Những nội dung mới của Bộ Luật lao động 2012 sửa đổi 

Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII (từ ngày 20 tháng 5 năm 2012  đến 21 tháng 6 năm 2012) đã thảo luận và thông qua 13 Luật trong đó có Bộ Luật lao động (gồm 17 Chương, 242 Điều), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2013. Những nội dung chính của Bộ Luật lao động sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, có những nội dung quan trọng được dư luận xã hội quan tâm là:

            - Cho thuê lại lao động:

            Tại Điều 53 quy định cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau vẫn duy trì lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.

            - Ký thỏa ước lao động tập thể ngành:

            Tại Điều 87 quy định đại diện ký thỏa ước lao động tập thể ngành như sau:

a)      Bên tập thể lao động là Chủ tịch công đoàn ngành;

b)      Bên sử dụng lao động là đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động đã tham gia thương lượng tập thể ngành.

            - Đối thoại nơi làm việc:

            Tại Mục 1 Chương V gồm các Điều 63,64 và 65 đã quy định mục đích, hình thức, nội dung, cách tiến hành đối thoại tại nơi làm việc:

            · Đối thoại tại nơi làm việc nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa người sử dụng lao động và người lao động để xây dựng quan hệ lao động tại nơi làm việc.

            · Đối thoại tại nơi làm việc được thực hiện thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa đại diệ n tập thể lao động với người sử dụng lao động, đảm bảo việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

            - Mức lương tối thiểu:

            Được quy định tại Điều 91 của Bộ Luật:

            · Tiền lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành.

            · Căn cứ vào nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở  khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia.

            · Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố.

            - Điểm mới về chính sách tiền lương:

            Tại Điều 92 quy định Hội đồng tiền lương quốc gia            là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, bao gồm các thành viên là đại diện của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương. Chính phủ được giao quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của hội đồng này.

            - Về thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ:

            Theo Điều 157 của Bộ Luật lao động sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013, lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm một tháng. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng.

            - Lao động là người giúp việc trong gia đình:

            Tại Điều 179 đến Điều 183 quy định cụ thể về lao động là người giúp việc gia đình. Theo đó:  Người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình. Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thoả thuận. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước 15 ngày. Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở .

            - Về độ tuổi nghỉ hưu:

            Khoản 1 Điều 187 quy định: Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

            Tại Khoản 2 Điều 187 Bộ Luật cũng quy định cụ thể các nhóm lao động sau có thể nghỉ hưu sớm hơn, hoặc muộn hơn so với độ tuổi quy định:

            Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định chung.

            Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định chung.