Skip navigation links
CSDL Luật, Văn bản QPPL
Quốc hội
Chính phủ
Bộ Nội vụ
Bộ Tư pháp
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ Tài chính
Bộ Công thương
Bộ Nông nghiệp và PTNT
Bộ Giao thông Vận tải
Bộ Xây dựng
Bộ Tài nguyên Môi trường
Bộ Thông tin Truyền thông
Bộ Lao Động TBXH
Bộ Văn hóa TT&DL
Bộ Khoa học Công nghệ
Bộ Giáo dục
Bộ Y tế
Tìm hiểu luật
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Luật khiếu nại tố cáo
Luật cán bộ công chức
Quyền sử dụng đất
sadfasLuật khiếu nại tố cáo > Đề cương giới thiệu Luật số 26/2004/QH11
Đề cương giới thiệu Luật số 26/2004/QH11 

  ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA LUẬT SỐ 26/2004/QH11 NGÀY 15/6/2004
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU
CỦA LUẬT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

 

I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH , Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo.

Luật khiếu nại, tố cáo được Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 4 thông qua ngày02 tháng 12 năm 1998, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 đã tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các cấp, ngành đã nhận thức đầy đủ hơn trách nhiệm của mình trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo trong thời gian qua vẫn diễn biến phức tạp, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn những hạn chế nhất định. Một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do Luật khiếu nại, tố cáo đã bộc lộ những điểm bất cập, không phù hợp với thực tế công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đó là:

- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ: Luật khiếu nại, tố cáo qui định Thủ tướng Chính phủ là một cấp giải quyết khiếu nại. Qui định như vậy dẫn đến tình trạng nhiều quyết định giải quyết khiếu nại, kể cả quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đúng pháp luật, thấu lý đạt tình nhưng người khiếu nại vẫn tiếp khiếu lên Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm có hàng vạn đơn thư khiếu nại và hàng nghìn người dân xin được gặp Thủ tướng để yêu cầu được giải quyết khiếu nại, trong khi đó Thủ tướng không có một cơ quan chuyên trách giúp Thủ tướng thực hiện nhiệm vụ này cho nên Thủ tướng không thể nào giải quyết được các khiếu nại đó. Vì vậy, trên thực tế hầu hết các khiếu nại Thủ tướng phải trao cho các bộ, ngành xem xét, giải quyết. Từ thực tế trên cần phải sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ.

- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính: Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã xác định cụ thể về thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, các qui định này chưa đề cao được trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết các khiếu nại phức tạp liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, chưa phân định rành mạch trách nhiệm giải quyết khiếu nại giữa trung ương và địa phương. Do vậy, thực tế dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc khiếu nại bị né tránh, đùn đẩy; giải quyết thiếu dứt điểm, gây tồn dọng, kéo dài. Vì vậy, cần phải tăng cường trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết khiếu nại.

- Về cơ chế uỷ quyền giải quyết khiếu nại cho các cơ quan thanh tra: cơ quan thanh tra là cơ quan chức năng, có trách nhiệm tham mưu với thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, Luật khiếu nại, tố cáo lại quy định Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện uỷ quyền giải quyết khiếu nại cho Chánh thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện. Qui định như vậy làm cho một số nơi gần như khoán trắng việc giải quyết khiếu nại cho cơ quan thanh tra, trong khi đó hầu hết các quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh thanh tra cấp tỉnh được uỷ quyền là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng. Do vậy, nhiều trường hợp mặc dù đã có quyết định giải quyết cuối cùng nhưng người khiếu nại vẫn cho rằng quyết định đó chưa phải là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân nên tiếp khiếu đến Uỷ ban nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Bên cạnh đó, để giải quyết có hiệu quả các khiếu nại này cơ quan thanh tra lại không có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ quyết định hành chính bị khiếu nại cho nên các quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan thanh tra hiệu quả thi hành không cao, dẫn đến tình trạng khiếu nại tràn lan, không có điểm dừng. Vì vậy cần phải lược bỏ việc uỷ quyền được qui định tại Luật khiếu nại, tố cáo.

- Về việc gặp gỡ, đối thoại trong giải quyết khiếu nại: thực tế công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và người giải quyết khiếu nại là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với việc giải quyết khiếu nại lần đầu. Thông qua việc gặp gỡ, đối thoại người giải quyết khiếu nại hiểu rõ tính chất, mức độ, nguyên nhân sự việc bị khiếu nại, yêu cầu, nguyện vọng của người khiếu nại v.v… từ đó có hướng giải quyết khiếu nại chính xác, kịp thời. Tuy nhiên, Luật khiếu nại, tố cáo chưa quy định phải gặp gỡ, đối thoại giữa các bên trong quá trình giải quyết khiếu nại cho nên có nhiều trường hợp người giải quyết khiếu nại chỉ căn cứ vào báo cáo kiểm tra, xác minh, kết luận rồi ra quyết định giải quyết khiếu nại. Chính vì vậy, nhiều trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại không chính xác, thiếu khách quan nên người khiếu nại vẫn tiếp tục khiếu nại vượt cấp lên trên. Tổng kết 5 năm thực hiện Luật khiếu khiếu nại, tố cáo cũng cho thấy nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thiếu hiệu quả là do nhiều nơi các cấp, các ngành chưa đề cao trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn có biểu hiện đùn đẩy, né tránh việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Do vậy, cần phải sửa đổi các qui định của Luật khiếu nại, tố cáo về đối thoại và bổ sung các qui định nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo là nhằm thể chế hoá một bước quan điểm của Đảng về giải quyết khiếu kiện là "khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, gây khó khăn, chậm trễ trong công việc và giải quyết khiếu kiện của dân. Nâng cao vai trò của tòa hành chính trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính".

2. Mục đích, ý nghĩ của việc sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo.

Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo có mục đích, ý nghĩa to lớn đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Cụ thể là:

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo là nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, nhất là khi hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo là thể chế hoá kịp thời các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát huy quyền dân chủ của công dân, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo nhằm hoàn thiện các qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, góp phần tạo nên hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả.

- Sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hóa mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, theo hướng tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết các công việc của công dân; bảo đảm hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo khách quan, công khai, dân chủ; tiến tới xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính có hiệu quả, trong đó mọi khiếu kiện hành chính phải được giải quyết bởi một cơ quan độc lập với cơ quan có hành vi, quyết định hành chính bị khiếu kiện.

II. QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT KHIẾU NẠI,  TỐ CÁO.

1. Việc sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo cần quán triệt quan điểm của Đảng thể hiện tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng là "Nâng cao vai trò của tòa hành chính trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính" và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ư¬ơng khoá  VIII “Tiếp tục kiện toàn và phát huy vai trò của toà án để xét xử các khiếu kiện hành chính”; quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ¬ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nư¬ớc, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t¬ư pháp trong thời gian tới và Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6/3/2002 của Ban Bí th¬ư trung ¬ương về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay.

 2. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính là phân công, phân cấp rành mạch giữa Chính phủ với chính quyền địa phư¬ơng, trong nội bộ Chính phủ là sự phân cấp giữa thẩm quyền của tập thể Chính  phủ với Thủ tư¬ớng Chính phủ, giữa Thủ tư¬ớng với các thành viên Chính phủ, đề cao trách nhiệm của các Bộ trư¬ởng thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Khẳng định rõ vai trò của Thủ tư¬ớng Chính phủ trong lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan hành chính nhà nư¬ớc làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy định rõ trách nhiệm của Bộ trư¬ởng, Thủ trư¬ởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo của công dân.

3.  Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo cần làm rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nư¬ớc cùng cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo.

4.  Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo phải bảo đảm hơn nữa tính công khai, dân chủ, chống quan liêu trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện từng bư¬ớc mở rộng thẩm quyền xét xử các vụ kiện hành chính tại tòa án; tạo sự nhất quán giữa các quy định của pháp luật, tạo ra cơ chế đồng bộ trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân và bảo đảm hiệu quả thi hành.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về lâu dài cần sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện Luật khiếu nại, tố cáo, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp và việc thực hiện các cam kết quốc tế về giải quyết khiếu kiện hành chính trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, để giải quyết kịp thời những bất cập của Luật khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi các qui định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại các điều 23, 25, 26, 27, 28, 37, 39 và điều 54 của Luật khiếu nại, tố cáo. Trong đó quy định rõ  trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại, việc gặp gỡ, đối thoại và việc nâng cao vai trò của Tòa án trong giải quyết khiếu kiện hành chính.

 Cụ thể như sau:

1.  Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong giải quyết khiếu nại.

Để xác định rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là trách nhiệm chỉ đạo đối với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong giải quyết các khiếu nại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước và việc xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Khoản 5 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật khiếu nại, tố cáo qui định Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm:

-  Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp;

- Chỉ đạo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ giải quyết khiếu nại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước và giao Tổng Thanh tra theo dõi, đôn đốc việc giải quyết đó;

- Xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Như vậy, so với trước đây thì Thủ tướng không phải là một cấp giải quyết khiếu nại. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo lược bỏ qui định: Thủ tướng Chính phủ trực tiếp giải quyết khiếu nại do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã giải quyết lần đầu mà còn khiếu nại và giải quyết khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước.

Qui định như vậy là phù hợp với  tinh thần của Hiến pháp và Luật tổ chức Chính phủ: "Chính phủ lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo"; Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ “Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp”. Từ đó Khoản 5 Điều 28 của Luật sửa đổi, bổ sung xác định rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đối với trách nhiệm giải quyết các khiếu nại liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước thì Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ giải quyết. Qui định như vậy vì khiếu nại này liên quan đến nhiều lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của các bộ, ngành nhưng nội dung chính thường liên quan đến một lĩnh vực cụ thể thuộc sự quản lý của một bộ, ngành nào đó. Mặt khác, việc xác định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm giải quyết khiếu nại này cũng phù hợp với việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại.

Ngoài trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo như trên, Thủ tướng vẫn có trách nhiệm xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Qui định như vậy vì về mặt lý thuyết cũng như thực tế quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng cũng có thể vi phạm pháp luật. Do đó, để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân thì Thủ tướng Chính phủ có tránh nhiệm xem xét lại. Đây là qui định đã có trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 nay được kế thừa ở Luật sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, để bảo đảm việc xem xét quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có hiệu quả, Luật sửa đổi, bổ sung qui định Tổng thanh tra có trách nhiệm giúp Thủ tướng xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng nếu phát hiện có vi phạm thì kiến nghị hoặc yêu cầu người đã ra quyết định xem xét lại quyết định giải quyết đó.

2. Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tich uỷ ban nhân dân tỉnh trong giải quyết khiếu nại.

Xuất phát từ quan điểm Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm toàn diện về ngành, lĩnh vực và địa phương mà mình phụ trách, trong đó có công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và từ yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ngoài việc giữ nguyên thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh như trước đây còn bổ sung thêm qui định:

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ trì hoặc tham gia giải quyết khiếu nại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức theo kiến nghị của Tổng Thanh tra (Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo).

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của Tổng Thanh tra (Khoản 1 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo).

Qui định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng khi có vi phạm pháp luật theo yêu cầu hoặc kiến nghị của Tổng thanh tra để chủ động khắc phục khi có vi phạm là phù hợp với xu hướng đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý nhà nước ta, xác định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xem xét, giải quyết các khiếu nại thuộc phạm vi quản lý của mình. Mặt khác, qui định như vậy phù hợp qui định của Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại.

Qui định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm chủ trì hoặc tham gia giải quyết khiếu nại có liên quan tới nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước sẽ đáp ứng được yêu cầu phân định rành mạch trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ tướng với chức năng giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, tăng cường sự phân công, phân nhiệm giữa Thủ tướng Chính phủ với các thành viên Chính phủ, đồng thời phù hợp với thẩm quyền của Thủ tướng trong giải quyết khiếu nại qui định tại Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo: Thủ tướng  “Chỉ đạo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ giải quyết khiếu nại liên quan tới nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước”.

 3. Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại.

-  Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Tổng thanh tra:

Từ vị trí của Tổng thanh tra là thành viên Chính phủ, Luật sửa đổi, bổ sung Luật khiếu nại, tố cáo qui định Tổng Thanh tra có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ như các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác.

Mặt khác, với cương vị là người đứng đầu ngành thanh tra, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho nên Tổng thanh tra có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ giải quyết khiếu nại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước và có trách nhiệm xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì kiến nghị với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét lại quyết định giải quyết đó. Vì vậy,  tại khoản 3 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của  Luật khiếu nại, tố cáo qui định Tổng thanh tra có thẩm quyền:

 - Giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại; quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;

- Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ giải quyết khiếu nại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước;

- Giúp Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị hoặc yêu cầu người đã ra quyết định xem xét lại quyết định giải quyết đó, nếu sau 30 ngày mà kiến nghị hoặc yêu cầu đó không được thực hiện thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

- Về thẩm quyền của Chánh thanh tra các cấp, các ngành trong giải quyết khiếu nại:

Từ yêu cầu thực tế cần lược bỏ qui định việc uỷ quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp cho Chánh thanh tra tại Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 như đã nêu tại phần trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo qui định rõ về trách nhiệm của Chánh thanh tra các cấp, các ngành trong việc xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Vì vậy khoản 4 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo xác định: “Chánh thanh tra các cấp, các ngành có trách nhiệm xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp”.

Qui định như vậy nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết khiếu nại, bảo đảm hiệu quả việc thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan thanh tra là cơ quan chức năng, có trách nhiệm tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong công tác giải quyết khiếu nại, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan thanh tra tăng cường việc kiểm tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp.

4. Sửa đổi, bổ sung qui định việc gặp gỡ, đối thoại trong giải quyết khiếu nại.

Theo qui định của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì khi cần thiết người giải quyết khiếu nại lần đầu gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại. Thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và người giải quyết khiếu nại là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với giải quyết khiếu nại lần đầu. Thông qua việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp, người giải quyết có thể hiểu rõ tính chất, mức độ, nguyên nhân việc khiếu nại, yêu cầu, nguyện vọng của người khiếu nại từ đó có hướng giải quyết chính xác, kịp thời. Do đó, nếu chỉ qui định gặp gỡ đối thoại trực tiếp khi cần thiết thì có trường hợp người giải quyết khiếu nại chỉ căn cứ vào báo cáo kiểm tra xác minh, kết luận rồi ra quyết định giải quyết dẫn đến quyết định không chính xác, thiếu khách quan. Mặt khác, thực tế công tác giải quyết khiếu nại cũng cho thấy người khiếu nại bao giờ cũng có mong muốn được gặp gỡ trực tiếp người giải quyết khiếu nại. Do vậy, để khắc phục những hạn chế trên đây của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 về việc gặp gỡ, đối thoại, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc giải quyết khiếu nại, khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố các qui định “Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; người giải quyết khiếu nại lần tiếp theo tổ chức việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại khi cần thiết”.

5. Về vai trò của Toà án trong giải quyết các khiếu kiện hành chính.

Thể chế hoá quan điểm của Đảng về từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu nại hành chính, Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo qui định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày. Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo qui định trên đây thì khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ nếu không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thì người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án. Đối với khiếu nại các quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến quản lý nhà nước về ngành và lĩnh vực thì người khiếu nại vẫn có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (trừ khiếu nại quyết định hành chính về đất đai thì theo quy định của Luật đất đai).

IV. NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC

- Để các qui định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần đầu phù hợp với việc sửa đổi Khoản 1 Điều 28 của Luật khiếu nại, tố cáo về trách nhiệm giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ, Khoản 8 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo qui định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo. Đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo là Bộ trưởng Bộ Nội vụ”.

- Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo bãi bỏ Điều 12 của Luật khiếu nại, tố cáo quy định về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Bởi vì theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) thì quy định này không còn phù hợp.

- Để thống nhất với qui định của Luật thanh tra vừa được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 5, Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo thay cụm từ “Tổng thanh tra nhà nước” tại các điều 63, 64 và 84 của Luật khiếu nại, tố cáo bằng cụm từ “Tổng thanh tra”; thay cụm từ “Thanh tra nhà nước” tại điều 81 của Luật khiếu nại, tố cáo bằng cụm từ “Thanh tra Chính phủ”.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Lụât sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tó cáo đựợc Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2004. Để Luật được thực hiện tốt trong cuộc sống, trước mắt cần tập trung một số công việc sau đây:

1. Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nai, tố cáo 

Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo cho tất cả đối tượng có liên quan, bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp và nhân dân về những nội dung quy định trong Luật, nhất là những nội dung quy định mới được sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt, về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng thanh tra, Thủ tướng Chính phủ và Toà án nhân dân.

2. Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

Thanh tra nhà nước chủ trì với các đơn vị trong và ngoài ngành có liên quan xây dựng các văn bản cụ thể mà trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nai, tố cáo đã quy định, như: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dân thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo.

3. Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật một cách sâu rộng đến với mọi tầng lớp nhân dân.

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử Lâm Đồng
Địa chỉ: Số 19 Lê Hồng Phong, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 063.3545579 - 063.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam