Skip navigation links
Tin tức Đại hội Đảng
Thực hiện NQ ĐH VIII

 Banner liên kết

Làm theo tấm gương Hồ Chí Minh
Đại hội Đảng
Văn bản QPPL
Thủ tục hành chính
Pháp luật
Biểu mẫu TTHC
Thư viện download
quang cao
Thư điện tử
video
Quang cao
noimg Số lượt truy cập
sadfasSở TT & TT > Hướng tới Đại hội Đảng
Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thường trực Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2006 - 2010 

        TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG                                         ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

           Số :        - BC/TU                                                                    
                                                                                                    Đà Lạt, ngày tháng 9 năm 2010

 

BÁO CÁO

Kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ,

Thường trực Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2006 - 2010

-----

 

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII bầu Ban Chấp hành 49 đ/c. Tỉnh ủy bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy 13 đ/c, bầu Bí thư Tỉnh ủy và 2 đ/c Phó bí thư Tỉnh ủy. Theo nhu cầu công tác và thực hiện chủ trương điều động, luân chuyển cán bộ, trong nhiệm kỳ có sự thay đổi tăng giảm số lượng Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Tỉnh uỷ. Đến nay, Tỉnh ủy có 42 đ/c; Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 12 đ/c; Thường trực Tỉnh ủy có 4 đ/c (tăng 1 đ/c so với đầu nhiệm kỳ). Kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quy chế của Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2006- 2010 với những nội dung chủ yếu sau:

A. ƯU ĐIỂM.

I. Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của Tỉnh uỷ.

 

1. Xây dựng quy chế làm việc và chương trình công tác của Tỉnh uỷ.

 

- Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, Tỉnh ủy đã ban hành Quy chế làm việc toàn khoá, phân công nhiệm vụ trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Khi Ban Bí thư có Quy định 51-QĐ/TW ngày 19/4/2007 “về nhiệm vụ và quan hệ công tác của thường trực tỉnh uỷ, thành uỷ”, Ban Chấp hành Trung ương có Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 “về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, Tỉnh ủy đã vận dụng bổ sung, hoàn thiện Quy chế mới, phù hợp với các quy định của Trung ương.

 

- Xây dựng, điều chỉnh, bổ sung Chương trình công tác toàn khoá của Tỉnh ủy cho phù hợp với chương trình làm việc của Trung ương khóa X; xây dựng chương trình làm việc hàng năm để cụ thể hoá Chương trình công tác toàn khoá của Tỉnh ủy.

 

2. Thực hiện quy chế làm việc của Tỉnh uỷ.

 

a. Trách nhiệm của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

 

- Căn cứ quy chế làm việc của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, trong nhiệm kỳ qua, Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tổ chức điều hành các hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ đúng quy chế, duy trì lịch sinh hoạt, ban hành các nghị quyết, chỉ thị kịp thời phục vụ cho công tác lãnh đạo và chỉ đạo.

 

- Tỉnh uỷ đã họp 28 kỳ, bảo đảm hàng năm họp ít nhất 4 kỳ theo Quy chế. Các cuộc hội nghị Tỉnh uỷ đều được Ban Thường vụ và Thường trực Tỉnh uỷ chuẩn bị kỹ về nội dung và thực hiện đúng quy trình. Trong hội nghị Tỉnh uỷ đã phân bổ thời gian hợp lí và dành nhiều thời gian để thảo luận các nội dung của kỳ họp; những vấn đề phức tạp hoặc còn ý kiến khác nhau đều được các cơ quan liên quan và chủ trì hội nghị phân tích, giải trình cụ thể, từ đó tạo được sự thống nhất cao trong hội nghị; phát huy được trí tuệ của tập thể, bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo; sau các cuộc hội nghị đều có nghị quyết hoặc kết luận bằng văn bản.

 

Để kịp thời triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, Tỉnh ủy đã ban hành 11 nghị quyết, 12 kết luận về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế du lịch- dịch vụ giai đoạn 2006- 2010; về đổi mới môi trường đầu tư để thu hút đầu tư giai đoạn 2006- 2010; về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 17- NQ/TW "về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn"; về tập trung nguồn lực tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2006- 2010; về tập trung phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006- 2010...

 

Hàng năm, Tỉnh ủy ban hành nghị quyết về phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với hệ thống chính trị; lãnh đạo về chủ trương, định hướng lớn trong những quyết định quan trọng của Hội đồng nhân dân để Hội đồng nhân dân thảo luận, quyết định; lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh quán triệt, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, của Hội đồng nhân dân tỉnh và của cơ quan nhà nước cấp trên.

 

Đã có sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội; xác định các chương trình trọng tâm, công trình và địa bàn trọng điểm để lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung các nguồn lực đầu tư, tạo bước đột phá phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Ngoài 6 chương trình trọng tâm đã được xác định từ nhiệm kỳ trước, nhiệm kỳ 2006- 2010, đã bổ sung 3 chương trình của tỉnh[1]; ngoài 3 địa bàn Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng đã xác định thêm địa bàn trọng điểm Bảo Lâm. Chỉ đạo các huyện, thành phố xác định các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm của cấp mình để tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh ở từng địa phương.

 

Lãnh đạo các cơ quan tư pháp địa phương cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp; kiểm tra công tác kiểm sát và xét xử, thi hành án, đã kịp thời chỉ đạo các đồng chí Tỉnh ủy viên phụ trách công an, tòa án, viện kiểm sát khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhằm thực hiện đúng đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

 

Đề ra các chủ trương xây dựng và sử dụng ngân sách Đảng; quyết định dự toán và quyết toán ngân sách Đảng hàng năm; bảo đảm chế độ quản lí tài sản, sử dụng đảng phí, hạch toán kế toán và chi tiêu thực hiện thống nhất theo quy chế tài chính của Đảng và quy định của Nhà nước.

 

Chỉ đạo thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các cấp, các ngành; thực hiện luân chuyển, điều động một số cán bộ lãnh đạo, quản lí; thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác tổ chức cán bộ theo Quy chế làm việc của Tỉnh uỷ và quy định của Trung ương; sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các sở, ngành theo chủ trương của Trung ương...

 

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã họp 56 kỳ và 02 kỳ họp bất thường[2]. Các cuộc hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy đều thực hiện đúng Quy chế làm việc của Tỉnh ủy; sau các cuộc hội nghị đều có kết luận bằng văn bản. Trong nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 11 nghị quyết, trong đó có 3 nghị quyết về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế- xã hội thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc và huyện Đức Trọng giai đoạn 2006- 2010; các nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị; về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2008- 2010 và định hướng đến năm 2020; về phát triển thương mại giai đoạn 2009- 2015… Ban hành 48 chỉ thị, 438 kết luận, trong đó có 9 kết luận về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006- 2010 của các huyện.

 

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã bám sát Chương trình hành động của Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, căn cứ Quy chế làm việc của Tỉnh uỷ để lãnh đạo, chỉ đạo; đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các đảng bộ trực thuộc trong việc thực hiện nghị quyết và quy chế làm việc nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, nâng cao năng lực và hiệu quả điều hành và quản lí của các cấp chính quyền, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội; phát huy dân chủ, tăng cường kỉ luật, kỉ cương của Đảng và trong xã hội.

 

Nhìn chung, việc xây dựng chương trình công tác và ban hành các chủ trương của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đảm bảo quy trình, quy định, thực hiện đúng Quy chế làm việc và Chương trình công tác; về cơ bản không bỏ sót việc, không bao biện làm thay.

 

b. Trách nhiệm của các đồng chí Thường trực Tỉnh uỷ.

 

- Thực hiện Quy chế làm việc của Tỉnh uỷ, tập thể Thường trực Tỉnh uỷ giúp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức thực hiện Quy chế và Chương trình làm việc toàn khóa của Tỉnh ủy; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình làm việc hàng năm, 6 tháng, hàng quý, hàng tháng của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp uỷ. Chỉ đạo, kiểm tra việc chuẩn bị các nội dung trình hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định; chuẩn bị nội dung làm việc với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đến thăm và làm việc tại địa phương hoặc khi lãnh đạo yêu cầu cấp ủy đến báo cáo, làm việc.

 

Thực hiện giải quyết những công việc hàng ngày của Đảng bộ, những vấn đề đột xuất nảy sinh giữa 2 kỳ họp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy giải quyết những công việc theo sự chỉ đạo của Trung ương, theo Quy chế làm việc của Tỉnh uỷ và những công việc được Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ủy quyền.

 

- Các đồng chí trong Thường trực Tỉnh uỷ đã bám sát chương trình công tác và Quy chế làm việc để điều hành; đồng thời giao ban hàng tuần vào ngày thứ hai để giải quyết công việc theo sự ủy quyền của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tăng cường kiểm tra các lĩnh vực, các vấn đề bức xúc, khó khăn trong tổ chức thực hiện để chỉ đạo giải quyết kịp thời...

 

 c. Trách nhiệm của các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

 

- Các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy luôn tích cực tham gia vào sự lãnh đạo chung của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thực hiện tốt Quy chế làm việc của Tỉnh uỷ.

 

- Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công phụ trách theo lĩnh vực, đã có nhiều cố gắng bám sát địa bàn được phân công để phối hợp với ban thường vụ, thường trực các huyện, thành uỷ giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh tại địa bàn. Kịp thời chỉ đạo vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Tỉnh uỷ và Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; quan tâm công tác kiểm tra tình hình thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thuộc lĩnh vực phụ trách; thực hiện tốt trách nhiệm trưởng đoàn các đoàn kiểm tra, giám sát của Tỉnh uỷ, góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ. Thường xuyên chỉ đạo, chăm lo công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ trong ngành, địa phương và lĩnh vực được phân công phụ trách.

 

- Các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ công tác ở các cơ quan chính quyền luôn giữ vững mối quan hệ chặt chẽ với các ban của Tỉnh uỷ.

 

d. Về trách nhiệm và đạo đức, lối sống của các đồng chí Tỉnh uỷ viên.

 

- Thực hiện Nghị quyết về việc phân công Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng khóa VIII, hầu hết các đồng chí Tỉnh ủy viên giữ vị trí lãnh đạo của các ngành, địa phương trong nhiệm kỳ qua đã phấn đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy tốt tinh thần trách nhiệm trong việc thảo luận, quyết định những nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ; đề xuất được các ý kiến cụ thể, có tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo chung của Tỉnh uỷ. Một số đồng chí đã đi sâu nghiên cứu, tham gia góp ý xây dựng các chủ trương, chính sách của Trung ương; tạo mối quan hệ tốt với các bộ, ban, ngành Trung ương và các tỉnh, thành phố để mở rộng các hình thức hợp tác, thu hút nhiều nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Đa số các đồng chí Tỉnh uỷ viên đã bám sát các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh để xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện; chỉ đạo và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện ở địa phương, ngành, đơn vị mình phụ trách.

 

- Trong nhiệm kỳ, nhất là từ khi thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", hầu hết các đồng chí Tỉnh ủy viên đều có sự chuyển biến tốt về ý thức tổ chức kỉ luật, gương mẫu chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các quy định của địa phương nơi cư trú; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm và hành vi sai trái.

 

Tự giác tu dưỡng rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức lối sống và tác phong sinh hoạt; tích cực sửa chữa những khuyết điểm mà tập thể tổ chức đảng và đảng viên đã góp ý. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chấn chỉnh lề lối làm việc, đạo đức, tác phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị mình công tác.

 

Các đồng chí Tỉnh uỷ viên, đặc biệt là các đồng chí trong Thường trực Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ, sâu sát cơ sở, tạo điều kiện và động viên kịp thời để các đơn vị, địa phương hoàn thành nhiệm vụ.

 

đ. Mối quan hệ công tác giữa Tỉnh ủy với Trung ương và các cấp, ngành của địa phương.

 

- Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh uỷ đã kịp thời tổ chức quán triệt, vận dụng, thể chế hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Trung ương; xin ý kiến Ban Bí thư đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền và những vấn đề quan trọng mới nảy sinh; báo cáo đầy đủ và kịp thời những vấn đề về tổ chức, cán bộ và công tác quản lí đội ngũ cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lí khi có yêu cầu. Khi cần thiết, Thường trực Tỉnh uỷ đăng ký làm việc với Ban Bí thư hoặc đồng chí Thường trực Ban Bí thư để báo cáo tình hình và kiến nghị những vấn đề cần được quan tâm chỉ đạo đối với địa phương.

 

- Thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo các ban của Tỉnh ủy và Văn phòng Tỉnh ủy xây dựng mối quan hệ công tác chặt chẽ, thường xuyên với các ban đảng Trung ương và Văn phòng Trung ương; kịp thời báo cáo những vấn đề khi các cơ quan Trung ương có yêu cầu; tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, chuyên viên các ban Đảng ở Trung ương được phân công theo dõi địa bàn hoặc đến địa phương công tác thực hiện đúng quy chế chuyên viên và hoàn thành tốt nhiệm vụ; tranh thủ sự hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ giúp các ban của Tỉnh ủy và Văn phòng Tỉnh uỷ làm tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

 

- Thực hiện chế độ định kỳ làm việc giữa Thường trực Tỉnh ủy với Thường trực HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp tỉnh; với các ban của Tỉnh ủy và cán bộ hưu trí thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lí. Chỉ đạo sự phối hợp giữa Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh trong việc thực hiện các nghị quyết của Tỉnh uỷ và Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

 

Cho ý kiến về chủ trương xử lí các vấn đề đột xuất có liên quan đến an ninh trên địa bàn; về đường lối xét xử của các vụ án phức tạp; chỉ đạo xử lí đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lí và những đơn, thư nhiều người ký tên có biểu hiện phức tạp.

 

II. Lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương.

 

1. Tỉnh uỷ.

 

- Tỉnh ủy đã bám sát Nghị quyết Đại hội X, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương để quán triệt và tổ chức thực hiện.

 

- Tỉnh uỷ đã kịp thời ban hành các nghị quyết về chương trình hành động triển khai đầy đủ các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các Ban, Ban cán sự, Đảng đoàn các cơ quan Trung ương. Lãnh đạo tốt Đảng đoàn HĐND, Ban cán sự đảng UBND tỉnh thể chế hoá bằng các văn bản kịp thời, tạo điều kiện đưa nhanh Nghị quyết vào cuộc sống. Đặc biệt, xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; tập trung xây dựng Đảng cả về chính trị tư tưởng và tổ chức; xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tiếp tục lãnh đạo việc đổi mới, kiện toàn tổ chức, cán bộ trong hệ thống chính trị; triển khai thực hiện công tác quy hoạch cán bộ theo Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lí thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện các bước quy hoạch cán bộ theo quy định của Trung ương, đã hoàn thành quy hoạch cấp ủy tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015 (A3), xây dựng phương án nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015 trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX. Thực hiện các nhiệm vụ khác của Ban Chấp hành về phân cấp quản lí cán bộ theo quy định.

 

- Trong nhiệm kỳ, Tỉnh uỷ đã ban hành 02 chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: về công tác xây dựng Đảng, về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; riêng về kinh tế- xã hội, giao Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành chương trình hành động. Tỉnh uỷ ban hành 10 chương trình hành động thực hiện nghị quyết của các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khóa X)[3].

 

2. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

 

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy thay mặt Tỉnh uỷ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kiểm tra các ngành, các địa phương trong việc tổ chức thực hiện; chỉ đạo sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương.

 

- Trên cơ sở được phân công phụ trách theo từng lĩnh vực, địa bàn, các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã sắp xếp, dành thời gian theo dõi, nắm tình hình và có kế hoạch kiểm tra những lĩnh vực trọng tâm, những vấn đề quan trọng, bức xúc, phát hiện những khó khăn, vướng mắc để giúp cơ sở giải quyết hoặc yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết.

 

III. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị.

 

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ và Thường trực Tỉnh uỷ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và nghị quyết của Tỉnh uỷ; kiểm tra các ngành, các địa phương trong việc tổ chức thực hiện, kết quả cụ thể như sau:

 

1. Trên lĩnh vực kinh tế- xã hội.

 

- Lãnh đạo, chỉ đạo về quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành và các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm, việc vận dụng các cơ chế, chính sách của Nhà nước; về những chủ trương huy động các nguồn lực, vay vốn để đầu tư phát triển; về chủ trương đầu tư những dự án quan trọng, sử dụng nhiều đất hoặc có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên địa bàn.

 

- Bám sát các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ để lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng đối với các ngành, vùng kinh tế, đặc biệt là các địa bàn, ngành kinh tế động lực có lợi thế so sánh; tập trung lãnh đạo việc xây dựng cơ chế, chính sách và huy động các nguồn lực đầu tư để thực hiện 9 chương trình trọng tâm, 12 công trình trọng điểm của tỉnh để tạo bước đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế- xã hội. Chỉ đạo các huyện, thành phố chọn các chương trình trọng tâm, công trình và địa bàn trọng điểm của cấp mình để tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh ở từng địa phương. Từ năm 2008 đến nay, tập trung thực hiện đồng bộ các chủ trương của Chính phủ về kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tăng trưởng kinh tế bền vững; đảm bảo an sinh xã hội...

 

- Chỉ đạo kịp thời, quyết liệt để thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội hàng năm đạt và vượt kế hoạch. Trong lãnh đạo, chỉ đạo đã bám sát cơ sở để cùng cơ sở tháo gỡ khó khăn; mặt khác, tranh thủ được sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương về cơ chế và bổ sung nguồn vốn.

 

- Chỉ đạo cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa" từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn; thực hiện cơ chế "một cửa liên thông" trên một số lĩnh vực quan trọng, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp.

 

- Định hướng đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước; cơ bản đã hoàn thành việc cổ phần hoá, sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; xây dựng, củng cố các loại hình kinh tế hợp tác và khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển.

 

- Bên cạnh việc lãnh đạo phát triển kinh tế, đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách xã hội; tiếp tục thực hiện xã hội hóa các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao và bảo trợ xã hội; đặc biệt chương trình xóa nhà tạm đã huy động được hơn 100 tỉ đồng và 01 triệu USD, xây hơn 5.000 căn nhà cho các hộ nghèo. Triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, xây dựng Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững đối với huyện Đam Rông; đồng thời, vận dụng Nghị quyết 30a đối với 16 xã và 94 thôn có tỉ lệ hộ nghèo từ 30% trở lên; triển khai chủ trương xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới, ngoài xã Tân Hội (huyện Đức Trọng) theo chủ trương của Trung ương; tỉnh đã vận dụng, chọn xây dựng thí điểm 11 xã của các huyện, thành phố để thực hiện mô hình nông thôn mới theo tiêu chí của Trung ương.

 

Tập trung nguồn lực để tiếp tục đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết cơ bản các vấn đề bức xúc về việc làm, đói nghèo, về phát huy dân chủ, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư...

 

2. Về quốc phòng, an ninh.

 

Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác cải cách tư pháp; thực hiện có kết quả nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, từng bước củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nhất là việc xây dựng thực lực chính trị cơ sở. Trong nhiệm kỳ, đã tổ chức thành công các cuộc diễn tập phòng chống bạo loạn lật đổ, diễn tập khu vực phòng thủ các huyện, thành phố, diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh. Chủ động triển khai các biện pháp ngăn chặn, đấu tranh, vô hiệu hoá các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu "diễn biến hòa bình"; kịp thời phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

 

3. Về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

 

- Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh uỷ đặt trọng tâm của công tác xây dựng hệ thống chính trị là bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ và tạo sự đồng thuận trong xã hội; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; thường xuyên bám sát các tổ chức cơ sở đảng để chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, đặc biệt đối với các xã, phường và thị trấn. Chấn chỉnh kỉ luật, kỉ cương, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, đơn vị.

 

- Chỉ đạo sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh và việc thực hiện Quy chế làm việc của Tỉnh ủy, từ đó bổ sung, điều chỉnh lại nhiệm vụ, giải pháp để tổ chức thực hiện hiệu qủa hơn.

 

- Chú trọng lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng, kịp thời tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân học tập các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh. Việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai nghị quyết được đổi mới phù hợp với các đối tượng, gắn vận dụng, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động sát hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đơn vị.

 

 Chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm túc Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; từ năm 2008, chuyển trọng tâm từ "học tập nâng cao nhận thức" sang "làm theo tấm gương đạo đức" Hồ Chí Minh. Chủ động hướng dẫn, tổ chức thực hiện chủ đề của từng năm và thường xuyên tổ chức kiểm tra việc thực hiện của các cấp, các ngành, nhất là ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Cuộc vận động đã tạo sự chuyển biến tiến bộ trong nhận thức và hành động của đa số cán bộ, đảng viên, tạo được sự lan tỏa trong nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

 

- Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; việc đánh giá, phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm ngày càng sát với thực chất; gắn công tác xây dựng Đảng với đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn. Chỉ đạo các ban của Tỉnh uỷ, các cấp uỷ trực thuộc chọn điểm chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện của các ngành, các cấp; kịp thời uốn nắn những sai sót, khuyết điểm, định hướng hoạt động cụ thể trong từng thời gian.

 

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các cấp, các ngành; xác minh, kết luận lịch sử chính trị của cán bộ, đảng viên thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lí. Mạnh dạn luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lí để đào tạo, bồi dưỡng năng lực thực tiễn, chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng các cấp. Xây dựng quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2010- 2015 đúng quy trình; rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch, chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX; chỉ đạo các ban của Tỉnh uỷ hướng dẫn, kiểm tra công tác quy hoạch cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác tổ chức cán bộ theo Quy chế làm việc của Tỉnh uỷ và quy định của Trung ương; sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các sở, ngành theo chủ trương của Trung ương.

 

- Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Điều lệ Đảng, các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Trung ương, của tỉnh; tập trung vào các ngành, lĩnh vực và địa bàn trọng điểm; đồng thời, xem xét, xác minh, kết luận, giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến cán bộ, đảng viên, đúng quy trình, quy định, bảo đảm giữ nghiêm kỉ luật của Đảng.

 

- Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng và chính quyền các cấp; chỉ đạo Mặt trận, các đoàn thể chính trị- xã hội chăm lo kiện toàn tổ chức, tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư; chú trọng đa dạng hoá các hình thức tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên.

 

B. NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM.

 

I. Về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy.

 

- Trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, việc lãnh đạo thực hiện những định hướng lớn trong chiến lược và quy hoạch tổng thể còn một số mặt hạn chế, nhất là trên lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất đai, định hướng phát triển đô thị và lĩnh vực du lịch; quản lí đất đai, xây dựng cơ bản. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp, dịch vụ chậm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra. Việc xác định các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm còn dàn trải, việc chỉ đạo chưa thật quyết liệt.

 

Việc cụ thể hoá và triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đột phá, tăng tốc chưa thường xuyên và đồng bộ, nhất là việc phát triển du lịch- dịch vụ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

 

- Trên lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, việc lãnh đạo công tác quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt ở một số ngành, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, chưa khắc phục được tình trạng hụt hẫng về cán bộ. Chính sách thu hút cán bộ nhìn chung chưa hiệu quả.

 

II. Về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy.

 

- Những khuyết điểm, yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ có trách nhiệm của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; việc cụ thể hoá và triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế- xã hội ở các huyện, thành phố và nghị quyết chuyên đề ở một số ngành đôi lúc chưa kịp thời.

 

- Việc lãnh đạo thực hiện các chủ trương tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực như xây dựng cơ bản, quản lí đất đai, tuyển dụng công chức... tuy đã quan tâm nhưng kết quả chưa cao. Chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính có mặt còn lúng túng; một số ngành, địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ.

 

- Lãnh đạo bộ máy chính quyền về quản lí nhà nước trên một số lĩnh vực chưa chặt chẽ như quản lí dự án đầu tư, quản lí đất đai, khoáng sản, quản lí bảo vệ rừng, xây dựng cơ bản...Lãnh đạo xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao chưa đạt yêu cầu, nhất là thiết chế văn hoá ở cơ sở.

 

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và các tranh chấp trong nội bộ nhân dân có lúc, có nơi chưa kịp thời; còn để một số trường hợp khiếu kiện kéo dài, vượt cấp.

 

- Công tác tư tưởng đôi lúc chưa thật sự đổi mới, chưa theo kịp với diễn biến tình hình; chưa kịp thời thông tin, định hướng dư luận xã hội, trực diện đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

 

- Nội dung kiểm tra, giám sát của một số cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp còn dàn trải; chưa chú trọng kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm.

 

- Việc đổi mới phương thức hoạt động của một số đoàn thể chính trị- xã hội còn lúng túng, chất lượng, hiệu quả còn hạn chế.

 

- Thời gian đầu nhiệm kỳ, do phương pháp làm việc của Thường trực Tỉnh ủy thiếu thống nhất đã tác động đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị và ảnh hưởng đến tư tưởng của đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh.

 

- Thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở một số địa phương, ngành chưa đi vào chiều sâu, kết quả làm theo chưa rõ nét; việc tổ chức Cuộc vận động trong nhân dân, công nhân lao động trong các doanh nghiệp chưa đồng đều, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước chưa chuyển biến mạnh.

 

III. Về thực hiện nhiệm vụ chính trị và đạo đức, lối sống của các đồng chí Tỉnh ủy viên.

 

Một số đồng chí Tỉnh ủy viên chưa tích cực tham gia vào sự lãnh đạo chung của tỉnh, chưa dành nhiều thời gian để nghiên cứu tham gia góp ý xây dựng các chủ trương, chính sách của tỉnh; chưa thể hiện trách nhiệm cao trong chỉ đạo tổ chức thực hiện những nội dung thuộc ngành, địa phương được phân công phụ trách; ít đề xuất, kiến nghị, phản ảnh những vấn đề bức xúc thuộc chức trách, nhiệm vụ được giao. Tính gương mẫu, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của một số đồng chí Tỉnh uỷ viên còn hạn chế.

 

C. NGUYÊN NHÂN ƯU, KHUYẾT ĐIỂM.

 

I. Về ưu điểm.

 

- Tỉnh ủy, Ban Thường vụ và Thường trực Tỉnh ủy đã nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương phù hợp với thực tiễn, cơ bản giải quyết được các nội dung, yêu cầu quan trọng, bức xúc của địa phương.

 

- Trong quá trình lãnh đạo, rút kinh nghiệm nửa đầu nhiệm kỳ, Tỉnh ủy và nhiều cấp ủy đảng đã đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, sửa đổi và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, củng cố đoàn kết nội bộ, tạo sự đồng thuận trong xã hội để thực hiện nhiệm vụ.

 

- Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm, tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao...

 

- Chú trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt là kiểm tra tình hình thực hiện các chủ trương, nghị quyết, qua đó đã kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những thiếu sót, hạn chế; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lí các trường hợp vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

 

- Trong lãnh đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm; xác định chủ đề của từng năm để tập trung các nguồn lực tổ chức thực hiện.

 

II. Về hạn chế, khuyết điểm.

 

- Lãnh đạo việc đổi mới phương thức lãnh đạo của một số tổ chức đảng còn hạn chế, một số nơi có khuynh hướng bao biện làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo, chưa chủ động và sáng tạo trong triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận... của cấp trên và cấp mình; khâu tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu nhất trong thời gian qua.

 

- Chất lượng nguồn nhân lực nói chung thiếu và yếu, cơ cấu chưa hợp lí.

 

- Trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của một số cấp uỷ viên còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong công tác cán bộ; một số cán bộ lãnh đạo các cấp chưa dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

 

- Tuy đã quan tâm tổng kết thực tiễn, song chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng mô hình để nhân ra diện rộng. Chậm sơ kết, tổng kết trên một số lĩnh vực.

 

- Chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kết luận của cấp uỷ.

 

D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

 

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm:

 

1. Đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh để lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả.

 

2. Vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương phù hợp với thực tiễn của địa phương; huy động và phát huy được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển.

 

3. Xác định rõ tiềm năng, thế mạnh; lựa chọn đúng nội dung đột phá, các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm và chỉ đạo quyết liệt trong tổ chức thực hiện. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót.

 

4. Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực quản lí của chính quyền, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

 

5. Lãnh đạo phát triển kinh tế phải được tiến hành đồng bộ với giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; quan tâm đầu tư xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.

 

 

 

Nơi nhận:                                                                                                T/M TỈNH ỦY

- Bộ Chính trị;                                                                                               BÍ THƯ

- Các ban của Trung ương, Văn phòng TW Đảng;

- Ban chỉ đạo Tây Nguyên;

- Các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy;

- Các đại biểu dự đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh;

- Lưu Văn phòng Tỉnh ủy. 

                                                                                                               Huỳnh Phong Tranh

Các tin tức khác
Vùng dữ liệu này sẽ tự động hiển thị ở bên phải khi xem ở chế độ bình thường. Khi xem ở chế độ Edit vùng này sẽ tự dộng hiển thị ở bên dưới để tiện việc cập nhật dữ liệu.

 .

Festival nam 2013
Festival

 Quảng cáo

Quang Cao
TRANG TIN ĐIỆN TỬ SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG - TỈNH LÂM ĐỒNG
Địa chỉ: Số 19 Lê Hồng Phong - Thành phố Đà Lạt - Tỉnh Lâm Đồng
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
© 2009 Bản quyền thuộc Sở Thông tin & Truyền thông - tỉnh Lâm Đồng
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam