiều lần để cập nhật đầy đủ thông tin, điều kiện thi hành án do địa bàn tương đối rộng khoảng 9.773,54km2/1.262.000 nghìn người, có 43 dân tộc thiểu số sinh sống với 12 đơn vị hành chính trải dài và tiếp giáp với nhiều tỉnh như Đồng Nai, Đăk Lắk, Bình Thuận...nên khó khăn cho Chấp hành viên, Kiểm sát viên trong việc đi lại để xác minh điều kiện thi hành án.

Kết quả công tác kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án dân sự: Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành kiểm sát tổng số là 15.755 việc/3.210.907.418.000 đồng trong đó 11.805 việc/1.283.992.200.000 đồng có điều kiện thi hành, 3.950 việc/1.926.925.820.000 đồng chưa có điều kiện thi hành (đạt 100%), nhất là việc xác minh điều kiện thi hành án đối với hồ sơ chưa có điều kiện thi hành, đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn thi hành án. Tỷ lệ Viện Kiểm sát trực tiếp xác minh điều kiện thi hành án luôn vượt chỉ tiêu đề ra từ 1 đến 3% (Chỉ tiêu đề ra 15 %), đa số các trường hợp này đều không có điều kiện thi hành án đa số người lao động phổ thông tự do nên thu nhập thấp lại không có hợp đồng lao động, tiền công, tiền lương được người sử dụng lao động trả theo ngày hoặc mới chấp hành xong hình phạt tù không có công việc ổn định....

Kết quả kiểm sát đối với hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự: Thông qua các loại hồ sơ thi hành án xong, hồ sơ đang giải quyết, hồ sơ chưa có điều kiện thi hành và thông qua trực tiếp kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Lâm Đồng nhận thấy về cơ bản hồ sơ xác minh điều kiện thi hành án đã đảm bảo về trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án; có tiến hành xác minh, thu thập thông tin về điều kiện thi hành án…Tuy nhiên, vẫn còn một số hồ sơ có vi phạm như: Đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng không tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, chậm xác minh điều kiện thi hành án, không ra thông báo kết quả xác minh về việc chưa có điều kiện thi hành án cho đương sự, xác minh chưa đầy đủ tại nơi có thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, không đăng tải trên trang thông tin điện tử về thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành, xác minh điều kiện thi hành án chưa đầy đủ hoặc thiếu thông tin cần thiết, chậm xác minh lại tài sản của người phải thi hành án, khi lập biên bản xác minh không có đầy đủ chữ ký của chính quyền địa phương…Ngoài ra, Chấp hành viên còn chủ quan không tiến hành xác minh các trường hợp có biểu hiện trốn phí thi hành án thông qua đơn yêu cầu đình chỉ thi hành án.

Kết quả công tác Kháng nghị, Kiến nghị: Qua kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Lâm Đồng đã kịp thời ban hành 02 Kháng nghị, 38 Kiến nghị tổng hợp. Trong đó 01 kháng nghị về việc vi phạm xác minh điều kiện thi hành án, cụ thể: 06 trường hợp Chấp hành viên chậm tiến hành xác minh điều kiện thi hành án khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014; 02 trường hợp Cơ quan thi hành án không tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, không ban hành Quyết định, thông báo về việc chưa có điều kiện thi hành án nhưng vẫn xếp vào diện không có điều kiện thi hành án với tổng số tiền phải thi hành là 782.533.437.195 đồng (Số tiền án phí nộp vào Ngân sách Nhà nước: 23.650.195đ, người phải thi hành án phải thanh toán cho được thi hành án: 782.509.787.000đ) vi phạm về xác định điều kiện thi hành án theo quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); 01 trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không tiến hành xác minh điều kiện thi hành án dẫn đến vụ việc kéo dài nhiều năm...38 Kiến nghị tổng hợp vi phạm trong đó có vi phạm việc xác minh điều kiện thi hành án: 09 trường hợp hết thời hạn tự nguyện nhưng chậm tiến hành xác minh, vi phạm Khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); 05 trường hợp chậm xác minh điều kiện thi hành án theo định kỳ, 13 trường hợp không tiến hành thông báo cho người được thi hành án về kết quả xác minh điều kiện thi hành án, vi phạm Khoàn 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) ; 03 trường hợp lập biên bản xác minh không đảm bảo yêu cầu như: Biên bản xác minh không có chữ ký của Chấp hành viên, Ủy ban nhân dân và Công an cấp xã, không làm rõ tài sản chung của vợ chồng để từ đó xác định tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, vi phạm điểm 2, Khoản 4, Điều 44 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Do đó, hàng năm các chỉ tiêu về Kháng nghị, Kiến nghị của viện kiểm sát nhân dân hai cấp đều đạt và vượt chỉ tiêu của Ngành đề ra. 100% các Kháng nghị, Kiến nghị về xác minh điều kiện thi hành án đều được Cơ quan thi hành án hai cấp chấp nhận toàn bộ, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự hai cấp đều có văn bản chỉ đạo, yêu cầu Chấp hành viên làm rõ nguyên nhân dẫn đến vi phạm để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời và khắc phục những vi phạm trong thời hạn quy định.

Trong thực tiễn công tác kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án dân sự vẫn còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như sau:

Mặc dù luật đã quy định rõ trách nhiệm, thời hạn, nội dung cung cấp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải cung cấp thông tin cho Chấp hành viên khi xác minh điều kiện thi hành án tại Khoản 6 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) nhưng lại chưa có quy định về chế tài xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vi phạm trong việc cung cấp không đúng nội dung thông tin, vi phạm thời hạn luật định làm ảnh hưởng đến kết quả xác minh điều kiện thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) chỉ quy định Cơ quan Thi hành án dân sự phải gửi cho Viện kiểm sát các quyết định về việc không có điều kiện thi hành án nhưng không quy định bắt buộc gửi các tài liệu kèm theo, dẫn đến khó khăn trong việc xác định vi phạm để kịp thời ban hành Kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, đối với những trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp đi xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng báo dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn như các huyện Đam Rông, Đạ Tẻh, Đạ Huoai... nhưng hầu như không có kinh phí hỗ trợ, phương tiện đi lại khó khăn, môi trường làm việc độc hại nhưng chưa có chế độ phụ cấp phù hợp nên Kiểm sát viên chỉ tiến hành xác minh theo chỉ tiêu, kế hoạch hoặc xác minh đối với những trường hợp thật sự cần thiết như: đã mời người được thi hành án và phải thi hành án đến làm việc, nhưng các đương sự không đến, không hợp tác, hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án... Hơn nữa, khi Kiểm sát viên trực tiếp đi xác minh điều kiện thi hành án phải mời các thành phần tham gia đoàn xác minh nhưng không có kinh phí thanh toán cho các thành phần tham gia, phương tiện phục vụ cho việc xác minh...

Từ những phân tích về thực trạng và khó khăn, vướng mắc nêu trên, công chức, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính cần thực hiện tốt một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát đối với việc xác minh thi hành án trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất: Cần nắm chắc và vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật về công tác thi hành án dân sự nói chung và quy định về xác minh điều kiện thi hành án, kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án trong thực tiễn công tác; Phải thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật liên quan đến xác minh điều kiện thi hành án, thời hạn xác minh đối với người chấp hành hình phạt tù, hoặc không xác minh được địa chỉ của người phải thi hành án...

Thứ hai: Chủ động, nhạy bén tổng hợp các nguồn tin để xác định vi phạm của Cơ quan thi hành án như: Tin hoạt động nghiệp vụ, đơn thư của các đương sự do Cơ quan Đảng, Cơ quan hữu quan, Báo, Đài, Viện kiểm sát các cấp chuyển đến phản ánh việc vi phạm của Chấp hành viên trong hoạt động xác minh điều kiện thi hành án; Qua đơn thư khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự hoặc kiểm sát hồ sơ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự; Qua các loại hồ sơ thi hành án do Cơ quan Thi hành án cung cấp theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhất là qua công tác kiểm sát trực tiếp vì Kiểm sát viên có điều kiện, thời gian nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xác minh điều kiện thi hành án toàn diện và đầy đủ nhất để phát hiện vi phạm trong việc xác minh điều kiện thi hành án bởi lẽ Điều 44 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định Cơ quan Thi hành án dân sự phải gửi cho Viện kiểm sát các quyết định về thi hành án mà không quy định bắt buộc gửi tài liệu xác minh điều kiện thi hành án kèm theo quyết định.

Thứ ba: Phải phân loại các loại tài sản để kiểm sát việc xác minh điều kiện thi hành án chính xác và đầy đủ. Khi kiểm sát việc xác minh đối với các loại tài sản quy định phải đăng ký quyền sở hữu như ô tô, xe máy… phải xác minh làm rõ tình trạng tài sản do cơ quan nào quản lý, ai đang quản lý sử dụng tránh trường hợp chuyển nhượng để tẩu tán tài sản. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, ngoài việc xác minh tài sản có đăng ký quyền sở hữu hay không, Kiểm sát viên cần làm rõ diện tích, mục đích sử dụng đất, thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cơ quan có thẩm quyền cấp cho ai, cá nhân hay hộ gia đình, có tranh chấp hay không; từ đó đối chiếu với biên bản xác minh của cơ quan thi hành án có ghi đầy đủ ý kiến của các thành viên và người liên quan hay không nhằm bảo đảm khi tiến hành kê biên, bán đấu giá tài sản không xảy ra tranh chấp...

Thứ tư: Nhận thức, đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính nói chung và công tác kiểm sát việc tổ chức xác minh điều kiện thi hành án dân sự nói riêng để tăng cường ý thức trách nhiệm, kỷ luật khi thi hành công vụ; tham gia đầy đủ các đợt tập huấn do Viện KSND Tối cao tổ chức; tự học tập, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu kịp thời các văn bản pháp luật mới ban hành, tích cực học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để nâng cao trình độ, nắm vững các quy định của pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp từ đó xác định chính xác vi phạm của cơ quan thi hành án dân sự  và các cơ quan liên quan, tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành kiến nghị, kháng nghị kịp thời nhằm khắc phục các vi phạm trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.

Thứ năm: Kiểm sát viên phải đầu tư thời gian nhiều hơn nữa, nghiên cứu các giáo trình hướng dẫn chuyên sâu về công tác kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án do Viện KSND Tối Cao ban hành nhằm kết hợp giữa tổng kết lý luận với thực tiễn là cơ sở, nền tảng quan trọng trong hoạt động kiểm sát thi hành án, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự. Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn trực tiếp, trực tuyến về nghiệp vụ do Viện kiểm sát hai cấp tổ chức nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thứ sáu: Tiếp tục làm tốt công tác phối hợp với Chấp hành viên, đề nghị Chấp hành viên cung cấp các biên bản xác minh điều kiện thi hành án để tiến hành kiểm sát. Thông qua việc kiểm sát các biên bản xác minh điều kiện thi hành án kịp thời phát hiện những thiếu sót, mâu thuẫn để đề ra yêu cầu xác minh. Căn cứ quy chế phối hợp liên ngành đề nghị Chấp hành viên phải phô tô biên bản xác minh gửi cho Viện kiểm sát để việc kiểm sát được kịp thời, đúng quy chế. Ngoài ra, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp với cơ quan hữu quan để kịp thời phát hiện những vi phạm trong việc xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên.

Thứ bảy: Khi phát hiện vi phạm trong hoạt động tổ chức thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nhất là trong việc xác minh điều kiện thi hành án cần kịp thời, kiên quyết tham mưu cho Lãnh đạo ban hành Kiến nghị, Kháng nghị. Trường hợp có vướng mắc thì kịp thời tham mưu xây dựng báo cáo thỉnh thị Viện KSND Tối cao để nhận được quan điểm chỉ đạo kịp thời nhằm bảo đảm cho quá trình tổ chức thi hành án dân sự được đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, của cơ quan, tổ chức và lợi ích Nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

Thứ tám: Kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện pháp luật về Thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng biện pháp xác minh điều kiện thi hành án, trước hết chúng ta cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thi hành án dân sự nói chung và các quy định xác minh, xác minh lại nói riêng như: Xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật; ban hành các thông tư liên tịch phối hợp các ngành liên quan; các quy chế phối hợp liên ngành... Đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến rất nhiều ngành, lĩnh vực, nhất là việc xác minh đòi hỏi tham gia của nhiều lực lượng phối hợp. Nếu có hành lang pháp lý quy định rõ ràng trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan sẽ không còn tình trạng kéo dài hay đùn đẩy trách nhiệm. 

Thứ chín: Đề nghị Vụ Kiểm sát Thi hành án dân sự, thi hành án hành chính Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tiếp tục tăng cường trả lời thỉnh thị, hướng dẫn nghiệp vụ, rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự; tiếp tục tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu, xây dựng nhiều chuyên đề, kiểm sát việc xác minh thi hành án để kịp thời phát hiện vi phạm ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm. Sớm có quy định về chế độ bồi dưỡng, đãi ngộ cho công chức, Kiểm sát viên khi trực tiếp xác minh điều kiện thi hành án.Trên đây là thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị tại địa phương, nâng cao vị thế của Ngành kiểm sát góp phần cùng toàn Ngành thực hiện tốt mục tiêu“Xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng chất đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ năng lực thực thi pháp luật. Nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cường năng lực Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường các nguồn lực bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; triển khai các hoạt động hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập ngành KSND (26/7/1960-26/7/2020)” theo Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 28/12/2018 của Viện trưởng KSND Tối cao.