KẾT QUẢ 10 NĂM THỰC HIỆN KẾT LUẬN SỐ 57-KL/TW VỀ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TW CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA IX) VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 

Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 28/5/2003 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngày 03/3/2010 Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 72-KH/TU thực hiện Kết luận số 57-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW. Đồng thời, ban hành nhiều văn bản, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, chỉ thị về công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, trí thức, người cao tuổi, dân tộc, tôn giáo….Cùng với đó, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản đến cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Định kỳ, sơ, tổng kết, đôn đốc thực hiện Nghị quyết, Kết luận.

Qua 10 năm triển khai thực hiện Kết luận số 54-KL/TW về thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau:

1. Kinh tế phát triển, xã hội ổn định, tập trung xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh xã hội: Đến năm 2018, tổng sản phẩm trong nước GRDP (theo giá SS 2010) tăng 8,59%, tổng thu NSNN trên địa bàn 7.100 tỷ đồng (bằng 105% dự toán địa phương). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, sản xuất nông nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, ngành công nghiệp, xây dựng và lĩnh vực thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển; kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh; lượng khách du lịch, nhất là khách quốc tế, khách qua lưu trú tăng khá so với cùng kỳ (năm 2018 đạt 6.505,5 ngàn lượt khách). Đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người đạt 59,74 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo còn 9,56%. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân không ngừng phát triển. Kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, bưu điện, nhà văn hóa, nước sinh hoạt, sản xuất đã được đầu tư xây dựng ở hầu hết các địa phương, tỷ lệ một số chỉ số xã hội tăng cao. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, bảo trợ, chính sách cho người có công tiếp tục được quan tâm. Quốc phòng, an ninh chính trị tiếp tục được giữ vững, thực hiện tốt công tác diễn tập khu vực phòng thủ, tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu, tuyển sinh quân sự đúng quy trình, quy định. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương cơ bản ổn định.

2. Chính sách dân tộc, tôn giáo thường xuyên được quan tâm: Những năm qua, bằng nhiều nguồn lực tỉnh Lâm Đồng đã tập trung đầu tư toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó, bộ mặt nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi, sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống của đại bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng khá hơn. Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã biết tận dụng đất đai, lao động, các điều kiện khác để đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa, đa dạng về giống cây trồng vật nuôi. Đến nay, số hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm đáng kể, hộ giàu tăng lên hàng năm, cụ thể: cuối năm 2003, hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 24% (theo tiêu chí mới), đến cuối năm 2018, giảm còn 9,56%, không còn hộ đói; 100% số xã có điện lưới quốc gia, trên 70% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số được dùng điện; 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi được cả hai mùa khô và mùa mưa, nhiều xã vùng sâu, vùng xa đã có đường bê tông nhựa. Các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 135, 134, 168 được triển khai sâu rộng đến các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều hộ gia đình thụ hướng lợi ích góp phần tích cực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chính sách tôn giáo được quan tâm, Tỉnh ủy ban hành hơn 6.000 văn bản liên quan đến tôn giáo, qua đó, tạo điều kiện để giáo hội các tôn giáo hoạt động thuận lợi theo đúng Hiến chương, Điều lệ. Tỉnh giải quyết kịp thời và đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, tạo được niềm tin trong đồng bào có đạo. Thông qua chức sắc, nhà tu hành, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc để họ vận động tín đồ chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Qua đó, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và tổ chức giáo hội;vừa tuyên truyền, giải thích các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước vừa gắn các hoạt động của tôn giáo với nhiệm vụ chung của tỉnh, làm cho hoạt động của tôn giáo đồng hành cùng với dân tộc, gắn bó đạo với đời.

3. Kết quả thực hiện các quan điểm, chính sách của Đảng về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức, về nông nghiệp nông dân nông thôn, về công tác thanh niên. Trên cơ sở các văn bản của Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 57-CTr/TU ngày 15/5/2008 về thực hiện Nghị quyết số20-NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” để triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết trên địa bàn tỉnh; Chương trình hành động số 68-CTr/TU thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ngày 11/11/2016, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại giai đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến năm 2025. Đồng thời, thành lập và chỉ đạo hoạt động hiệu quả đối với Ban chỉ đạo thực hiện Kết luận số 61-KL/TW về “Nâng cao vai trò trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”; Chương trình hành động số 66-CTr/TU ngày 24/10/2008 về thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW về đội ngũ trí thức đồng thời Tỉnh ủy; Chương trình hành động số 67-CTr/TU ngày 24/10/2008 “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Qua đó, đã củng cố và phát suy sức mạnh của đội ngũ công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại Lâm Đồng.

4. Kết quả nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở Bên cạnh việc chăm lo phát triển kinh tế -xã hội, các cấp ủy đảng chính quyền thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Ngày 18/7/2002, Tỉnh uỷ Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU để cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn". Ngày 12/10/2006, Tỉnh uỷ Lâm Lâm Đồng ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 17-NQ/TW (thay thế Nghị quyết số 13-NQ/TU của Tỉnh uỷ khoá VII).Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh uỷ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra xây dựng tổ chức cơ sở đảng, hệ thống chính trị ở các địa phương, cơ sở.Hiện nay toàn tỉnh có 1.565 thôn, tổ dân phố, tăng 973 thôn, tổ dân phố so với năm 2002; có 1.487 chi bộ ở thôn, tổ dân phố (số liệu năm 2017). Hệ thống chính trị cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được củng cố, chất lượng tổ chức cơ sở Đảng ở thôn, buôn được nâng cao. Công tác phát triển đảng viên được các cấp uỷ quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả, nhất là ở các thôn, buôn, tổ dân phố, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đông đồng bào theo đạo,vùng có ít hoặc chưa có đảng viên. Đến nay, trình độ của đội ngũ cán bộ ở cơ sở được nâng lên, số cán bộ có trình độ đại học ở xã, phường, thị trấn ngày càng tăng. Phong cách, ý thức trách nhiệm và lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở có chuyển biến theo hướng sát dân, có trách nhiệm với dân, góp phần củng cố lòng tin, sự đồng thuận của nhân dân với Đảng, Nhà nước.

5. Kết quả đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Kết quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, thái độ, trách nhiệm của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan nhà nước đối với nhân dân, giải quyết đúng đắn, nhanh chóng các công việc có quan hệ trực tiếp đến đời sống nhân dân, đảm bảo đúng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng đẩy mạnh quán triệt và thực hiện nghiêm túc các hoạt động phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 15/4/2011 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ” gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện của các tổ chức cơ sở Đảng, việc xây dựng bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu hàng năm của cán bộ, đảng viên; từ đó xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tụ diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Năm 2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quy định 04-QĐ/TU về về “Trách nhiệm cấp ủy, tổ chức Đảng trong việc tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ” nhằm tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 trên địa bàn tỉnh, Chỉ thị số 24-CT/TU về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới”;

UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1030/QĐ-UBND “Quy định về tiêu chí, thang điểm và phương pháp đánh giá công tác dân vận của các cơ qua nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh”. Năm 2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập các đoàn kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4-NQ/TW khóa XII, Chỉ thị 05-CT/TU đối với một số cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở.Chính quyền các cấp trong tỉnh thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đối thoại, tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính (CCHC), đồng thời tăng cường công tác dân vận trong công tác CCHC, đảm bảo định hướng dân chủ, công khai, minh bạch, thuận lợi, dễ hiểu, dễ thực hiện; hạn chế nhũng nhiễu, gây phiền hà cho công dân và tổ chức. chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng và có nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tạo sự chuyển biến trong tác phong, lề lối làm việc theo phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”. Trên tinh thần “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, góp phần phòng, chống quan liêu, tham nhũng; đề cao trách nhiệm người đứng đầu và nâng cao chất lượng thực thi công vụ, giảm dần tình trạng quan liêu, mệnh lệnh hành chính. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường kỷ luật, siết chặt kỷ cương hành chính.

6. Kết quả đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội đã thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp đoàn viên, hội viên và nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên; thực hiện chức năng tham mưu và làm nòng cốt trong việc nắm bắt tình hình nhân dân, dư luận xã hội, tình hình dân tộc, tôn giáo, trí thức, doanh nhân, thân nhân người Lâm Đồng sống ở nước ngoài, nhất là các địa bàn có nhiều khiếu nại, tố cáo và có những vấn đề bức xúc trong nhân dân. Thực hiện có hiệu quả Quyết định 217, 218 của Bộ Chính trị (khóa XI) về thực hiện nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn; kiện toàn đội ngũ cán bộ ở cơ sở và địa bàn dân cư được MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp thực hiện có hiệu quả theo hướng sát nhập, giảm đầu mối, gắn với xác định vị trí việc làm đảm bảo tinh gọn, hiệu quả, rõ chức năng, nhiệm vụ, không chồng chéo, tăng cường phát huy vai trò chuyên viên. Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ cấp cơ sở; chú trọng công tác phát triển đoàn viên, hội viên, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Ban công tác Mặt trận, chi hội, chi đoàn thôn, tổ dân phố; đồng thời, phát huy vai trò của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng trong giám sát các chương trình, dự án đầu tư ở địa bàn khu dân cư.Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước theo hướng tập trung về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để tổ chức phát động với các hình thức thi đua phong phú, hấp dẫn, phù hợp với từng thành phần xã hội, từng vùng và địa bàn dân cư; trọng tâm là nâng cao chất lượng các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, các phong trào “CCB gương mẫu”, “Nông dân thi đua sản xuất - kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”, “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo”, “năng động, sáng tạo, đi đầu” “Xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” ... Đồng thời phối hợp với chính quyền, các ban ngành vận động nhân dân tích cực tham gia, hưởng ứng các phong trào xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, đảm bảo quốc phòng, bảo vệ an ninh Tổ quốc...Phong trào thi đua “Dân vận khéo” và “Dân vận khéo” thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực triển khai, vận động nhân dân tham gia, nhiều mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, giảm nghèo bền vững. Qua tổng kết 5 năm phong trào thi đua “ Dân vận khéo” giai đoạn 2011-2015, trên địa bàn toàn tỉnh có 2.524 mô hình, điển hình “Dân vận khéo”. Trong đó: 1.851 mô hình, điển hình tập thể và 673 mô hình, điển hình cá nhân đã được công nhận. Bình quân mỗi thôn, tổ dân phố, mỗi cơ quan đơn vị đều có 01 mô hình.

Nhìn chung, qua 10 năm triển khai thực hiện Kết luận số 57-KL/TW về thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã đạt được nhiều kết quả, mang tính toàn diện. Nhận thức của cả hệ thống chính trị được chuyển biến tích cực. Kinh tế - xã hội của tỉnh có sự phát triển nhanh chóng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống tinh thần vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao, an sinh xã hội được tăng cường, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, không để xảy ra điểm nóng, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng ở các vùng trọng điểm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo được chú trọng góp phần khắc phục sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, miền, khu vực; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới. Hệ thống chính trị ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng tổ chức cơ sở Đảng được nâng cao. Mặt trận, đoàn thể và hội quần chúng đã tăng cường thực hiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung hướng mạnh về cơ sở; thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên, các phong trào thi đua yêu nước gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai thực hiện đi vào nề nếp và từng bước nâng cao chất lượng. Nhiều mô hình, điển hình “Dân vận khéo” thực sự lan tỏa trên mọi mặt đời sống xã hội, đã thu hút, tập hợp, động viên, khích lệ sự tham gia, cống hiến của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh góp phần xây dựng sự đồng thuận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.