HỎI, ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS 

PHẦN 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Câu hỏi 1: Xin cho biết thế nào là vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Còn xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật vể xử phạt vi phạm hành chính.

Câu hỏi 2: Xin cho biết nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì việc xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo những nguyên tắc sau:

1.       Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a, Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải  bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

b, Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

c, Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

d, Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

đ, Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

e, Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

2.       Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bao gồm:

a, Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này;

b, Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

c, Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

d, Người có thầm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.

Câu hỏi 3: Xin cho biết những đối tượng nào sẽ bị xử lý vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính được quy định như sau:

Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm

a, Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.

Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;

b, Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;

c, Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này.

Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.

Câu hỏi 4. Xin cho biết pháp luật quy định như thế nào về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính bao gồm thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cụ thể như sau:

1.                   Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a, Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:

Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm do, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế;

b, Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

c, Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

d, Trong thời hạn được quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

1.Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 90; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 90; 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 90 của Luật này;

b, Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 92 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật này;

c, Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này;

d, Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật này.

Câu hỏi 5: Xin cho biết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính được quy định như sau:

1.Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kề từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kề từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong htoi72 hạn 02 năm, kề từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Câu hỏi 6: Xin cho biết nội dung của các biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp xử lý hành chính để giáo dục, quản lý người có hành vi vi phạm pháp luật tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng trong thời hạn từ 03 đến 06 tháng. Biện pháp này được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.

5. Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

6. Những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này mà không có nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Câu hỏi 7: xin cho biết nội dung của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính nhằm mục đích giúp người có hành vi vi phạm pháp luật học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường trong thời hạn từ 06 tháng đến 24 tháng. Biện pháp này được áp dụng đối với các trường hợp sau đây:

1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

4.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:

a, Người có năng lực trách nhiệm hành chính;

b, Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

c, Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Câu hỏi 8: xin cho biết nội dung của biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là một trong các biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định. Biện pháp này không áp dụng đối với những đối tượng sau đây:

1. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

2. Người chưa đủ 18 tuổi;

3. Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;

4. Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

5. Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Không đưa vào cơ sở giáo dục người chưa đủ 18 tuổi, nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi.

Câu hỏi 9: xin cho biết nội dung của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định. Biện pháp này không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

1. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

2. Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

3. Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Câu hỏi 10: Xin cho biết những tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ trong xử lý vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì những tình tiết sau đây được coi là tình tiết giảm nhẹ:

1. Người vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;

2. Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính;

3. Vi phạm hành chính trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

4. Vi phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;

5. Người vi phạm hành chính là phụ nữ mang thai, người già yếu, người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

6. Vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;

7. Vi phạm hành chính do trình độ lạc hậu;

Ngoài những hành vi nêu trên, căn cứ thực tiễn, Chính phủ có thể ban hành các quy định những tình tiết giảm nhẹ khác.

Câu hỏi 11: Xin cho biết những tình tiết nào là tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính?

Trả lời: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì những tình tiết sau đây được coi là tình tiết tăng nặng:

1. Vi phạm hành chính có tổ chức;

2. Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;

3. Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi vi phạm hành chính;

4. Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm hành chính;

5. Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; vi phạm hành chính có tính chất côn đồ;

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành chính;

7. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành chính;

8. Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản ánh hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính;

9. Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;

            10. Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;

11. Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;

 12. Vi phạm hành chính đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.

Trường hợp các tình tiết nêu trên đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Câu 12: Xin cho biết nguyên tắc áp dụng hình thức cảnh cáo quy định tại Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS?

Trả lời: Hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP và chỉ được áp dụng đối với các trường hợp vi phạm có một trong các tình tiết sau đây:

- Vi phạm lần đầu và có quy mô nhỏ được hiểu là tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm trong trường hợp thiệt hại kinh tế giá trị đến dưới 3.000.000 đồng hoặc phạm vi ảnh hưởng không đáng kể;

- Có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

Câu hỏi 13: Xin cho biết việc áp dụng hình thức phạt tiền được áp dụng trong trường hợp nào và nguyên tắc áp dụng hình thức phạt tiền?

Trả lời: Hình thức phạt tiền được áp dụng khi xét thấy hành vi vi phạm không thuộc trường hợp áp dụng hình thức phạt cảnh cáo. Mức phạt tiền được áp dụng theo nguyên tắc:

1. Trường hợp vi phạm không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì áp dụng mức phạt ở mức trung bình của khung phạt tiền. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tiền phạt tối thiểu và mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.

2. Trường hợp có một trong các tình tiết giảm nhẹ sau đây thì áp dụng mức phạt dưới mức trung bình đến mức tối thiểu của khung phạt, cụ thể:

a, Do trình độ lạc hậu, thiếu hiểu biết về quy định pháp luật phòng, chống HIV/AIDS;

b, Do bị lừa dối trong quá trình thỏa thuận, ký kết hợp đồng;

c, Do vi phạm của người khác gây ra mà người vi phạm không biết và không có lý do hợp lý để biết nhưng pháp luật có quy định buộc người vi phạm phải biết về vấn đề phòng, chống HIV/AIDS có liên quan đến hành vi đó.

Ví dụ: Trường hợp bên A cung cấp thông tin sai về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS dẫn đến bên B đưa tin sai về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS.

d, Người vi phạm hành chính đã ngăn chặn, làm giảm  bớt tác hại của vi phạm về phòng, chống HIV/AIDS hoặc đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính với các trường hợp cụ thể:

- Người vi phạm đã ngừng đưa tin, hình ảnh vi phạm, ngừng bán bao cao su, bơm kim tiêm sạch, thuốc điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện được cung cấp miễn phí, tổ chức hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

- Người vi phạm đã tự nguyện thu hồi, thông báo cải chính, xin lỗi, tự nguyện bồi thiệt hại cho người bị thiệt hại.

3. Trường hợp có một trong các tình tiết tăng nặng sau đây thì áp dụng mức phạt từ trên mức trung bình của khung tiền phạt đến dưới mức tối đa của khung tiền phạt, cụ thể:

a, Người vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm sau khi các bên đã thỏa thuận về biện pháp giải quyết vụ vi phạm được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận và dừng xử lý vụ việc được coi là vi phạm nhiều lần trong cùng lĩnh vực và được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính;

b, Người vi phạm đã không chấm dứt mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, không thực hiện biện pháp ngăn chặn, giảm bớt tác hại như ngừng đưa tin, ngừng bán hàng khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm được coi là tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó và được áp dụng theo quy định tại khoản 8 Điều 9 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

4. Khi xác định mức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ thì xem xét giảm trừ tình tiết tăng nặng theo nguyên tắc 2 tình tiết giảm nhẹ được giảm trừ 1 tình tiết tăng nặng. Sau khi giảm trừ theo nguyên tắc trên, nếu còn một tình tiết tăng nặng và một tình tiết giảm nhẹ thì tùy thuộc theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và thái độ khắc phục hậu quả của người vi phạm, người có thẩm quyền xử lý xem xét áp dụng mức phạt tiền áp dụng đối với trường hợp có một tình tiết tăng nặng hoặc trường hợp không có tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ.

PHẦN 2

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THÔNG TIN, GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG TRONG PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS

 HÌNH THỨC VÀ MỨC PHẠT

Câu hỏi 14: Theo quy định tại Điều 14 của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS cho người lao động của cơ sở mình. Vậy nếu chủ sử dụng lao động không thực hiện trách nhiệm này thì có bị xử lý vi phạm hành chính hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 18 của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì nếu chủ sử dụng lao động không tổ chức định kỳ 2 năm/lần việc phổ biến, tuyên truyền trong cơ sở sử dụng lao động về kiến thức, biện pháp phòng, chống HIV/AIDS, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV theo quy định của pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS sẽ bị phạt tiền với các mức sau đây:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động dưới 50 người;

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động từ 50 người đến dưới 200 người;

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động từ 200 người đến dưới 500 người;

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động từ 500 người đến dưới 1.000 người;

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động từ 1.000 người đến dưới 1.500 người;

6. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động từ 1.500 người đến dưới 2.500 người;

7. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với cơ sở có sử dụng lao động từ 2.500 người trở lên.

Việc xác định người sử dụng lao động không thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS cho người lao động của cơ sở mình theo quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS được căn cứ vào một trong các yếu tố sau:

- Không có kế hoạch tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống HIV/AIDS do người đứng đầu cơ sở sử dụng lao động phê duyệt;

- Không có tài liệu truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS;

- Khai báo của người lao động tại cơ sở là không được truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS.

Câu hỏi 15: Trong trường hợp nào thì bị coi là có hành vi cung cấp, đưa tin sai về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS? Và nếu có hành vi vi phạm thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Việc xác định hành vi cung cấp, đưa tin sai về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS được tiến hành theo phương pháp so sánh số liệu mà cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đó đã công bố so với số liệu chính thức được công bố bởi Bộ Y tế hoặc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tuy nhiên, các số liệu được công bố này không bao gồm số liệu mà các nghiên cứu khoa học tự thu thập và công bố trong nghiên cứu khoa học đó. Trong trường hợp có vi phạm thì theo quy định tại Điều 18 của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này sẽ bao gồm việc phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và buộc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày.

Câu hỏi 16: Thế nào là đưa thông tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV và việc xử lý đối với hành vi này được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Hành vi đưa thông tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV là hành vi đưa thông tin, hình ảnh sai lệch về người nhiễm HIV hoặc gắn với các tệ nạn xã hội dẫn đến việc kỳ thị, phân biệt đối xử. Ví dụ: hình ảnh người nhiễm HIV gầy gò, ốm yếu hoặc hình ảnh đầu lâu, xương chéo trong các pano truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS. Trong trường hợp có vi phạm thì theo quy định tại Điều 18 của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này cũng tương tự như việc xử lý hành vi cung cấp, đưa tin sai về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS, tức là cũng bao gồm việc phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và buộc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày, trừ trường hợp người bị nhiễm HIV không đồng ý xin lỗi, đính chính công khai việc mình bị nhiễm HIV.

Câu hỏi 17: Xin cho biết sự khác nhau giữa hành vi cản trở việc thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS và hành vi từ chối thực hiện tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS?

Trả lời: Đây là hai hành vi hoàn toàn khác biệt nhau xuất phát từ nội hàm của hai từ “cản trở” và “từ chối” mà cụ thể là hành vi cản trở việc thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS có nghĩa là gây khó khăn trở ngại hoặc làm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không tiến hành được hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS. Còn hành vi từ chối thực hiện tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS được hiểu là không chịu nhận thực hiện hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS theo yêu cầu của cơ quan phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương. Xét về tính chất, mức độ nguy hại theo quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS thì hành vi cản trở có tính chất, mức độ nguy hại thấp hơn do đó là hành vi làm hạn chế quyền của tổ chức, cá nhân trong  việc thực hiện hoạt động truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS, còn hành vi từ chối phối hợp có tính chất, mức độ nguy hại hơn do đó là hành vi không thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho tổ chức, cá nhân đó.

Xuất phát từ sự khác nhau này, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với từng hành vi cũng có sự khác biệt. Theo quy định tại Điều 18 của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì hành vi cản trở việc thực hiện thông tin, giáo dục truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, còn hành vi từ chối phối hợp với cơ quan phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương trong việc thực hiện tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Câu hỏi 18: Xin cho tôi được biết ngoài việc quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với người sử dụng lao động nếu không tổ chức thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS cho người lao động của cơ sở mình thì Nghị định số 69/2011/NĐ-CP còn quy định việc xử phạt liên quan đến thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV đối với đối tượng nào không và mức xử phạt cụ thể như thế nào?

Trả lời: Ngoài việc quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với người sử dụng lao động nếu không tổ chức thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS cho người lao động của cơ sở mình thì Nghị định số 69/2011/NĐ-CP còn quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với một số đối tượng khác nếu có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 18 Nghị định này:

1.                   Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi sau đây:

a, Không tổ chức giảng dạy cho học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống HIV/AIDS, lồng ghép với giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản và thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS khác theo chương trình giảng dạy đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

2.Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a, Không tổ chức tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống HIV/AIDS đối với người đi học, người lao động;

b, Không tổ chức tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS cho các đối tượng thuộc diện quản lý của cơ sở cai nghiện, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.

Câu hỏi 19: Xin cho biết làm thế nào để xác định được hành vi công bố sai thẩm quyền về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS và việc xử lý đối với hành vi này?

Trả lời: Việc xác định hành vi công bố sai thẩm quyền về số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS được xác định thông qua việc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện việc công bố số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS hay không. Một vấn đề nữa cũng cần được lưu ý đó là việc mặc dù cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện việc công bố số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS có được giao quyền công bố số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS nhưng chỉ được công bố các số liệu hoặc tình hình trong phạm vi được giao phụ trách mà lại thực hiện việc công bố số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS thuộc thẩm quyền của cơ quan khác thì cũng được coi là công bố sai thẩm quyền.

trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về y tế giao cho mình quyền mà vẫn thực hiện việc công bố số liệu, tình hình dịch HIV/AIDS thì sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đồng thời phải thực hiện việc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày.

Câu hỏi 20: Theo tôi được biết thì việc thực hiện chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS trên các phương tiện thông tin đại chúng là miễn phí. Vậy nếu một báo điện tử của tỉnh tôi thu phí phát sóng đối với chương trình truyền thông về phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con có đúng hay không?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 7 Điều 13 của Luật phòng, chống HIV/AIDS thì việc thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS không thu phí, trừ trường hợp thực hiện theo hợp đồng với Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS hoặc do tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tài trợ. Do vậy, nếu chương trình truyền thông về phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con là chương trình thực hiện không phải bằng nguồn ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS hoặc do tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tài trợ thì việc thu phí phát sóng là sai và sẽ bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đồng thời còn bị buộc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày và bị buộc hoàn trả lại số tiền đã thu không đúng quy định của pháp luật.

Câu hỏi 21: Xin cho biết hành vi tiết lộ cho người khác biết việc một người nhiễm HIV có bị xử phạt vi phạm hành chính haykhong6?

Trả lời: Khoản 5 Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định nghiêm cấm việc tiết lộ cho người khác biết một người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người đó, trừ trường hợp quy định tại Điều 30 của Luật này.

Theo quy định tại Điều 30 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì các đối tượng sau đây có thể thực hiện việc tiết lộ cho người khác biết về tình trạng nhiễm HIV của một người kể cả khi chưa được sự đồng ý của người đó:

1. Người được xét nghiệm;

2. Vợ hoặc chồng của người được xét nghiệm, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người được xét nghiệm là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự;

3. Người có trách nhiệm chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV tại các cơ sở y tế, bao gồm trưởng khoa, trưởng phòng, điều dưỡng viên trưởng nơi người nhiễm HIV điều trị, nhân viên y tế được giao trách nhiệm trực tiếp điều trị, chăm sóc cho người nhiễm HIV tại cơ sở y tế;

4. Người đứng đầu, cán bộ phụ trách y tế, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV tại cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam;

5. Người đứng đầu và cán bộ, công chức được giao trách nhiệm của các cơ quan: cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Tòa án nhân dân.

Tuy nhiên, cần lưu ý là việc tiết lộ thông tin phải thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2010/TT-BYT ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định trách nhiệm, trình tự thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính. Ngoài ra theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật phòng, chống HIV thì những đối tượng nêu trên có trách nhiệm giữ bí mật kết quả xét nghiệm HIV dương tính, trừ trường hợp người nhận thông tin chính là người được xét nghiệm HIV.

Trong trường hợp cá nhân ngoài các đối tượng nêu trên có hành vi tiết lộ cho người khác biết việc một người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người đó thì sẽ bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đồng thời còn bị buộc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày, trừ trường hợp người bị nhiễm HIV không đồng ý xin lỗi, đính chính công khai việc mình bị nhiễm HIV.

Câu hỏi 22: Xin cho biết tại sao hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về thời điểm, thời lượng, vị trí đăng tải thông tin về phòng, chống HIV/AIDS theo quy định của pháp luật lại bị xử lý vi phạm hành chính? Căn cứ nào để xác định hành vi này và mức xử phạt cụ thể đối với hành vi này như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 7 Điều 13 của Luật phòng, chống HIV/AIDS thì các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS trên đài phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo hình, báo điện tử theo quy định của Bộ Văn hóa-Thông tin. Do vậy, nếu các cơ quan thông tin đại chúng không thực hiện quy định này sẽ bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 18 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS.

Việc xác định hành vi này sẽ được căn cứ vào các quy định trong Thông tư liên tịch số 20/2010/TTLT-BTTTT-BYT ngày 20/8/2010 của liên bộ: Bộ Thông tin Truyền thông và Bộ Y tế hướng dẫn việc ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng trên đài phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo điện tử đối với thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS.

Câu hỏi 23: Xin cho biết nếu có người dựa vào các bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS và thông qua các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông người nhiễm HIV để lôi kéo, kích động người nhiễm HIV thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì nếu cá nhân, tổ chức có hành vi như nêu trên sẽ bị xử lý theo quy định tại Khoản 4 Điều 18, cụ thể như sau:

4, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sau đây:

đ, Lợi dụng hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS để kích động, gây phương hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, dân tộc, đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, tùy theo tính chất mức độ và hành vi vi phạm, cá nhân có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89 Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau:

Điều 85. Tội phá hoại cơ sở vật chất-kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất-kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học-kỹ thuật, văn hóa, xã hội thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm thội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 86: Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội, thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

Điều 87: tội phá hoại chính sách đoàn kết

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a, Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

b, Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

c, Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân với các tổ chức xã hội;

d, Phá hoại việc thực hiện chính sách đại đoàn kết quốc tế.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 88: tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một tron những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a, Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b, Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c, Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 89: tội phá rối an ninh

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 82 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm nam.

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Câu hỏi 24: Xin cho biết nếu một người tung tin là một người khác bị nhiễm HIV mà trên thực tế người đó không bị nhiễm HIV thì có bị coi là có hành vi vi phạm pháp luật hay không? Nếu có, thì hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Khoản 6 Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định nghiêm cấm hành vi “đưa tin bịa đặt về nhiễm HIV đối với người không nhiễm HIV”. Trường hợp vi phạm quy định này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý hành chính theo quy định của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự, cụ thể như sau:

Nếu hành vi vi phạm chưa đến mức xử lý hình sự thì theo quy định tại Khoản 5 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP người có hành vi vi phạm sẽ bị phạt tiến 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và bị buộc phải xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày.

Trường hợp hành vi vi phạm có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội hình sự thì người có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý hình sự theo quy định tại một trong hai điều 121 hoặc 122 Bộ luật hình sự:

Điều 121: Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a, Phạm tội nhiều lần;

b, Đối với nhiều người;

c, Lợi dụng chức quyền, quyền hạn;

d, Đối với người thi hành công vụ;

đ, Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122: Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cái tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Câu hỏi 25: xin cho biết việc công khai tên, địa chỉ, hình ảnh người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người đó sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì hành vi nêu trên là một trong các hành vi bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, tại Điều 30 Luật phòng, chống HIV/AIDS cũng có quy định giao quyền công khai tên, địa chỉ, hình ảnh người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người đó cho một số đối tượng nhằm bảo đảm tính phù hợp với thực tiễn của hoạt động của các đối tượng này. Chính vì vậy, khi xuất hiện hành vi công khai tên, địa chỉ, hình ảnh người nhiễm HIV, trước hết ta cần xem xét xem người có hành vi công khai tên, địa chỉ, hình ảnh người nhiễm HIV có thuộc một trong các đối tượng sau đây không:

1. Người được xét nghiệm;

2. Vợ hoặc chồng của người được xét nghiệm, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người được xét nghiệm là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự;

3. Nhân viên được giao nhiệm vụ trực tiếp tư vấn, thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho người được xét nghiệm;

4. Người có trách nhiệm chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV tại các cơ sở y tế, bao gồm trưởng khoa, trưởng phòng, điều dưỡng viên trưởng nơi người nhiễm HIV điều trị, nhân viên y tế được giao trách nhiệm trực tiếp điều trị, chăm sóc cho người nhiễm HIV tại cơ sở y tế;

5. Người đứng đầu, cán bộ phụ trách y tế, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV tại cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam;

6. Người đứng đầu và cán bộ, công chức được giao trách nhiệm của các cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.

Trường hợp tổ chức, cá nhân có hành vi công khai tên, địa chỉ, hình ảnh người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người đó không thuộc một trong các đối tượng nêu trên thì người đó sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 5 Điều 18 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân đó còn bị buộc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày, trừ trường hợp người bị nhiễm HIV không đồng ý xin lỗi, đính chính công khai việc mình bị nhiễm HIV.

Câu hỏi 26: Xin cho biết sự khác nhau giữa hành vi không đưa thông tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV với hành vi sử dụng hình ảnh, thông điệp truyền thông có tính chất kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình người nhiễm HIV?

Trả lời: Hành vi đưa thông tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV là hành vi đưa thông tin, hình ảnh sai lệch về người nhiễm HIV hoặc gắn với các tệ nạn xã hội dẫn đến việc kỳ thị, phân biệt đối xử. Ví dụ: Hình ảnh người nhiễm HIV gầy gò, ốm yếu hoặc hình ảnh đầu lâu, xương chéo trong các pano truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS.

Còn hành vi sử dụng hình ảnh, thông điệp truyền thông có tính chất kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình người nhiễm HIV là hành vi đưa các thông điệp, thông tin có nội dung kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV hoặc làm cho người tiếp nhận thông tin có hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ. Ví dụ: Việc sử dụng hình ảnh người nhiễm HIV như một bằng chứng của một hành vi vi phạm pháp luật hay việc sử dụng cách nói, cách viết làm cho người nghe, người đọc liên tưởng người nhiễm HIV với các tệ nạn xã hội.

Như vậy, có thể thấy mức độ nguy hại của hành vi sử dụng hình ảnh, thông điệp truyền thông có tính chất kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình người nhiễm HIV lớn hơn rất nhiều so với hành vi không đưa thông tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV. Chính vì vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng hình ảnh, thông điệp truyền thông có tính chất kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình người nhiễm HIV cũng nặng hơn khá nhiều so với hành vi đưa thông tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV. Theo đó, tổ chức, cá nhân có hành vi sử dụng hình ảnh, thông điệp truyền thông có tính chất kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình người nhiễm HIV sẽ bị xử phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, đồng thời còn bị buộc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn liên tục trong 3 ngày, trừ trường hợp người bị nhiễm HIV không đồng ý xin lỗi, đính chính công khai việc mình bị nhiễm HIV.

PHẦN 3

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH

VỀ TƯ VẤN VÀ XÉT NGHIỆM HIV/AIDS

HÌNH THỨC VÀ MỨC PHẠT

Câu 27: Trong quá trình khám bệnh tại bệnh viện A, tôi được chỉ định làm một số xét nghiệm và khi trả kết quả tôi mới được biết là mình có được làm cả xét nghiệm HIV. Vậy xin cho tôi biết trong trường hợp này, bệnh viện A có vi phạm quy định nào của pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS hay không? Nếu có thì hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Nếu đúng như bạn phản ánh thì trước hết phải khẳng định với bạn là bệnh viện A đã vi phạm tại Khoản 1 Điều 26 Luật phòng, chống HIV/AIDS. Theo quy định tại điều khoản nêu trên thì tất cả các trường hợp xét nghiệm HIV đều phải được tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV. Nội dung và quy trình tư vấn phải bảo đảm tuân thủ quy định tại Quyết định số 647/QĐ-BYT ngày 22/02/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Và theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì bệnh viện đó sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Câu hỏi 28: Xin cho biết nếu một người sau khi xét nghiệm và có kết quả xét nghiệm HIV dương tính mà không thông báo cho vợ hoặc chồng hoặc người chuẩn bị kết hôn với mình biết thì có bị coi là vi phạm pháp luật không? Nếu có thì hành vi này sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:  Theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 4 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì người nhiễm HIV có trách nhiệm thông báo kết quả xét nghiệm HIV của mình cho vợ hoặc chồng hoặc người chuẩn bị kết hôn với mình biết. Trường hợp không thông báo sẽ bi xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Bên cạnh đó, nếu người nhiễm HIV không thông báo mà vẫn quan hệ tình dục với vợ hoặc chồng hoặc người chuẩn bị kết hôn với mình và làm lây truyền cho người đó thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điều 17, 118 Bộ luật hình sự, cụ thể như sau:

Điều 117: Tội lây truyền HIV cho người khác

1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

2, Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a, Đối với nhiều người;

b, Đối với người chưa thành niên;

c, Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình;

d, Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Điều 118: Tội cố ý truyền HIV cho người khác

1. Người nào cố ý truyền HIV cho người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 117 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc chung thân:

a, Có tổ chức;

b, Đối với nhiều người;

c, Đối với người chưa thành niên;

d, Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

Lợi dụng nghề nghiệp.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Câu hỏi 29: Trường hợp một cơ sở có thực hiện xét nghiệm nhưng không thực hiện việc thống kê báo cáo kết quả số lượng xét nghiệm HIV mà cơ sở mình đã thực hiện thì có bị coi là vi phạm pháp luật không?

Trả lời: Ngày 14/8/2008, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quy chế báo cáo và Biểu mẫu báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Theo quy định tại Quyết định này thì tất cả các cơ sở có thực hiện hoạt động phòng, chống HIV/AIDS nói chung và có thực hiện hoạt động xét nghiệm HIV nói riêng đều phải thực hiện việc thống kê, báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS mà mình đã thực hiện.

Trường hợp không thực hiện việc thống kê, báo cáo theo quy định nêu trên thì sẽ bị phạt tiền theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Câu hỏi 30: Xin cho biết nếu một cơ sở y tế vi phạm các quy định về lưu trữ kết quả xét nghiệm, lưu trữ và tiêu hủy các mẫu máu, túi máu, chế phẩm máu, bệnh phẩm nhiễm HIV thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì hành vi vi phạm các quy định về lưu trữ kết quả xét nghiệm, lưu trữ và tiêu hủy các mẫu máu, túi máu, chế phẩm máu, bệnh phẩm nhiễm HIV sẽ bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Việc xác định hành vi vi phạm nêu trên phải căn cứ vào Quyết định số 12/2005/QĐ-BYT ngày 28/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy định chuyên môn trong công tác xét nghiệm HIV để bảo đảm an toàn truyền máu cũng như Quyết định số 3052/2000/QĐ-BYT ngày 29/8/2000 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Tiêu chuẩn phòng xét nghiệm đủ điều kiện khẳng định các trường hợp HIV dương tính cũng như Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 03/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế.

Câu hỏi 31: Tôi được biết Nghị định số 69/2011/NĐ-CP có quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về thành lập và hoạt động của tổ chức tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. Vậy xin cho biết căn cứ để xác định hành vi vi phạm và mức xử phạt trong trường hợp xảy ra vi phạm?

Trả lời: Việc xác định hành vi vi phạm quy định về thành lập và hoạt động của tổ chức tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS được căn cứ thông qua việc đối chiếu với các quy định của Thông tư số 06/2012/TT-BYT ngày 12/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về điều kiện thành lập và nội dung hoạt động của tổ chức tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. Theo đó, cần xác định cụ thể hành vi vi phạm theo các quy định về điều kiện đối với nhân sự, điều kiện đối với cơ sở vật chất, điều kiện về trang thiết bị và quy định về phạm vi thực hiện việc tư vấn đối với từng loại hình tổ chức tư vấn để từ đó xác định mức xử phạt. Trường hợp tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Câu hỏi 32: xin cho biết thế nào là hành vi cản trở quyền tiếp cận với dịch vụ tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS và mức xử phạt đối với hành vi này?

Trả lời: Khoản 1 Điều 22 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định mọi người có quyền tiếp cận với dịch vụ tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS do vậy mọi hành vi gây khó khăn trở ngại hoặc làm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không tiếp cận được với dịch vụ tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS đều bị coi là có hành vi cản trở quyền tiếp cận với dịch vụ tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS. Trường hợp, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở nêu trên sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Câu hỏi 33: Xin cho biết nếu cơ sở y tế không tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS cho tôi khi đi khám thai định kỳ thì có bị coi là vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì mức xử phạt đối với hành vi này như thế nào?

Trả lời: Khoản 3 Điều 35 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, cho con bú được tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS do vậy nếu bạn không bị nhiễm HIV hoặc không tự công bố về tình trạng nhiễm HIV của mình thì cơ sở y tế không có trách nhiệm phải tư vấn cho bạn trong trường hợp bạn đi khám thai định kỳ. Nếu bạn đã công bố về tình trạng nhiễm HIV của mình với cơ sở y tế nơi bạn theo dõi thai kỳ mà cơ sở đó không thực hiện việc tư vấn về phòng, chống HIV/AIDS cho bạn thì cơ sở đó sẽ bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đ.

Câu hỏi 34: Xin cho biết nếu cơ sở y tế không tuân quy trình, kỹ thuật xét nghiệm HIV thì có bị coi là vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì mức xử phạt đối với hành vi này như thế nào?

Trả lời: Trong thực hiện xét nghiệm nói chung và thực hiện xét nghiệm HIV nói riêng thì việc tuân thủ đúng các quy trình, kỹ thuật xét nghiệm là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm tính chính xác của kết quả xét nghiệm. Do vậy nếu người thực hiện xét nghiệm HIV không thực hiện đúng các quy trình, kỹ thuật xét nghiệm sẽ bị coi là có hành vi vi phạm pháp luật và bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, ngoài ra cá nhân có hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề trong thời gian 06 tháng.

Câu hỏi 35: Xin cho biết quy trình thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho một người bệnh đang điều trị nội trú tại bệnh viện và nếu bệnh viện đó không tuân thủ quy trình này thì có bị coi là vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì mức xử phạt đối với hành vi này như thế nào?

Trả lời: Theo quy định của Thông tư số 01/2010/TT-BYT ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định trách nhiệm, trình tự thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính thì quy trình thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho một người bệnh đang điều trị nội trú được quy định như sau:

1. Sau khi có kết quả xét nghiệm từ bộ phận xét nghiệm, người phụ trách bộ phận xét nghiệm chuyển phiếu trả lời kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho điều dưỡng viên trưởng của khoa hoặc phòng nơi người bệnh đang điều trị.

2. Điều dưỡng viên trưởng của khoa hoặc phòng nơi người bệnh điều trị có trách nhiệm:

a, Lưu phiếu trả lời kết quả xét nghiệm HIV dương tính vào hồ sơ bệnh án;

b, Báo cáo trưởng khoa để thông báo cho bác sỹ và điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc, điều trị cho người bệnh.

3. Bác sỹ trực trực tiếp điều trị cho người bệnh có trách nhiệm tư vấn và thông báo kết quả xét nghiệm cho người bệnh.

            Trường hợp không thể tư vấn trực tiếp cho người bệnh, bác sỹ trực tiếp điều trị cho người bệnh phải đề nghị vợ hoặc chồng của người được xét nghiệm hoặc cha, mẹ hoặc người giám hộ của người được xét nghiệm là người chưa thành niên hoặc là người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ đến bộ phận tư vấn để tiến hành tư vấn và thông báo kết quả xét nghiệm cho họ.

4. Trường hợp người bệnh phải chuyển khoa, điều dưỡng viên trưởng khoa hoặc phòng nơi người bệnh chuyển đi phải chuyển phiếu trả lời kết quả cho điều dưỡng viên trưởng của khoa hoặc phòng nơi tiếp nhận người bệnh khi chuyển hồ sơ bệnh án.

Điều dưỡng viên trưởng của khoa hoặc phòng nơi tiếp nhận người bệnh có trách nhiệm thực hiện các quy định tại Khoản 2 Điều này.

5. Trường hợp người bệnh phải chuyển viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi người bệnh chuyển đi phải chuyển phiếu trả lời kết quả xét nghiệm HIV dương tính kèm theo hồ sơ bệnh án.

Điều dưỡng viên trưởng của khoa hoặc phòng nơi tiếp nhận người bệnh có trách nhiệm báo cáo với trưởng khoa về tình trạng nhiễm HIV của người bệnh để trưởng khoa thông báo cho bác sỹ và điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc, điều trị cho người bệnh.

6. Trường hợp người bệnh ra viện, phiếu trả lời kết quả xét nghiệm HIV phải được lưu cùng hồ sơ bệnh án

Trong trường hợp bệnh viện hoặc cá nhân được giao nhiệm vụ không tuân thủ đúng quy trình nêu trên thì sẽ bị xử phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Mức phạt tiền này cũng được áp dụng đối với các trường hợp có hành vi vi phạm quy trình thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính đối với:

- Trường hợp đến xét nghiệm HIV tại cơ sở y tế thuộc hệ y tế dự phòng;

- Trường hợp được lấy mẫu xét nghiệm HIV tại các cơ sở tư vấn, xét nghiệm tự nguyện;

- Trường hợp người được xét nghiệm HIV là người đến khám tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

- người đang được chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, trại giam, trại tạm giam, cơ sở chữa bệnh;

- Trường hợp xét nghiệm theo trưng cầu giám định tư pháp hoặc theo quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, hoặc Tòa án nhân dân.

Câu hỏi 36: Xin cho biết yêu cầu đối với việc thực hiện xét nghiệm HIV và trả kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho người dưới 16 tuổi? Trường hợp có vi phạm thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định của Thông tư số 01/2010/TT-BYT ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định trách nhiệm, trình tự thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính thì trường hợp người được xét nghiệm là người dưới 16 tuổi hoặc là người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ: Người chịu trách nhiệm trả kết quả xét nghiệm HIV dương tính tiến hành việc tư vấn và trả kết quả xét nghiệm cho cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ của họ sau khi đã tư vấn cho những người này. Việc thông báo kết quả xét nghiệm cho các đối tượng này chỉ được thực hiện sau khi được sự đồng ý bằng văn bản của cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ của họ và đã tư vấn cho người được xét nghiệm HIV.

Trường hợp vi phạm quy định này thì tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 37: Xin cho biết việc thu phí đối với các trường hợp bắt buộc xét nghiệm HIVcó đúng không? Nếu sai thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Trước hết, cần xem xét người bị áp dụng biện pháp xét nghiệm HIV thuộc nhóm đối tượng nào bởi theo quy định tại Điều 28 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì ngân sách Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm chi trả đối với trường hợp có trưng cầu giám định tư pháp hoặc quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Tòa án nhân dân. Do vậy nếu người bị áp dụng biện pháp xét nghiệm HIV không thuộc trường hợp nêu trên vẫn phải tự chi trả chi phí xét nghiệm. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp xét nghiệm HIV thuộc trường hợp nêu trên mà cơ sở y tế nơi thực hiện xét nghiệm vẫn thu tiền xét nghiệm thì ngoài việc bị xử phạt với mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng còn bị buộc hoàn trả số tiền đã thu không đúng quy định pháp luật.

Quy định này cũng áp dụng đối với trường hợp phụ nữ mang thai tự nguyện xét nghiệm HIV.

Câu hỏi 38: Xin cho biết nếu một cơ sở có thực hiện xét nghiệm HIV nhưng không tổ chức hoạt động tư vấn trước và sau xét nghiệm thì có vi phạm quy định nào của pháp luật không? Nếu có vi phạm thì sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời: Xin trả lời bạn là có vì theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì cơ sở xét nghiệm HIV có trách nhiệm tổ chức việc tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV và theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS. Trường hợp vi phạm quy định nêu trên sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 39: Xin cho biết ngoài việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không tuân thủ quy trình thông báo kết quả xét nghiệm HIV thì có hành vi nào liên quan đến thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính bị xử phạt không?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì cá nhân tổ chức sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a, Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính khi kết quả đó chưa được phòng xét nghiệm đủ tiêu chuẩn khẳng định là dương tính;

b, Thông báo kết quả kết nghiệm HIV dương tính cho người đến xét nghiệm khi không được phép.

Câu hỏi 40: Tôi được biết pháp luật về phòng, chống HIV có quy định cấm xét nghiệm HIV bắt buộc, vậy nếu vi phạm quy định này thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Khoản 7 Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định nghiệm cấm hành vi bắt buộc xét nghiệm HIV, tuy nhiên để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, pháp luật về phòng, chống HIV            cũng quy định việc xét nghiệm HIV bắt buộc trong các trường hợp có trưng cầu giám định tư pháp hoặc quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân hoặc trong một số trường hợp cần thiết để chẩn đoán và điều trị cho người bệnh hoặc trước khi tuyển dụng đối với các nghề sau:

- Thành viên tổ lái theo quy định tại Điều 72 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam;

- Nghề đặc biệt thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng.

Trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định nêu trên sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Câu hỏi 41: Theo tôi biết thì việc xét nghiệm HIV phải thực hiện bằng các sinh phẩm đã được cấp phép lưu hành, vậy nếu vi phạm quy định này thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 19 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì hành vi xét nghiệm HIV bằng các loại sinh phẩm  chẩn đoán đã hết hạn sử dụng hoặc chưa được Bộ trưởng Bộ Y tế cho phép lưu hành sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng ngoài ra người thực hiện hành vi này còn bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề trong thời gian 06 tháng và cơ sở có hành vi vi phạm bị buộc tiêu hủy sinh phẩm chẩn đoán đã hết hạn sử dụng.

PHẦN 4

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH

VỀ CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ NGƯỜI NHIỄM HIV

HÌNH THỨC VÀ MỨC PHẠT

Câu hỏi 42: Xin cho tôi biết là nếu cơ sở điều trị HIV/AIDS không thực hiện tư vấn trước khi điều trị bằng thuốc kháng HIV thì có bị coi là hành vi vi phạm pháp luật không?

Trả lời: Theo quy định tại Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế thì việc cung cấp thông tin và tư vấn về điều trị bằng thuốc kháng HIV cho người nhiễm HIV là bắt buộc. Theo đó, người nhiễm HIV sẽ được cung cấp và tư vấn về các vấn đề sau:

- Cung cấp thông tin về diễn biến nhiễm HIV, dự phòng lây nhiễm HIV, sống khỏe mạnh, dinh dưỡng và điều trị bằng thuốc kháng HIV sau đó tư vấn cá nhân. Mỗi người bệnh cần được tư vấn trước khi điều trị bằng thuốc kháng HIV 3 lần.

- Tư vấn cụ thể về điều trị bằng thuốc kháng HIV, phác đồ điều trị của từng bệnh nhân, tầm quan trọng của tuân thủ điều trị và kế hoạch hỗ trợ tuân thủ điều trị cũng như xử trí các vấn đề nảy sinh trong quá trình điều trị như quên thuốc, tác dụng phụ…

Trường hợp không thực hiện việc tư vấn sẽ bị coi là không tuân thủ các quy định về quy trình, phác đồ điều trị HIV/AIDS theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế và sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 43: Xin cho tôi biết là pháp luật có quy định về điều kiện đối với người thực hiện việc kê đơn thuốc kháng HIV hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì chỉ các bác sỹ đã qua đào tạo, tập huấn về điều trị HIV/AIDS theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế mới được phép kê đơn thuốc kháng HIV cho người nhiễm HIV, người bị phơi nhiễm với HIV. Do vậy, người nào thực hiện việc kê đơn thuốc kháng HIV nhưng không có giấy chứng nhận đã qua tập huấn, đào tạo về điều trị HIV/AIDS sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 44: Xin cho tôi hỏi là việc điều trị bằng thuốc kháng HIV có thể thực hiện tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào đúng không?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật phòng, chống HIV/AIDS thì trường hợp điều trị bằng thuốc kháng HIV thì cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ Y tế. Căn cứ quy định của Luật, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 09/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 hướng dẫn điều kiện và phạm vi chuyên môn của cơ sở y tế điều trị bằng thuốc kháng HIV và theo quy định tại Thông tư này thì chỉ các cơ sở đáp ứng đủ cả 3 điều kiện về nhân sự, trang thiết bị và cơ sở vật chất mới được thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV. Trường hợp cơ sở không đủ điều kiện nêu trên mà vẫn thực hiện việc điều trị bằng thuốc kháng HIV sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 45: Tôi đã tham gia điều trị bằng thuốc kháng HIV tại cơ sở X nhưng vì phải chuyển nơi làm việc nên tôi có đến xin bản sao bộ hồ sơ bệnh án của mình để chuyển đến cơ sở điều trị nơi tôi sẽ chuyển đến nhưng được trả lời là không có hồ sơ lưu. Vậy cơ sở đó làm đúng hay sai? Nếu sai thì có bị xử lý không?

Trả lời:  Theo quy định tại Thông tư số 09/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn điều kiện và phạm vi chuyên môn của cơ sở y tế điều trị bằng thuốc kháng HIV thì hồ sơ, bệnh án của người nhiễm HIV đang được điều trị bằng thuốc kháng HIV được lập, quản lý và lưu trữ theo quy định tại Quy chế lưu trữ hồ sơ bệnh án thuộc Quy chế bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Sau điều trị 3 năm có thể được sao lưu, tóm tắt quá trình điều trị và mở bệnh án mới. Bệnh án gốc sau khi sao lưu phải lưu trữ tại bộ phận lưu trữ bệnh án của cơ sở y tế nơi triển khai điều trị bằng thuốc kháng HIV. Trường hợp cơ sở nơi bạn đang điều trị không thực hiện việc lưu trữ bệnh án sẽ bị coi là có hành vi không tuân thủ các quy định của pháp luật về việc lưu trữ các tài liệu, hồ sơ, bệnh án liên quán đến điều trị bằng thuốc kháng HIV và sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 46: Xin cho tôi biết quy định của pháp luật về chế độ chăm sóc người nhiễm HIV tại cơ sở bảo trợ xã hội và việc xử lý khi có hành vi vi phạm các quy định này?

Trả lời: Chế độ chăm sóc người nhiễm HIV tại các cơ sở bảo trợ xã hội được quy định tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP. Theo quy định tại các văn bản này thì người nhiễm HIV đang được chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước sẽ được hưởng các chế độ sau:

1. Hưởng trợ cấp thường xuyên;

2. Được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập  theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Được hưởng chế độ học văn hóa, học nghề.

4. Được Nhà nước hỗ trợ tạo việc làm, nơi ở và tiếp tục cho hưởng trợ cấp cho đến khi tự lập được cuộc sống, nhưng không quá 24 tháng đối với đối tượng là trẻ em bị bỏ rơi sống tại cơ sở bảo trợ xã hội đã đến tuổi trưởng thành nhưng không tiếp tục học văn hóa, học nghề.

5.  Ngoài được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng, tùy theo nhóm đối tượng thì người nhiễm còn được hưởng thêm các khoản trợ giúp sau:

a, Các đối tượng đang học văn hóa, học nghề được miễn, giảm học phí, được cấp sách, vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật.

b, Khi chết được hỗ trợ kinh phí mai tang mức 2.000.000 đồng/người.

6.  Các đối tượng ở cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Nhà nước quản lý ngoài các khoản trợ giúp nêu trên còn được:

a, Trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày;

b, Trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường; riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội mức 250.000 đồng/người/năm;

c, Trợ cấp vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP thì các co sở bảo trợ xã hội tư nhân cũng phải bảo đảm các điều kiện chăm sóc tối thiểu như của cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước. Trường hợp cơ sở bảo trợ xã hội không tuân thủ việc thực hiện các chế độ nêu trên sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Câu hỏi 47: Xin cho tôi biết quy định của pháp luật về thứ tự ưu tiên tiếp cận thuốc kháng HIV và việc xử lý khi có hành vi vi phạm các quy định này?

Trả lời: Theo quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS thì thuốc kháng HIV do ngân sách nhà nước chi trả, thuốc do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ được cấp miễn phí cho người nhiễm HIV tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS theo thứ tự ưu tiên sau đây:

1. trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi nhiễm HIV;

2. Người nhiễm HIV tích cực tham gia phòng, chống HIV/AIDS;

3. Người nhiễm HIV có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;

4. những người khác nhiễm HIV.

Trường hợp cơ sở điều trị HIV/AIDS không tuân thủ quy định về ưu tiên trong tiếp cận thuốc kháng HIV sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Câu hỏi 48: Xin cho tôi biết quy định của pháp luật về trách nhiệm của cơ sở y tế trong việc quản lý, chăm sóc phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai và việc xử lý khi có hành vi vi phạm các quy định này?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 35 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì cơ sở y tế có trách nhiệm theo dõi, điều trị và thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai. Nội dung theo dõi, điều trị cho phụ nữ mang thai gồm:

Tư vấn xét nghiệm HIV trước sinh: đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đánh giá tình trạng HIV của phụ nữ mang thai, từ đó xác định các can thiệp phù hợp.

Những phụ nữ mang thai được tư vấn xét nghiệm HIV có kết quả dương tính cần được theo dõi liên tục và can thiệp đúng quy trình nhằm làm giảm tới mức thấp nhất nguy cơ lây nhiễm HIV cho những trẻ sinh ra từ các bà mẹ này:

- Được giới thiệu, chuyển gửi tới các cơ sở chăm sóc điều trị HIV/AIDS cho người lớn để đánh giá về lâm sàng (nhiễm trùng cơ hội, giai đoạn lâm sàng) và xét nghiệm (đồng nhiễm viêm gan B/C, các xét nghiệm cơ bản, số lượng tế bào CD4). Nếu đủ tiêu chuẩn điều trị bằng thuốc kháng HIV theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS ban hành kèm theo Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 thì sẽ được tiến hành điều trị bằng thuốc kháng HIV cho những phụ nữ này (chú ý sử dụng các thuốc không ảnh hưởng tới thai nhi: ví dụ không sử dụng EFV, đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ).

- Với những phụ nữ mang thai HIV dương tính mà tình trạng lâm sàng và miễn dịch còn tốt, cần tiến hành điều trị dự phòng bằng AZT liên tục cho đến khi chuyển dạ- dùng thêm liều đơn NVP 20mg vào tuần thai thứ 14 hoặc ngay sau khi phát hiện nhiễm HIV sau tuần thứ 14. Đồng thời, cứ 3 tháng 1 lần, kiểm tra CD4, nếu số lượng CD4 giảm<350TB/mm3 thì bắt đầu điều trị ARV bằng phác đồ AZT+3TC+EFV.

Theo dõi quản lý có hệ thống và đưa ra các quyết định can thiệp phù hợp có hiệu quả cao làm giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con.

Các can thiệp trước sinh: tư vấn xét nghiệm HIV, sàng lọc và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bổ sung vitamin, sắt, dự phòng và điều trị nhiễm trùng cơ hội, sử dụng thuốc kháng HIV để điều trị cho mẹ hoặc điều trị dự phòng lây truyền mẹ sang con…là những biện pháp hết sức cần thiết và hiệu quả làm giảm tỷ lệ lây truyền mẹ sang con.

Các can thiệp trong khi sinh: với những phụ nữ chưa tiếp cận các can thiệp trước sinh, cần tư vấn xét nghiệm nhanh HIV, nếu dương tính thì sử dụng phác đồ điều trị bằng thuốc kháng HIV hoặc dự phòng lây truyền mẹ sang con theo hướng dẫn, tránh các can thiệp như bấm ối, forcep, cắt tầng sinh môn…cân nhắc chỉ định mổ lấy thai, nhanh chóng lau sạch máu và sản dịch cho trẻ sơ sinh.

Can thiệp sau sinh: chủ yếu là tư vấn cho người mẹ về những lợi ích và nguy cơ lây nhiễm HIV khi cho trẻ bú. Tốt nhất là nuôi trẻ bằng sữa thay thế nếu có điều kiện. Trường hợp không có điều kiện sử dụng sữa thay thế, cần hướng dẫn người mẹ cho bú hoàn toàn trong thời gian đầu, sau đó cai sữa sớm chuyển ăn dặm ngay khi có thể để giảm nguy cơ lây truyền HIV cho trẻ. Trẻ cần được giới thiệu và chuyển gửi tới các phòng khám ngoại trú cho trẻ em để theo dõi và điều trị bằng thuốc kháng HIV.

Trường hợp cơ sở y tế không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về chăm sóc, điều trị cho phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV mà mình đang quản lý sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Câu hỏi 49: Xin cho tôi biết ngoài các vấn đề nêu trên, pháp luật còn có quy định xử lý đối với những hành vi nào liên quan đến chăm sóc, điều tị người nhiễm HIV?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì việc áp dụng hình phạt tiền với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

1. Không tổ chức quản lý, chăm sóc, tư vấn điều trị cho người nhiễm HIV tại cơ sở cai nghiện, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng;

2. Không thực hiện việc theo dõi, điều trị và thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm HIV từ mẹ sang con đối với phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai thuộc diện quản lý;

3. Không hướng dẫn hoặc điều trị dự phòng lây nhiễm HIV đối với người bị phơi nhiễm với HIV;

4. Cản trở người nhiễm HIV tham gia việc chăm sóc cho người nhiễm HIV khác hoặc cản trở họ tiếp nhận với các dịch vụ chăm sóc, điều trị.

PHẦN 5

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI

TRONG DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV VÀ CÁC QUY ĐỊNH KHÁC

CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG HIC/AIDS

HÌNH THỨC VÀ MỨC PHẠT

Câu hỏi 50: Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng được cấp cho những đối tượng nào? Trách nhiệm của nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BYT-BCA ngày 20/01/2010 của liên bộ: Bộ Y tế-Bộ Công an quy định việc cấp, phát, quản lý và sử dụng Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV thì tiêu chuẩn của người được cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng được quy định như sau:

a, Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng.

b, Là người không đang  trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Khi thực hiện các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV thì nhân viên tiếp cận cộng đồng có trách nhiệm:

- Thông báo với Ủy ban nhân dân và công an cấp xã trước khi triển khai thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trên địa bàn;

- Sử dụng thẻ khi thực hiện nhiệm vụ đúng với phạm vi trách nhiệm được phân công.

Nếu không thực hiện những trách nhiệm này thì theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức như sau:

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

a, Không sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;

b, Sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng đã hết hạn sử dụng khi thực hiện các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;

c, Tẩy xóa, sửa chữa hoặc cho người khác mượn thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng;

d, Không thông báo việc triển khai tổ chức các hoạt động can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan công an cùng cấp nơi triển khai hoạt động;

đ, Cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng cho người không đủ tiêu chuẩn hoặc không tuân thủ trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng không đúng mục đích, phạm vi hoạt động hoặc quy định của chương trình, dự án về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV.

Câu hỏi 51: Xin hãy cho biết các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV mà không phối hợp với cơ quan phòng, chống HIV/AIDS có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không?

Trả lời: Theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì đối với hành vi không phối hợp với cơ quan phòng, chống HIV/AIDS địa phương trong việc thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 52: Bác sỹ Nguyễn Thị T đang làm việc tại cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và đang được phân công thực hiện việc kê đơn thuốc thay thế. Trong một đợt đi kiểm tra của thanh tra chuyên ngành về y tế thì phát hiện bác sỹ T không được cơ sở điều trị phân công kê đơn thuốc thay thế cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện đang điều trị tại cơ sở điều trị. Đối với hành vi này thì giải quyết như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 6 Điều 10 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì chỉ các bác sỹ, y sỹ đã qua tập huấn về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế và được các cơ sở y tế phân công mới được quyền kê đơn thuốc thay thế cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện khi người đó có tên trong danh sách điều trị của chương trình, dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Như vậy, bác sỹ Nguyễn Thị T đã vi phạm pháp luật khi thực hiện hành vi kê đơn thuốc thay thế cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện.

Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì bác sỹ Nguyễn Thị T sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Đồng thời, bác sỹ T cũng bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề trong thời gian 06 tháng.

Câu hỏi 53: Xin hãy cho biết việc bán ra thị trường thuốc điều trị thay thế nghiện các dạng thuốc phiện đã quy định được cung cấp miễn phí có vi phạm pháp luật hay không?

Trả lời: Theo quy định của Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì thuốc thay thế sử dụng trong việc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện phải được quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuốc gây nghiện và thuốc hướng tâm thần.

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 21, Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi bán ra thị trường thuốc điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện đã quy định được cung cấp miễn phí sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Đồng thời, người hành nghề còn bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề trong thời gian 06 tháng.

Câu hỏi 54: Các cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế chưa được phép lưu hành thì sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời: Theo quy định của nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì việc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế chỉ được thực hiện tại các cơ sở y tế có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và được Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ định thông qua các chương trình, dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời, thuốc thay thế sử dụng trong việc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện phải được Bộ Y tế cấp số đăng ký lưu hành.

Trường hợp cơ sở điều trị thay thế thực hiện việc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế chưa được phép lưu hành thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và người trực tiếp thực hiện việc điều trị sẽ bị áp dụng thêm các hình phạt bồ sung là tịch thu thuốc thay thế và tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề trong thời gian 06 tháng.

Câu hỏi 55: Đối với những bao cao su và bơm kim tiêm sạch thuộc các chương trình, dự án về can thiệp, giảm tác hại trong dự phòng, lây nhiễm HIV nếu không ghi dòng chử “Cung cấp miễn phí, không được bán” thì có bị xử phạt hay không? Mức phạt là bao nhiều?

Trả lời: Việc cung cấp bao cao su, bơm kim tiêm sạch miễn phí cho những đối tượng có nguy cơ cao là một trong những biện pháp hữu hiệu làm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV ở Việt Nam. Tuy nhiên, do việc cung cấp bao cao su và bơm kim tiêm sạch được thực hiện bằng nhiều nguồn khác nhau, trong đó có nguồn từ ngân sách Nhà nước nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì bao cao su, bơm kim tiêm sạch được các chương trình, dự án cung cấp miễn phí cho người nghiện chích ma túy thông qua các nhân viên tiếp cận cộng đồng đã được cấp thẻ hoặc qua mạng lưới các điểm cung cấp bao cao su, bơm kim tiêm sạch. Đồng thời, bao cao su, bơm kim tiêm sạch phải được in rõ trên bao bì hoặc nhãn phụ dòng chữ  “Cung cấp miễn phí, không được bán”.

Với hành vi không thực hiện việc in dòng chữ “Cung cấp miễn phí, không được bán” trên bao bì hoặc nhãn phụ của bao cao su, bơm kim tiêm sạch thuộc các chương trình, dự án về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV thì các tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Câu hỏi 56: Anh/chị hãy cho biết nhà tang lễ, cơ sở có hoạt động mai tang, hỏa tang từ chối mai tang, hỏa táng người chết do liên quan đến HIV/AIDS thì sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời: Việc từ chối mai táng, hỏa táng người chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS là hành vi này vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc không kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV và người bị bệnh AIDS và chính vì vậy hành vi này được Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định là một trong những hành vi bị nghiêm cấm. Trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi nêu trên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đồng thời bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiếp nhận và thực hiện việc mai táng, hỏa táng đối với thi hài, hài cốt người chết liên quan đến HIV/AIDS.

Câu hỏi 57: xin hãy cho biết trường hợp sau đây có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi phạm th́ việc xử lư được tiến hành như thế nào?

Anh Hồ Đức T bị nhiễm HIV và đang được điều trị thuốc ARV tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Y. Trong một lần bị tai nạn giao thông anh T được đưa vào bệnh viện A để điều trị. Sau khi thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng đối với bệnh nhân thì bệnh viện nghi ngờ anh T bị nhiễm HIV nên đã từ chối khám bệnh, chữa bệnh đối với anh T?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 52 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 thì một trong những quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong giấy phép hoạt động nhưng phải giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết. Trong trường hợp này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vẫn phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị cho người bệnh cho đến khi người bệnh được chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

Như vậy, trường hợp của anh Hồ Đức T là không nằm trong những trường hợp được quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh nên việc làm của bệnh viện A là trái pháp luật.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì hành vi từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV là một trong những hành vi bị nghiêm cấm và cá nhân tổ chức có hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, đồng thời còn bị buộc phải xin lỗi trực tiếp đối với anh Hồ Đức T vì hành vi phân biệt đối xử đó.

Câu hỏi 58: Công ty X với hoạt động kinh doanh chủ yếu là xây dựng dân dụng đã từ chối không nhận anh Nguyễn Văn A với lý do anh A bị nhiễm HIV. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi của Công ty X là đúng hay sai?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 20 Nghị định 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thì một số ngành nghề phải thực hiện việc xét nghiệm HIV trước khi tuyển dụng bao gồm:

- Thành viên tổ lái theo quy định tại Điều 72 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam;

- Nghề đặc biệt thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng.

Khi đã tuyển dụng mà phát hiện người lao động nhiễm HIV, người sử dụng lao động phải thực hiện đúng các quy định tại Điều 14 của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS).

Như vậy việc công ty X từ chối không tuyển dụng đối với anh Nguyễn Văn A là vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS và theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP thì công ty X sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Câu hỏi 59: Chị Nguyễn Thị M bị nhiễm HIV là mẹ của học sinh Trần Văn T đang theo học tại trường THCS X. Khi biết được thông tin chị M bị nhiễm HIV ban giám hiệu nhà trường đã thực hiện việc cấm học sinh Trần Văn T tham gia các hoạt động, dịch vụ của trường. Theo anh/chị thì việc làm của trường THCS X có vi phạm pháp luật hay không?

Trả lời: Theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 15 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì cơ sở giáo dục không được có hành vi tách biệt, hạn chế, cấm đoán học sinh, sinh viên, học viên tham gia các hoạt động, dịch vụ của cơ sở vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV. Như vậy, việc làm của trường THCS X đối với học sinh Trần Văn T là vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.

Theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 22 nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì trường THCS X sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Câu hỏi 60:  Trịnh Đình V là sinh viên đang theo học tại trường đại họcT khi biết sinh viên V nhiễm HIV thì trường đại học T đã ra quyết định đuổi học đối với sinh viên V. Theo anh/chị quyết định của trường đại học T có phù hợp với các quy định củaphápluậtkhông?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 15 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân không được có hành vi kỷ luật, đổi học học sinh, sinh viên, học viên vì lý do người đó nhiễm HIV.

Như vậy, quyết định đuổi học đối với sinh viên V của trường đại học T là vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.

Với quyết định như trên thì trường đại học T sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Câu hỏi 61: Anh/chị hãy cho biết người sử dụng lao động từ chối nâng lương, đề bạt hoặc khong bảo đảm các quyền lợi hợp pháp của người lao động nhiễm HIV có đúng với quy định của pháp luật hay không?

Trả lời: Theo quy định tại điều 14 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì người sử dụng lao động không được thực hiện hành vi từ chối nâng lương, đề bạt hoặc không đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động vì lý do người lao động nhiễm HIV.

Như vậy, hành động trên của người sử dụng lao động là trái với quy định tại Điều 14 Luật phòng, chống HIV/AIDS và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Đồng thời phải thực hiện đúng các quy định về nâng lương, đề bạt và bảo đảm các quyền và lợi ích của họ như những người lao động khác.

Câu hỏi 63: Với lý do người lao động bị nhiễm HIV thì người sử dụng lao động có thể chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động năm 1994 thì hợp đồng lao động chấm dứt trong những trường hợp sau:

a, Hết hạn hợp đồng;

b, Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng;

c, Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng;

d, Người lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm công việc cũ theo quyết định của Tòa án;

e, Người lao động chết; mất tích theo tuyên bố của Tòa án.

Tại Điều 38 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp động lao động trong những trường hợp sau đây:

a, Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

b, Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật Lao động;

c, Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đâu đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị  6 tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nữa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

d, Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

đ, Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chứ chấm dứt hoạt động.

Như vậy, việc người sử dụng chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động với lý do người lao động bị nhiễm HIV là trái với quy định của pháp luật về lao động.

Bên cạnh đó, hành vi này cũng vi phạm quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động tại Khoản 2 Điều 14 Luật phòng, chống HIV/AIDS là không được thực hiện hành vi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc gây khó khăn trong quá trình làm việc của người lao động vì lý do người lao động nhiễm HIV.

Nếu người sử dụng lao động vi phạm quy định này thì theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiếp nhận người lao động bị nhiễm HIV tiếp tục làm việc theo hợp đồng lao động.

Câu hỏi 63: Chị Nguyễn Thị Đ đang công tác hành chính tại văn phòng của công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ H. Sau một kỳ kiểm tra sức khỏe do công ty tổ chức, chị Đ đã nghi ngờ mình bị nhiễm HIV nên chị đã đi kiểm tra và nhận được kết quả khẳng định mình đã bị nhiễm HIV. Khi biết thông tin chị Đ nhiễm HIV thì công ty H đã ép buộc chị Đ phải chuyển sang bộ phận kho hàng của công ty. Theo anh/chị thì việc làm của công ty H có đúng quy định của pháp luật hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 14 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì người sử dụng lao động không được thực hiện hành vi ép buộc người lao động còn đủ sức khỏe chuyển công việc mà họ đang đảm nhiệm vì lý do người lao động nhiễm HIV. Do vậy, hành vi của công ty H đối với chị Đ là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối với hành vi này của công ty H sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS. Đồng thời, công ty H còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại vị trí công tác đối với chị Đ.

Câu hỏi 64: Cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện các hành vi phân biệt đối xử với học sinh, sinh viên, học viên nhiễm HIV có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 14 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì cơ sở giáo dục có trách nhiệm tổ chức giảng dạy cho học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống HIV/AIDS, lồng ghép với giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản và thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS khác trong cơ sở đó.

Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục cũng không được từ chối tiếp nhận; kỷ luật, đuổi học học sinh, sinh viên, học viên bị nhiễm HIV và tách biệt, hạn chế, cấm đoán học sinh, sinh viên, học viên tham gia các hoạt động, dịch vụ của cơ sở. Theo quy định của Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

a, Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

- Từ chối tuyển dụng vì lý do người dự tuyển lao động nhiễm HIV, trừ trường hợp quy định tại Điều 20 của Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS);

- Cản trở hoặc từ chối tiếp nhận trẻ em, học sinh, sinh viên, học viên vào học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV;

- Tách biệt, hạn chế, cấm đoán học sinh, sinh viên, học viên tham gia các hoạt động, dịch vụ của cơ sở vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV;

b, Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi kỷ luật, đuổi học sinh, sinh viên, học viên vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV.

Câu hỏi 65: Anh Trần Văn B đến nộp hồ sơ xin việc vào công ty A-hoạt động trong lĩnh vực giao thông, cán bộ phụ trách công tác tuyển dụng của công ty A yêu cầu xuất trình kết quả xét nghiệm HIV. Theo anh/chị thì hành vi của công ty A có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì việc xử lý được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Một trong những nguyên tắc phòng, chống HIV/AIDS là không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ; tạo điều kiện để người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt là các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.

Nội dung Điều 14 Luật phòng, chống HIV/AIDS đã quy định người sử dụng lao động không được yêu cầu xét nghiệm HIV hoặc xuất trình kết quả xét nghiệm HIV đối với người dự tuyển lao động, từ chối tuyển dụng vì lý do người dự tuyển lao động nhiễm HIV, trừ trường hợp thuộc danh mục một số nghề phải xét nghiệm HIV trước khi tuyển dụng theo quy định của Chính phủ.

Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 66: Có ý kiến cho rằng hành vi yêu cầu xuất trình kết quả xét nghiệm HIV đối với học sinh, sinh viên, học viên hoặc người đến xin học là vi phạm pháp luật. Anh/chị hãy cho biết ý kiến trên là đúng hay sai?

Trả lời: Ý kiến trên là đúng. Bởi vì, theo quy định tại Điều 15 Luật phòng, chống HIV/AIDS thì các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân không được yêu cầu xét nghiệm HIV hoặc yêu cầu xuất trình kết quả xét nghiệm HIV đối với học sinh, sinh viên, học viên hoặc người đến xin học.

Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Câu hỏi 67: Xin anh/chị hãy cho biết hành vi đe dọa truyền HIV cho người khác có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi phạm thì được xử lý như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 8 Luật phòng, chống HIV/AIDS một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS là đe dọa truyền HIV cho người khác.

Khi một người thực hiện hành vi đe dọa truyền HIV cho người khác tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 23 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì khi thực hiện hành vi này người nhiễm HIV bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

PHẦN 6

THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM

HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS.

Câu hỏi 68: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện có thẩm quyền xử phạt với mức phạt tối đa là 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS. Ý kiến đó đúng hay sai?

Trả lời: Ý kiến trên là đúng, bởi theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền phạt tiền đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra, còn có các quyền áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính sau:

- Phạt cảnh cáo;

- Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

- Buộc xin lỗi, đính chính trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc xin lỗi trực tiếp người bị phân biệt đối xử;

- Buộc tiếp nhận người nhiễm HIV;

- Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do hành vi vi phạm hành chính gây ra;

- buộc khôi phục lại vị trí công tác.

Câu hỏi 69: Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS là bao nhiêu và pháp luật quy định những ai có thẩm quyền xử phạt với mức phạt tiền tối đa đó?

Trả lời: Theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế nói chung và đối với lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS nói riêng là 40.000.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 Nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì các chủ thể sau đây được quyền xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS với mức phạt là 40.000.000 đồng gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Chánh Thanh tra Bộ Y tế.

Câu hỏi 70: Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 26 nghị định số 69/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS thì nguyên tắc xác định thầm quyền xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS được thực hiện như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS ở địa phương thuộc phạm vi quản lý theo thẩm quyền cụ thể quy định tại Điều 24 của Nghị định này.

Thanh tra y tế, người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II của Nghị định này và các hành vi vi phạm hành chính khác liên quan đến phòng, chống HIV/AIDS quy định tại các Nghị định của Chính phủ vể xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước theo thẩm quyền cụ thể quy định tại Điều 25 của Nghị định này.

Trong trường hợp vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì việc xử phạt do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện.

Trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống HIV/AIDS thì xác định thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Điều 42 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. (Nguồn: Vụ Pháp chế-Bộ Y tế)