Báo cáo tình hình chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp 

Quán triệt, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp; Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác kiểm sát năm 2013 và Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh Lâm Đồng về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm an ninh chính trị ở địa phương;

Lãnh đạo VKSND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo VKS hai cấp tiếp tục thực hiện đồng bộ, toàn diện 2 giải pháp đột phá 6 nhiệm vụ trọng tâm đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong công tác kiểm sát tư pháp thời gian qua, Viện KSND tỉnh Lâm Đồng đã đạt được kết quả như sau:

I. VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1. Trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự

1.1. Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu phản ánh việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: VKS đã kiểm sát 1.732 tin báo (cũ 323, mới 1.409 tin). Đã giải quyết 1.586 tin báo, đạt tỷ lệ 91%, tăng 1% so với chỉ tiêu theo Nghị quyết 37 của Quốc hội đề ra; trong đó: Khởi tố 721 tin báo; không khởi tố 323 tin báo; xử lý khác 542 tin báo. Còn lại 146 tin báo.

- Những vi phạm pháp luật: Qua công tác kiểm sát phát hiện Cơ quan điều tra vi phạm thời hạn giải quyết 178 tố giác, tin báo; không thụ lý giải quyết 10 tố giác, tin báo về tội phạm; quyết định khởi tố và không khởi tố vụ án hình sự quá hạn 60 vụ; không thông báo tố giác, tin báo và gửi quyết định khởi tố cho VKS cùng cấp; không gửi quyết định không khởi tố vụ án cho VKS 15 quyết định; khởi tố không đúng tội danh 1 trường hợp; Chưa thực hiện đúng việc ghi sổ thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; chưa tích cực, chủ động xác minh xử lý dẫn đến tố giác, tin báo quá hạn.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

- VKS 2 cấp đã ban hành 3 kháng nghị, 15 kiến nghị đối với Cơ quan điều tra. Nội dung kháng nghị, kiến nghị yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục, xử lý và phòng ngừa vi phạm trong thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo đảm bảo đúng thời hạn, thẩm quyền; sau khi tiếp nhận, giải quyết phải thông báo kết quả thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo và gửi quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự cho VKS cùng cấp trong thời gian quy định. Thông qua công tác KSĐT, VKS đã từ chối phê chuẩn khởi tố 6 bị can, từ chối phê chuẩn bắt tạm giam 6 bị can do không đủ cơ sở xử lý hình sự (được CQĐT chấp nhận). Ban hành 4 văn bản yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự, đồng thời yêu cầu Thủ trưởng CQĐT tự kiểm tra, thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho VKS.

- Đã có 18 văn bản của Cơ quan điều tra trả lời, tiếp thu, thực hiện kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của VKS. Công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực này đã góp phần chuyển biến tích cực trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo của Cơ quan điều tra hai cấp, số tố giác, tin báo tội phạm quá hạn giảm dần; việc khởi tố đảm bảo chính xác, không để xảy ra oan, sai.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

- Cơ quan điều tra hai cấp đã tích cực, chủ động trong công tác tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm đã vào sổ thụ lý, phân công Điều tra viên điều tra, xác minh kịp thời, việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, bị can đảm bảo có căn cứ, chính xác nên không có vụ án nào phải đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội. Kết quả xử lý tố giác, tin báo về tội phạm đều được thông báo cho tổ chức, cá nhân cung cấp tố giác, tin báo theo đúng quy định.

- VKS thực hiện nhiều biện pháp đổi mới, tăng cường phối hợp với Cơ quan điều tra để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp; tích cực nắm và quản lý việc tiếp nhận giải quyết  tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra. Hàng ngày, hàng tuần và thông qua giao ban liên ngành để đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ giải quyết nhất là đối với tố giác, tin báo vướng mắc, phức tạp, sắp quá hạn hoặc quá hạn; tăng cường kiểm sát ngay từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, kiên quyết không phê chuẩn, hủy quyết định khởi tố vụ án, bị can không có căn cứ đảm bảo việc ra quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án kịp thời, có căn cứ và đúng pháp luật, kiên quyết không để xảy ra việc làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm, đồng thời tăng tỷ lệ phát hiện tội phạm.

1.2. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu phản ánh các hoạt động: Tổng số người bị bắt, tạm giữ 732 người; trong đó, bắt khẩn cấp 175 người, bắt quả tang 384 người, bắt truy nã 52 người, bắt tự thú và đầu thú 121 người. Đã giải quyết 723 người, đạt 98,8%, trong đó: Khởi tố 698 người, gồm: Khởi tố chuyển tạm giam 519, khởi tố áp dụng BPNCK 135, bắt truy nã chuyển tạm giam 44. Cơ quan bắt giữ trả tự do 25 người, chiếm 3,5 %, giảm 0,9%. Còn 9 người đang tạm giữ trong thời hạn. Các trường hợp bắt tạm giữ hình sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật, được VKS phê chuẩn kịp thời.

- Tổng số bị can tạm giam là 2.248 người (số cũ 564, số mới 1.141, số từ nơi khác chuyển đến 629, số chuyển đi nơi khác 86). Đã giải quyết 1.571 người, đạt 70%, tăng 8,9%, trong đó: Cơ quan tiến hành tố tụng hủy bỏ biện pháp tạm giam 3 người; Thay đổi biện pháp ngăn chặn khác 257 người; Đình chỉ 5 người; VKS trả tự do theo khoản 1 Điều 28 Luật tổ chức VKSND 1 người; Hội đồng xét xử trả tự do 73 người (do hình phạt không phải là hình phạt tù 4, xử phạt tù cho hưởng án treo 54 người, hình phạt tù bằng thời hạn tạm giam 15); Án có hiệu lực pháp luật đã chuyển trại giam 1.167 người; Án có hiệu lực pháp luật hết án trong thời gian chờ chuyển trại 65 người. Còn lại 677 người đang bị tạm giam trong thời hạn.

- Những vi phạm pháp luật: Qua công tác kiểm sát hoạt động tư pháp phát hiện Cơ quan điều tra còn một số vi phạm như: Chưa thông báo cho gia đình người bị tạm giữ, tạm giam về việc bắt; quyết định và lệnh tạm giữ, tạm giam không có chữ ký của người bị bắt; công tác tuần tra, kiểm soát thiếu chặt chẽ để người tạm giam mang vật cấm vào Nhà tạm giữ; còn giam chung giữa người thành niên với người chưa thành niên, người phạm tội cùng vụ án, người tạm giữ với người tạm giam trong cùng bồng giam; việc thực hiện chế độ chính sách đối với người bị tạm giữ, tạm giam chưa đúng quy định; ra Quyết định đưa số bị án đã có hiệu lực pháp luật đi thi hành án còn chậm  so với qui định.

Trong công tác quản lý giáo dục và thực hiện chế độ đối với phạm nhân (Trại giam Đại Bình) có vi phạm trong phân loại xử lý đối với phạm nhân vi phạm kỷ luật, chưa xây dựng khu vực giam riêng và thực hiện quĩ tái hòa nhập cộng đồng, tổ chức học nghề cho phạm nhân.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

VKS đã ban hành 5 kháng nghị, 34 kiến nghị đối với Nhà tạm giữ, Trại tạm giam. Nội dung kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục, phòng ngừa vi phạm như:

- Đối với Nhà tạm giữ: Thực hiện đúng quy định về ghi chép hồ sơ, sổ thụ lý và thủ tục trong việc bắt tạm giữ, tạm giam và thực hiện chế độ quản lý đối với người bị tạm giữ, tạm giam. Cán bộ chiến sĩ ở Nhà tạm giữ không được sử dụng bếp ăn của can phạm để nấu ăn, sinh hoạt. Đảm bảo chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân, đảm bảo diện tích 2m2/người, có phạm nhân phục vụ tại Nhà tạm giữ theo quy định, trang bị hệ thống truyền thanh, đài báo; việc cấp phát nhu yếu phẩm cho người bị tạm giam đảm bảo đúng tiêu chuẩn, định lượng.

- Đối với Trại tạm giam: Sổ thụ lý trích xuất trong khu vực quản lý của Trại tạm giam phải ghi rõ tên, họ cán bộ chiến sĩ trực dẫn giải, giám sát; bố trí cán bộ thường xuyên kiểm tra ngăn chặn can phạm và phạm nhân mang vật cấm vào nơi giam giữ, vi phạm nội quy, quy chế trại giam. Phải bố trí địa điểm thăm gặp đối với phạm nhân đúng theo quy định tại Thông tư 46/2011 của Bộ Công an. Nghiêm túc thực hiện việc trích 26% từ kết quả lao động của phạm nhân dành chi cho các khoản theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch 04/2010/TTLT-BTC-BCA-BQP ngày 12/01/2010. Các sổ sách, hồ sơ cần thiết lập đầy đủ, rõ ràng. Xây dựng khu vực giam riêng, thực hiện quĩ tái hòa nhập cộng đồng và tổ chức học nghề cho phạm nhân .

1.3. Trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu phản ánh hoạt động điều tra:

* Án ở Cơ quan điều tra

- Tổng số thụ lý 1.055 vụ/1.864 bị can, trong đó: Án cũ 195 vụ/366 bị can; Án mới khởi tố 860 vụ/1.498 bị can.

- Cơ quan điều tra đã giải quyết 795 vụ/1.430 bị can, đạt 75%; trong đó: Đề nghị truy tố 773 vụ/1.404 bị can; Đình chỉ 22 vụ/26 bị can, trong đó: Bị can chết 1 vụ/1 bị can, bị can bị bệnh tâm thần 1 vụ/1 bị can; do rút yêu cầu khởi tố 18 vụ/22 bị can; miễn trách nhiệm hình sự 2 vụ/2 bị can.

- Cơ quan điều tra đang điều tra trong thời hạn 260 vụ/434 bị can (trong đó tạm đình chỉ điều tra 35 vụ/25 bị can).

* Án ở Viện kiểm sát

- Tổng số vụ VKS thụ lý 778 vụ/1.409 bị can, trong đó: Án cũ 5 vụ/5 bị can; Án mới 773 vụ/1.404 bị can.

- VKS đã giải quyết 729 vụ/1.328 bị can, đạt 94,6% trong đó: Quyết định truy tố 721 vụ/1.318 bị can; Đình chỉ 8 vụ/10 bị can, trong đó: Đình chỉ điều tra do rút yêu cầu khởi tố 3 vụ/4 bị can; Miễn TNHS 5 vụ/6 bị can. VKS đang nghiên cứu, giải quyết trong thời hạn 49 vụ/81 bị can.

- Những vi phạm pháp luật của cán bộ, Điều tra viên Cơ quan điều tra:

+ Thông qua công tác kiểm sát việc khởi tố, bắt giam, VKS phát hiện Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn khởi tố, bắt tạm giam 6 bị can nhưng chưa đủ căn cứ pháp lý, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú chưa đầy đủ thủ tục tố tụng. VKS đã từ chối phê chuẩn quyết định khởi tố và lệnh bắt tạm giam 6 bị can, yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi tội danh theo đúng hành vi phạm tội 1 bị can và hủy quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra do không có căn cứ pháp luật 2 vụ.

+ Cơ quan điều tra hai cấp còn một số vi phạm như: Không gửi quyết định khởi tố vụ án hình sự cho VKS; khám nghiệm hiện trường không thông báo cho Kiểm sát viên tham gia 4 vụ; tiến độ điều tra giải quyết một số vụ án hình sự chậm; chưa chủ động đưa người bị hại trong một số vụ án Cố ý gây thương tích đi giám định dẫn đến giải quyết kéo dài, phải gia hạn điều tra 5 vụ; chưa hết thời hạn điều tra đã tạm đình chỉ 1 vụ án; kết thúc điều tra không chuyển hồ sơ cho VKS trước 10 ngày theo Thông tư số 01/TTLN ngày 27/8/2010 giữa Bộ Công an và VKSND tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Một số vi phạm khác: Không lập biên bản giao nhận các quyết định tố tụng đối với bị can, hồ sơ không đánh số bút lục, lập danh mục tài liệu theo quy định 12 vụ; không gửi ngay quyết định bắt giữ hình sự 9 trường hợp cho VKS; không gửi quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can cho VKS 3 vụ; bản tường trình, biên bản hỏi cung không có chữ ký xác nhận của bị can và Điều tra viên.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

- VKS hai cấp đã ban hành 7 kiến nghị đối với Cơ quan điều tra đề nghị thực hiện đúng quy định trong xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; chuyển hồ sơ, quyết định khởi tố vụ án cho VKS để kiểm sát việc khởi tố; chấp hành đúng thời hạn điều tra; việc khám nghiệm hiện trường vụ án hình sự phải có Điều tra viên chủ trì và Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc khám nghiệm.

- Kiến nghị, yêu cầu của VKS đảm bảo chính xác được Cơ quan điều tra thực hiện nghiêm túc, qua đó nâng cao chất lượng khởi tố, điều tra, giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm, phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

- Cơ quan điều tra chấp hành đúng thẩm quyền điều tra, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai nhân chứng, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, giám định, khám xét, thu giữ, kê biên và các hoạt động điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp ngăn chặn cơ bản thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam và bị can được bảo đảm. Kiến nghị, yêu cầu của VKS đối với Cơ quan điều tra trong việc thu thập, bổ sung tài liệu, chứng cứ, thay đổi tội danh hoặc yêu cầu điều tra bổ sung được thực hiện nghiêm túc. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong chỉ đạo hoạt động điều tra và kết luận điều tra vụ án. Việc đình chỉ, truy nã bị can thực hiện đúng pháp luật, chưa phát hiện có vi phạm

- VKS hai cấp tiếp tục đổi mới chỉ đạo, điều hành trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với kiểm sát hoạt động điều tra. Đảm bảo 100% các vụ án hình sự đều có yêu cầu điều tra bằng văn bản, chủ động, phối hợp giải quyết vụ án, nhất là vụ án phức tạp. Kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các căn cứ pháp luật trong các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, nhất là đình chỉ điều tra do miễn TNHS. Chất lượng công tác thụ lý, kiểm sát giải quyết án hình sự được nâng lên, đảm bảo thời hạn, tăng cường phối hợp với Cơ quan điều tra giải quyết dứt điểm án hình sự tồn của năm 2012 chuyển qua. Do thực hiện tốt kiểm sát điều tra ngay từ đầu, đề ra yêu cầu điều tra, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nên chất lượng, tiến độ giải quyết các vụ án hình sự đảm bảo, công tác kiểm sát khởi tố, bắt giam tiến hành chặt chẽ, khắc phục triệt để việc khởi tố sau phải đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội, hạn chế đến mức thấp nhất việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Tỷ lệ giải quyết án đạt 93,7%; trong đó, tỷ lệ truy tố đạt 99%; tỷ lệ án trả hồ sơ chỉ chiếm 1,3% trên tổng số vụ án kết thúc điều tra đề nghị truy tố. Kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu của VKS kịp thời, chính xác được Cơ quan điều tra thực hiện nghiêm túc.

2. Trong xét xử các vụ án hình sự

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu phản ánh hoạt động xét xử hình sự:

+ Tổng số kiểm sát thụ lý ở trình tự sơ thẩm: 871 vụ/1.554 bị cáo, trong đó: Án cũ 150 vụ/236 bị cáo; Án mới 721 vụ/1.318 bị can.

- Tòa án đã giải quyết 745 vụ/1.280 bị cáo, đạt 85,5%; trong đó: Đã xét xử 730 vụ/1.253 bị cáo, trong đó không có bị cáo Tòa tuyên không phạm tội; Đình chỉ 4 vụ/5 bị cáo do rút yêu cầu khởi tố; Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung 11 vụ/22 bị cáo, chiếm tỷ lệ 1,5% trên số vụ án VKS truy tố, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2012.  Tòa án đang nghiên cứu, giải quyết trong thời hạn 126 vụ/274 bị cáo.

+ Tổng số kiểm sát thụ lý ở trình tự phúc thẩm: 122 vụ/156 bị cáo. Tòa án đã giải quyết 108 vụ/140 bị cáo, đạt 88,6%, trong đó: Đã xét xử 92 vụ/120 bị cáo (kết quả: Y án sơ thẩm 51 bị cáo, tăng hình phạt 5 bị cáo, giảm hình phạt 46 bị cáo, cho hưởng án treo 12 bị cáo, chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ 2 bị cáo, sửa án 4 bị cáo), đình chỉ xét xử do rút kháng cáo 16 vụ/20 bị cáo. Tòa án đang nghiên cứu, giải quyết trong thời hạn 14 vụ/16 bị cáo, trong đó có 2 vụ/2 bị cáo do VKS kháng nghị.

+ Thụ lý kiểm sát giám đốc thẩm 1 vụ/1 bị cáo do Chánh án TAND tỉnh Lâm Đồng kháng nghị, Tòa án đã đưa ra xét xử thống nhất đề nghị của VKS chấp nhận kháng nghị.

- Những vi phạm pháp luật trong việc xét xử:

Thông quan kiểm sát hoạt động tư pháp phát hiện Tòa án hai cấp vi phạm hoạt động xét xử như: Vi phạm thời hạn gửi bản án, quyết định; xác định sai tư cách người tham gia tố tụng; áp dụng tình tiết định khung và hình phạt trong pháp luật hình sự không đúng dẫn đến tuyên phạt hình phạt nhẹ đối với 2 bị cáo.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

 VKS đã ban hành 4 kiến nghị đối với Tòa án đề nghị khắc phục vi phạm trong áp dụng đúng pháp luật hình sự, xác định tư cách người tham gia tố tụng và gửi đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định hình sự cho VKS trong thời hạn quy định. Tòa án đã có văn bản trả lời, tiếp thu, thực hiện kiến nghị, kháng nghị của VKS.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

- Tòa án hai cấp chấp hành nghiêm quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử, thời hạn xét xử, áp dụng biện pháp ngăn chặn, thủ tục tố tụng và hoạt động xét xử tại phiên tòa phiên tòa, việc xét hỏi, tranh luận dân chủ, công khai, quyền bào chữa và luật sư tham gia tố tụng được bảo đảm.

- VKS chú trọng thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp. Đã thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên tòa được 823 vụ/1.374 bị cáo, chất lượng kiểm sát lập hồ sơ truy tố đảm bảo chính xác, tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung chỉ chiếm 1,5% trên số vụ án VKS truy tố. Kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định của Tòa án; phối hợp giải quyết 8 vụ án trọng điểm, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, đưa đi xét xử lưu động tại đại bàn xảy ra tội phạm 164 vụ đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Qua công tác kiểm sát hoạt động tư pháp đã ban hành 7 kháng nghị, kiến nghị đối với Tòa án hai cấp yêu cầu khắc phục vi phạm.

3. Trong hoạt động thi hành án hình sự

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Nêu số liệu phản ánh hoạt động thi hành án hình sự: Tổng số phải thi hành 1.055 bị án (cũ 86, mới 969), gồm: Tử hình 3, tù có thời hạn 657, án treo và cải tạo không giam giữ 395. Số đã thi hành 966 bị án, gồm: Tù có thời hạn 571, án treo và cải tạo không giam giữ 395. Chết 1. Chưa thi hành 85.

- Những vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án hình sự:

+ Trong công tác áp giải, truy nã đối với các bị án hết thời gian hoãn, tạm đình chỉ, thời gian tự nguyện thi hành án chậm thực hiện 19 trường hợp. Nội dung quyết định thi hành án có vi phạm 6 quyết định, vi phạm về thời hạn ra quyết định thi hành án 6 quyết định và vi phạm trong việc tổ chức thi hành án 1 quyết định. VKS đã ban hành kiến nghị yêu cầu Giám đốc Công an tỉnh và Chánh án Tòa án nhân tỉnh có biện pháp chỉ đạo các đơn vị liên quan thực hiện việc bắt, áp giải bị án, ra quyết định và tổ chức thi hành án hình sự đúng qui định của pháp luật (Điều 260 BLTTHS và Điều 15, 22, 32 Luật THAHS).

+ Việc cấp giấy chứng nhận hết thời gian thử thách cho các bị án chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo chưa được thực hiện do Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chưa được thành lập. Hồ sơ thi hành án treo lập không đầy đủ, việc quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án treo ở một số đơn vị thiếu chặt chẽ, không có bản kiểm điểm của người chấp hành án, chưa phân công người giám sát giáo dục, không có nhận xét của người được phân công giám sát, có đối tượng phạm tội mới trong thời gian thử thách.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

- VKS đã ban hành 8 kháng nghị, 33 kiến nghị yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự bắt áp giải, truy nã thi hành án đối với 7 bị án do không tự giác thi hành án; yêu cầu khắc phục 61 quyết định thi hành án vi phạm thời hạn và kiến nghị đối với UBND cấp xã chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý, giám sát, giáo dục người thi hành án treo, cải tạo không giam giữ ở địa phương.

- Nội dung kiến nghị, kháng nghị yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục, phòng ngừa vi phạm đảm bảo chính xác được các Cơ quan tiếp thu, thực hiện, trả lời bằng văn bản cho VKS.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

 - Tòa án hai cấp chấp hành nghiêm các qui định của pháp luật về thi hành án hình sự. Bản án có hiệu lực pháp luật được Tòa án ra quyết định thi hành đảm bảo đúng nội dung, hình thức, thời gian luật định; các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật.

- Đối với cơ quan thi hành án hình sự thuộc Công an và ủy ban nhân dân cấp xã phường đã tăng cường quản lý phạm nhân; việc lập thủ tục, hồ sơ và thực hiện chế độ đối với người thi hành án cơ bản đảm bảo đúng qui định của pháp luật. Tuy nhiên còn một số vi phạm nêu trên VKS phát hiện yêu cầu khắc phục kịp thời.

- VKS hai cấp đã tăng cường kiểm sát thi hành án hình sự nên cơ bản đảm bảo đúng thủ tục. Để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác, VKS đã tổ chức thực hiện đúng quy định pháp luật và Quy chế của Ngành về kiểm sát thi hành án hình sự; duy trì tốt chế độ kiểm sát thường kỳ, kiểm sát bất thường tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam và cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án hình sự; Chủ động tiếp nhận, xây dựng kế hoạch kiểm sát tại Trại giam Đại Bình sau khi được VKSND tối cao chuyển giao nhiệm vụ này cho VKS tỉnh Lâm Đồng.

Tập trung kiểm sát việc đưa bản án ra thi hành, trong đó chú trọng kiểm sát số bị án bị phạt tù có thời hạn chưa thi hành. Chủ động phối hợp với cơ quan Công an, Toà án nắm chắc số bị án bị phạt tù, án có hiệu lực pháp luật chưa thi hành, nhất là số trốn để có biện pháp bắt thi hành án, góp phần tăng tỷ lệ thi hành án. Tăng cường kiểm sát, phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị yêu cầu cơ quan quản lý thực hiện nghiêm chế độ, chính sách về giáo dục và cải tạo đối với người chấp hành án phạt tù.

4. Trong hoạt động giải quyết các vụ, việc dân sự- Hôn nhân gia đình

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu cơ bản phản ánh hoạt động giải quyết các vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật:

+ Giải quyết vụ, việc theo thủ tục sơ thẩm: Tổng số thụ lý 3.976 vụ, việc (mới 3.163 vụ, việc). Đã giải quyết 2.858 vụ, việc, đạt 72%. Số chưa giải quyết 1.089 vụ, việc.

+ Giải quyết vụ, việc theo thủ tục phúc thẩm: Tổng số thụ lý 219 vụ, việc (mới 203 vụ, việc). Đã giải quyết 181 vụ, việc, đạt 82,7%. Số chưa giải quyết 45 vụ, việc.

+ Giải quyết vụ, việc theo thủ tục giám đốc thẩm: Tổng số thụ lý 9 vụ, việc (mới 8 vụ, việc). Đã giải quyết 9 vụ, việc, đạt 100%.

- Những vi phạm pháp luật: Thông qua công tác kiểm sát phát hiện trong quá trình thụ lý, giải quyết  vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình Tòa án hai cấp có vi phạm như sau:

+ Vi phạm về gửi thông báo thụ lý vụ, việc dân sự sơ thẩm cho VKSND cùng cấp  9 vụ (6 DS, 3HN). Vi phạm về thời hạn giải quyết vụ, việc dân sự 2 vụ.

+ Vi phạm về thẩm quyền giải quyết của Tòa án sơ thẩm 24 vụ. Vi phạm trong việc thụ lý đơn khởi kiện 43 vụ, việc; trong đó, vi phạm phổ biến là thông báo thụ lý chậm 33 vụ, việc; không thông báo thụ lý 7 vụ, việc; tiếp nhận nhưng không thụ lý đơn khởi kiện của đương sự 3 vụ, việc. Vi phạm về xác minh, thu thập, sử dụng chứng cứ 38 vụ, việc, chủ yếu là đánh giá chứng cứ không đúng 29 vụ, việc. Vi phạm về trình tự, thủ tục lấy lời khai đương sự, người có liên quan 2 vụ, việc. Vi phạm việc trưng cầu giám định, định giá tài sản 11 vụ.

+ Vi phạm về thủ tục trong áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 2 vụ, việc. Vi phạm trong việc tiến hành hòa giải 8 vụ, việc;

+ Vi phạm các quy định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 78 vụ, việc; trong đó, chủ yếu vi phạm trong việc xác định tư cách ngưởi tham gia tố tụng 8 vụ, vi phạm về tính án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng khác 70 vụ, việc;

+ Vi phạm trong việc thông báo, gửi các quyết định, bản án cho Viện kiểm sát không đúng thời hạn quy định 102 vụ; vi phạm việc chuyển, giao những bản án, quyết định cho cơ quan, cá nhân 20 vụ, việc;

+ Vi phạm trong việc giải quyết đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 2 vụ, việc;

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

VKS hai cấp đã ban hành 27 kiến nghị yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục, phòng ngừa vi phạm; kháng nghị phúc thẩm 7 vụ, Tòa án đã xét xử 4 vụ, chấp nhận kháng nghị 3 vụ, đạt 75%, không chấp nhận kháng nghị 1 vụ, chiếm 25%; kháng nghị giám đốc thẩm 2 vụ được Tòa án chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị, kiến nghị của VKS, đạt 100%. Nội dung kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật về: Thẩm quyền thụ lý, giải quyết đơn khởi kiện, xác minh, thu thập, sử dụng chứng cứ, lấy lời khai đương sự, người có liên quan, trưng cầu giám định, định giá tài sản, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tiến hành hòa giải, thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện, tính án phí, lệ phí, gửi các quyết định, bản án cho Viện kiểm sát, cho cơ quan, cá nhân.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

 Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, VKSND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo hai cấp kiểm sát thực hiện nghiêm túc quy định Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT ngày 01/8/2012 của Tòa án nhân dân tối cao - VKSND tối cao và Quy chế nghiệp vụ của Ngành; đề cao trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ, ngay từ việc thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của Tòa án; phân công Kiểm sát viên có năng lực, nghiên cứu, kiểm sát lập hồ sơ; trực tiếp tham gia phiên họp, phiên Tòa trình bày quan điểm đề nghị của VKS đảm bảo lập luận, viện dẫn chứng cứ, pháp luật có sức thuyết phục, được Tòa án chấp nhận cao. Kiên quyết yêu cầu Tòa án hoãn phiên Tòa, bổ sung chứng cứ; phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị kịp thời; phối hợp với Tòa án giải quyết vụ, việc vướng mắc, phức tạp, nhất là vụ, việc quá thời hạn. Những vi phạm trong hoạt động tư pháp được VKS hai cấp phát hiện kịp thời, nội dung kiến nghị, kháng nghị đảm bảo chính xác được Tòa án tiếp thu thực hiện.

Nhằm khắc phục kịp thời thiếu sót trong công tác kiểm sát thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, VKSND tỉnh thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo, hướng dẫn VKSND huyện, thành phố, đã ban hành nhiều thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụthông báo kết quả xét xử phúc thẩm để VKS cấp huyện nghiên cứu, rút kinh nghiệm, nhất là các vụ việc bị Tòa phúc thẩm tuyên sửa, hủy, qua đó từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này.

5. Trong hoạt động giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu cơ bản phản ánh hoạt động giải quyết các vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật:

+ Giải quyết vụ, việc theo thủ tục sơ thẩm: VKS thụ lý kiểm sát 344 vụ (cũ 105; mới 239 vụ). Đã giải quyết: 175 vụ, đạt 51%, trong đó: Quyết định đình chỉ 58; công nhận sự thỏa thuận của đương sự 50; xét xử 60; chuyển nơi khác giải quyết theo thẩm quyền 7. Còn đang giải quyết trong thời hạn 169 vụ.

+ Giải quyết vụ, việc theo thủ tục phúc thẩm: VKS thụ lý kiểm sát 42 vụ, tăng 20%. Tòa án đã giải quyết 28 vụ, đạt 66,7%, trong đó: Quyết định đình chỉ 2 vụ; Xét xử 26 vụ (Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa xét xử 15 vụ). Kết quả, y án sơ thẩm 21 vụ, sửa án 3 vụ, hủy án 2 vụ. Còn 14 vụ đang nghiên cứu giải quyết trong thời hạn.

+ Giải quyết vụ, việc theo thủ tục giám đốc thẩm: Kiểm sát thụ lý 2 vụ, do Viện trưởng VKSND tỉnh kháng nghị, Tòa án đã xét xử 2 vụ, chấp nhận kháng nghị 1 vụ, đạt 50%, không chấp nhận kháng nghị 1 vụ.

- Những vi phạm pháp luật: Thông qua công tác kiểm sát phát hiện Tòa án hai cấp có vi phạm như sau: Vi phạm về thụ lý đơn khởi kiện 20 vụ, trong đó: Không thông báo thụ lý 5 vụ, thông báo thụ lý chậm thời hạn quy định 9 vụ, không gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện 6; vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn hoãn phiên tòa và giải quyết án quá hạn 59vụ; vi phạm về giao bản án, quyết định 17 vụ.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

VKS hai cấp đã ban hành 10 kiến nghị, 2 kháng nghị giám đốc thẩm yêu cầu Tòa án chấn chỉnh, khắc phục, phòng ngừa vi phạm. Nội dung kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật về: Thụ lý đơn khởi kiện của đương sự, thời hạn xét xử, khắc phục vụ án hành chính giải quyết quá thời hạn, chuyển giao bản án, quyết định và chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

- TAND hai cấp đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về: Thẩm quyền thụ lý, giải quyết; điều tra, xác minh, thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; trong hoạt động xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm các vụ án hành chính, kinh doanh lao động, thương mại.

- Tuy nhiên, tình hình thụ lý, giải quyết vụ án hành chính tiếp tục diễn biến phức tạp, một số vụ đương sự tham gia phiên tòa gây áp lực đối với Hội đồng xét xử. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, VKSND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo hai cấp kiểm sát thực hiện nghiêm túc thực hiện đúng Quy chế nghiệp vụ của Ngành; đề cao trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ, ngay từ việc thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của Tòa án; phân công Kiểm sát viên có năng lực, nghiên cứu, kiểm sát lập hồ sơ; trực tiếp tham gia phiên Tòa trình bày quan điểm đề nghị của VKS đảm bảo lập luận, viện dẫn chứng cứ, pháp luật có sức thuyết phục. Kiên quyết yêu cầu Tòa án hoãn phiên Tòa, bổ sung chứng cứ; phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị kịp thời; phối hợp với Tòa án giải quyết vụ, việc vướng mắc, phức tạp, nhất là vụ, việc quá thời hạn. Những vi phạm trong hoạt động tư pháp được VKS hai cấp phát hiện kịp thời, nội dung kiến nghị, kháng nghị đảm bảo chính xác được Tòa án tiếp thu thực hiện.

- Nhằm khắc phục kịp thời thiếu sót trong công tác kiểm sát thụ lý, giải quyết vụ án hành chính, VKSND tỉnh phối hợp với Tòa án mở 1 phiên tòa rút kinh nghiệm về kỹ năng tranh tụng của KSV tại phiên tòa, sau đó ban hành thông báo rút kinh nghiệm chung trong Ngành và thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo, hướng dẫn VKSND huyện, thành phố về nghiệp vụ và thông báo kết quả xét xử phúc thẩm để VKS cấp huyện nghiên cứu, rút kinh nghiệm, nhất là các vụ việc bị Tòa phúc thẩm tuyên sửa, hủy, qua đó từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.

6. Trong hoạt động thi hành án dân sự

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu phản ánh hoạt động thi hành án dân sự: Tổng số việc dân sự phải thi hành là 11.603 việc/1.075.692.169 đồng. Đã thi hành xong 5.907 việc/254.011.628.000 đồng, đạt 63% về số việc, 37% về số tiền trên số việc, số tiền có điều kiện thi hành.

- Những vi phạm pháp luật: Qua công tác kiểm sát phát hiện một số vi phạm của Cơ quan thi hành án dân sự hai cấp như: Việc xác minh, tổ chức thi hành án chậm, kéo dài, gây bức xúc đối với người được thi hành án 3 việc; ra quyết định thi hành án không đúng nội dung bản án 1 việc; quyết định thi hành án dân sự vi phạm về thời hạn 2 việc; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tòa án gửi cho cơ quan thi hành án vi phạm về thời hạn 160 bản án, quyết định; không xác minh điều kiện thi hành án 36 việc; vi phạm trong phân loại điều kiện thi hành án 1 việc; vi phạm về thời hạn gửi quyết định thi hành án cho VKS 106 quyết định. Một số vi phạm khác như: Không gửi quyết định thi hành án cho đương sự; ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá, bán đấu giá tài sản và chi trả tiền thi hành án không đúng thời gian quy định.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát: 

 VKS đã ban hành 17 kiến nghị, 4 kháng nghị đối với Cơ quan thi hành án đề nghị chấn chỉnh, khắc phục, xử lý và phòng ngừa vi phạm trong việc chấp hành đúng quy định pháp luật về thủ tục thi hành án; tập trung rà soát, xác minh, tổ chức thi hành vụ, việc kéo dài gây bức xúc đối với người thi hành án và dư luận xã hội; việc kê biên, định giá, cưỡng chế, bán đấu giá tài sản thực hiện đúng quy định.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

- Công tác kiểm sát trực tiếp, toàn diện đối với Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện đúng kế hoạch, một số đơn vị quan tâm kiểm sát lĩnh vực trọng tâm, theo chuyên đề như: Công tác thu, chi tiền thi hành án, việc phân loại thi hành án... Nội dung kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu: Giải  quyết đơn khiếu nại thi hành án không đúng thời hạn; chậm xác minh, tổ chức thi hành án; phân loại việc thi hành án không chính xác; chi trả tiền thi hành án không đúng thời hạn; chậm nộp tiền án phí, tịch thu sung công vào ngân sách nhà nước. Kiến nghị, kháng nghị đảm bảo kịp thời, chính xác, được chấp nhận, trả lời bằng văn bản.

- Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự, khắc phục triệt để việc bản án, quyết định có hiệu lực, tồn đọng kéo dài nhưng không tổ chức, thi hành nghiêm túc, gây bức xúc trong dư luận, nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, Lãnh đạo VKSND tỉnh chỉ đạo tiến hành rà soát, trực tiếp xác minh việc phân loại án, nếu phát hiện vụ việc có đủ điều kiện nhưng Cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành thì VKS kiến nghị, yêu cầu tổ chức thi hành ngay. Tăng cường trách nhiệm trong kiểm sát kê biên, cưỡng chế, bán đấu giá tài sản thi hành án theo đúng quy định. Khắc phục việc thi hành án dân sự phức tạp, kéo dài, gây bức xúc trong dư luận xã hội, trong đó đã khẩn trương báo cáo, đôn đốc cơ quan có thẩm quyền sớm có quan điểm, biện pháp xử lý đối với các vụ việc thi hành án kéo dài búc xúc ở địa phương để tham mưu và báo cáo với Tỉnh ủy chỉ đạo cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm.

7. Trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp

a) Tình hình chấp hành pháp luật:

- Số liệu phản ánh việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp:

+ Tổng số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS 136 đơn/106 việc (cũ 5 đơn/5 việc, mới 131đơn/101việc).

+ Đã giải quyết 126 đơn/99 việc, đạt 92%; còn đang nghiên cứu giải quyết trong thời hạn 10 đơn/7việc.

+ Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp tại 1 đơn vị, phát hiện vi phạm về tiếp nhận giải quyết đơn. VKS đã ban hành kết luận, kiến nghị, được cơ quan hữu quan chấp nhận.

+ VKS hai cấp đã tiếp 357 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo. Đã hướng dẫn công dân đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết 250 lượt; VKS nhận đơn, trả lời cho công dân 107 lượt. Thụ lý, kiểm sát 471 đơn tư pháp, các cơ quan tư pháp đã giải quyết 420 đơn, đạt 90%.

- Những vi phạm trong giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp:

+ Cơ quan điều tra lập hồ sơ giải quyết đơn không đúng quy định, không ban hành quyết định khi giải quyết đơn, vi phạm trong việc phân loại và thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

+ Những vi phạm khác trong giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra cấp huyện như: Chưa giải quyết dứt điểm đơn tồn, vi phạm về thời hạn giải quyết đơn và không ban hành quyết định giải quyết đơn khiếu nại về tố giác, tin báo về tội phạm.

b) Những biện pháp tác động, xử lý của Viện kiểm sát:

+ VKS đã ban hành 1 kháng nghị, 2 kiến nghị và 1 yêu cầu đối với 4 Cơ quan điều tra yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục, xử lý và phòng ngừa vi phạm với nội dung sau: Thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp. Việc phân loại, lập hồ sơ, ban hành quyết định giải quyết đơn đúng quy định, giải quyết dứt điểm các đơn tồn cũ chuyển sang, nhất là đơn khiếu nại trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

+ Các kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát đảm bảo chính xác, đã được Cơ quan điều tra tiếp thu sửa chữa, khắc phục.

c) Đánh giá về tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động kiểm sát:

Tình hình khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, chủ yếu là khiếu nại Cơ quan điều tra, Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, điều tra, xử lý không khách quan; Cơ quan thi hành án vi phạm trong tổ chức thi hành án, kê biên định giá tài sản và đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật. Các cơ quan tư pháp đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Lãnh đạo VKSND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị quan tâm, chú trọng và đề cao trách nhiệm trong thụ lý, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, bố trí phòng tiếp dân và cán bộ có năng lực, kinh nghiệm thực hiện công tác này, đảm bảo giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, chính xác; hàng tuần, thông qua họp giao ban, Phòng khiếu tố phải theo dõi, quản lý chặt chẽ số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS và đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát để đôn đốc các đơn vị xử lý trong thời hạn luật định, báo cáo kịp thời đơn bức xúc, kéo dài để chỉ đạo các đơn vị giải quyết dứt điểm. Quan tâm kiểm sát việc giải quyết đơn về tư pháp của các Cơ quan tư pháp, chủ trì, phối hợp, rà soát, phân loại, đôn đốc giải quyết đơn của các Cơ quan tư pháp, làm tốt vai trò tham mưu với Cấp ủy địa phương để chỉ đạo giải quyết đơn tư pháp theo đúng quy định, không để đơn khiếu nại tập thể, đơn bức xúc, kéo dài phức tạp, vi phạm quyền tự do, dân chủ công dân.

II. NHẬN XÉT CHUNG

1. Những ưu điểm và hạn chế

1.1. Của Viện kiểm sát trong kiểm sát hoạt động tư pháp:

Thời gian qua, VKSND tỉnh Lâm Đồng đã nghiêm túc quán triệt thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của HĐND tỉnh và chỉ đạo của Viện KSND tối cao đã tiếp tục nỗ lực phấn đấu thực hiện 2 giải pháp đột phá, 6 nhiệm vụ trọng tâm đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành nhằm hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản, tạo được sự chuyển biến tích cực về chất lượng, hiệu quả trên tất cả các mặt công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, tạo bước chuyển biến tích cực và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

VKS hai cấp chấp hành đúng quy định của pháp luật trong thụ lý, giải quyết các vụ, việc hình sự, dân sự... Nhiều chỉ tiêu kiểm sát hoạt động tư pháp về hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án, giải quyết đơn tư pháp cũng như số lượng, chất lượng công tác kiến nghị, kháng nghị đáp ứng yêu cầu đề ra, phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương, tạo uy tín đối với các cơ quan, ngành hữu quan địa phương. Thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách tư pháp và chức năng, nhiệm vụ của ngành, phục vụ  hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Đạt được những kết quả trên, là do có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo VKSND tối cao, Thường trực Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh; bên cạnh đó là sự nỗ lực, cố gắng, đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ của tập thể cán bộ, công chức, viên chức, KSV và Lãnh đạo VKS hai cấp. 

Tuy nhiên, so với chức năng nhiệm vụ được giao, nhất là đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cải cách tư pháp, thì công tác của VKS còn một số hạn chế, thiếu sót như: Công tác kiểm sát việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm ở một số đơn vị chưa thường xuyên, chặt chẽ; số lượng kiến nghị, kháng nghị trong kiểm sát hoạt động tư pháp chưa nhiều.

1.2. Của các cơ quan, cá nhân trong hoạt động tư pháp:

Các cơ quan tư pháp đã chủ động, phối hợp chặt chẽ và cơ bản thực hiện tốt các hoạt động: điều tra vụ án hình sự; bắt, tạm giữ, tạm giam; xét xử hình sự; thi hành án hình sự; hoạt động giải quyết các vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, phá sản doanh nghiệp các việc khác theo quy định của pháp luật; hoạt động giải quyết các vụ án hành chính; hoạt động thi hành án hình sự, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp và hoạt động bổ trợ tư pháp.

Bên cạnh kết quả đạt được còn một số tố giác, tin báo do tính chất phức tạp phải xác minh, thu thập chứng cứ ở nhiều nơi, không xác định được bị hại hoặc bị hại từ chối giám định, Cơ quan điều tra thụ lý chậm tổ chức xác minh tố giác, tin báo về tội phạm dẫn đến giải quyết quá hạn, một số vụ việc hình sự, dân sự, thi hành án giải quyết quá hạn, kéo dài nên chưa đáp ứng nhiệm vụ chính trị. Những vi phạm trên đã được VKS hai cấp phát hiện ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.

2. Nguyên nhân

Nguyên nhân tồn tại, hạn chế nêu trên, chủ yếu do năng lực thực tiễn, tinh thần trách nhiệm, phương pháp làm việc của một bộ phận cán bộ, KSV, Điều tra viên, Thẩm phán, Chấp hành viên và biên chế ở các Cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác phối hợp giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng và các cấp, các ngành, có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ. Biên chế, cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện ở các Cơ quan tư pháp nhất là cơ sở vật chất tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam còn thiếu và chưa đáp ứng được với yêu cầu của pháp luật; hệ thống pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp và pháp luật về hình sự, dân sự, hành chính chưa được sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn kịp thời; Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện, các tổ chức giám định tư pháp về xây dựng, giao thông... chậm được thành lập; hoạt động bổ trợ tư pháp và tổ chức Luật sư chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng. Những tồn tại, thiếu sót trên làm hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.

Phát huy vai trò là Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp tỉnh Lâm Đồng, VKSND tỉnh Lâm Đồng đã và đang có giải pháp kiến nghị, tiếp tục tham mưu với Thường trực Tỉnh ủy, HĐND, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp tỉnh chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện có hiệu quả Quy định phối hợp liên ngành tư pháp 2 cấp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật; đồng thời đáp ứng đòi hỏi cấp bách trong hoạt động thực tiễn để hoàn thành các chỉ tiêu trong hoạt động tư pháp đã đề ra, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị địa phương.

III. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

1. Đề nghị VKSND tối cao, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương tiếp tục chỉ đạo thực hiện công tác cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49/ NQ- TW và Kết luận 79-KL/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, tập trung hoàn thiện thể chế, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, hoàn thiện mô hình, xây dựng VKSND, TAND khu vực để bảo đảm cho các cơ quan tư pháp sớm ổn định và hoạt động có hiệu quả.

2. Sửa đổi bổ sung Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, theo định hướng tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra; tăng cường trách nhiệm của VKSND trong kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo đảm hiệu lực các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan thi hành nghiêm chỉnh.

3. VKSND tối cao tiếp tục tăng cường phối hợp cới các cơ quan Tư pháp Trung ương hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, Bộ Luật dân sự, Bộ luật hành chính…Xây dựng Quy chế về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính để địa phương thống nhất thực hiện. Quan tâm hướng dẫn, trả lời thỉnh thị những vụ việc vướng mắc, phức tạp.

4. Tiếp tục quan tâm, có chính sách đặc thù cho các Cơ quan tư pháp các tỉnh khu vực Tây Nguyên về công tác cán bộ, nhất là chính sách đào tạo, bổ nhiệm, tăng biên chế, chức danh pháp lý, tạo nguồn nhân lực có chất lượng; tăng hạn mức kinh phí, trang bị phương tiện, cơ sở vật chất khác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương.

5. Các cơ quan tư pháp Trung ương sớm ban hành Thông tư liên ngành Trung ương hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 37/2012/QH13 của Quốc hội; đồng thời, sớm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các chỉ tiêu của Quốc Hội đã đề ra.

Trên đây là Báo cáo tình hình chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKSND tỉnh Lâm Đồng. Kính mong được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo VKSND tối cao, Thường trực Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng để Ngành kiểm sát Lâm Đồng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2013./.