Bây giờ ở xứ trà B’Lao, mọi người thường hay nhắc đến danh trà Phương Nam, Quốc Thái, Thiên Hương. Thế nhưng, với những người sinh sống lâu năm trên vùng đất trà B’Lao hoặc ở phương xa, thì cái tên Trà Đỗ Hữu vẫn còn trong tiềm thức của họ. Dẫu rằng, thương hiệu này không còn nhiều thị phần như trước.
Bạn có biết cây chè có ở Việt Nam từ bao giờ không?
Một tên chung khi nói đến một thức uống thông thường của người miền Nam Việt Nam. Khi nhắc đến trà tại Sài Gòn, ai cũng nghĩ ngay đến trà Blao dù nó có thương hiệu là Trâm Anh, Tâm Châu, Đỗ Hữu, Quốc Thái, Lâm Kim Hoa.
Bộ đồ trà là một bộ phận hữu cơ không thể vắng mặt trong một buổi uống trà, đó là một niềm kiêu hãnh, một thú vui sành điệu, quý phái của chủ nhà. Vừa thưởng thức hương vị quyến rũ của trà, lại vừa ngắm nghía nét đẹp tinh tế của bộ ấm chén gốm sứ pha trà. Mỗi dân tộc có những kiểu trà cụ độc đáo khác nhau như bộ đồ trà gốm của Trung Hoa, Việt Nam; Samovar ở Nga và bộ đồ trà bạc ở Anh.
Ở Việt Nam, trà hiện diện trong văn học dân gian thông qua ca dao, hò vè, câu đối, tục ngữ truyền khẩu và văn chương với những bài thơ kiệt tác của các nhà văn lừng danh xưa và nay. Tập quán uống trà thời xưa của danh nhân, luôn biểu lộ một nhân sinh quan, một nếp nghĩ, một nghệ thuật sống, một cái nhìn bao quát về cuộc đời trong một chén trà. Tâm hồn thi nhân Việt Nam luôn cởi mở, hài hoà, trong tinh thần nhân ái, cảm thông chia sẻ là nét đặc trưng của đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngoài việc thưởng thức cái đẹp bình yên trong cuộc sống, để được thanh nhàn trước thế sự trần tục mênh mông bể khổ, uống trà còn biểu hiện một sự ẩn mình trong đáy lòng để nhìn lại sự đời đầy trắc ẩn khôn lường.
PGS Đỗ Ngọc Quỹ, nguyên Phó viện trưởng Viện Cây công nghiệp- Cây ăn quả, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chè Phú Hộ. Ông đã có hơn 50 năm nghiên cứu về cây chè và văn hóa trà Việt Nam. Là người dành hết cuộc đời cho cây chè và văn hóa thưởng thức chè, từ những kết quả nghiên cứu của mình, ông đã cho xuất bản nhiều đầu sách nghiên cứu khoa học và văn hóa trà của người Việt. PGS mong muốn quảng bá rộng rãi Văn hóa trà Việt cho cộng đồng người Việt Nam và bạn bè Quốc tế.
Trên tất cả, tinh túy của tinh túy, là bản chất đơn sơ của mọi sự vật, đơn sơ đến độ như không vướng mắc vào bất cứ một cái gì, như không có gì, như chỉ duy nhất tầm thường có thế thôi. Mỗi chén trà tự nó là mỗi chén trà, nhìn nó như một chén trà, ngoài ra mọi chuyện khác hãy tự bay đi, biến mất. Nhìn chén trà như vậy mới thấy nó hiện ra như một chén trà, với vẻ đẹp đơn sơ của nó. Không có gì khác ngoài nó, không có gì khác ngoài giây phút hiện tại, sự thực vốn đơn sơ như chẳng có gì để nói, như sự lặng yên nơi mỗi cử chỉ của chủ nhân, như thế đấy sự vật hiện ra trước mắt, lặng yên mà nhìn, mà thấy, mà hiểu, mà cúi đầu.
Miền Bắc dùng một chữ chè để chỉ cả cây trồng và sản phẩm chế biến từ lá chè, còn miền Nam phân biệt hai chữ, chè là cây trồng và trà là sản phẩm chế biến từ lá chè.
Lịch sử uống trà đã có từ 4000 năm, xuất phát từ cái nôi vùng gió mùa Đông Nam Á đã lan rộng ra toàn cầu. Vì những giá trị nhiều mặt về vật chất và tinh thần trong đời sống con người, trà được uống nhiều và phổ biến hàng ngày, xếp thứ nhì sau nước với 50% dân số thế giới uống trà. Trà là một loại nước uống giải khát và kích thích trí não không có cồn, đáp ứng nhu cầu sinh lý cơ bản của con người và một dược liệu lý tưởng bảo vệ sức khoẻ trong mọi thời đại. Hơn nữa trồng chè còn góp phần bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo và tăng thu kim ngạch xuất khẩu.
|