Skip navigation links
ĐỊA CHÍ ĐÀ LẠT
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương II: Truyền thống đấu tranh Cách mạng
Phần thứ hai
Chương I: Tự nhiên
Chương II: Dân cư
Phần thứ ba
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương II: Du lịch - Dịch vụ
Chương III: Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phần thứ tư
Chương I: Văn học Nghệ thuật - Thiết chế Văn hóa và Báo chí
Chương II: Quy hoạch và Kiến trúc
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ
Tổng luận
sadfasĐịa chí Đà Lạt > Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (tt)
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (tt) 

PHẦN THỨ BA
KINH TẾ

Chương IV: CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT

ĐIỆN LỰC

 

1. quá trình hình thành

1.1 Thời kỳ 1918 - 1928

Năm 1918, nhà máy điện (nhà đèn) đầu tiên của Đà Lạt với công suất 50kW và đường dây hạ thế được xây dựng để cung cấp chủ yếu cho công sở và Khách sạn Hồ (Hôtel du Lac).

Với một loạt công trình mới, nhà máy điện đầu tiên không còn đủ công suất cung cấp, năm 1927, một nhà máy điện mới được khởi công xây dựng nằm trong quy hoạch của Hébrard, và sau hơn một năm thi công, được khánh thành vào năm 1928.

Nhà máy này tọa lạc tại số 118 đường 3 tháng 2 hiện nay, và vẫn còn nguyên số khắc 1928 ở mặt tiền trên cao của nhà máy. Ban đầu, nhà máy có 3 tổ máy hoạt động bằng dầu mazout: tổ máy số 1 có công suất 200kW, điện áp 3,3kV do hãng SIERRA ALSTHOM (Pháp) chế tạo; tổ máy số 2 và số 3: mỗi máy có công suất 400kW, điện áp 3,3kV do hãng WINTERTHUR (Thụy Sĩ) chế tạo.

 

Nhà máy điện Đà Lạt

Nhà máy ban đầu chỉ có các đường dây 3,3kV cung cấp chủ yếu cho khu công sở và các khách sạn dọc đường Trần Hưng Đạo, Trần Phú hiện nay, khu vực gần nhà máy như trường tiểu học Pháp, bệnh viện,…

1.2 Thời kỳ 1928 - 1954

Năm 1929, nông trại O’Neill ở hạ lưu thác Cam Ly tự thiết kế và thi công một công trình thủy điện gồm một đập nước cao 15m, dày từ 54m đến 65m và hai tổ máy công suất 55Hp và 260Hp, tương đương 40kW và 190kW cung cấp điện cho thắp sáng, bơm nước, ướp lạnh, đóng chai sữa. Đáng tiếc, đến năm 1932, trong một cơn bão mạnh, mưa lớn, nước dâng nhanh trên dòng Cam Ly, đập nước bị phá hỏng và nước cuốn phăng hoàn toàn công trình.

Sự phát triển rất nhanh các công trình và các khu dân cư đòi hỏi các công trình đường dây và trạm điện cũng phải được thi công nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu. Hàng loạt các đường dây và trạm điện được xây dựng như : Pasteur, Couvent des Oiseaux (Trường Dân tộc Nội trú), Camp Militaire (Lý Thường Kiệt), Gare (Ga) và trạm nhà máy nước Hồ Than Thở, Joffre (Ngã 5 Đại học), Dragages (Cung Thiếu Nhi), Saint Benoit (Mê Linh), Bellevue (Lê Lai), Decoux (Vạn Kiếp), Nouvelle Usine des Eaux (nhà máy nước hồ Xuân Hương), Tour de Chasse (Hùng Vương), Nha Địa Dư (Cục Bản Đồ), Cầu Quẹo.

Nhà máy thủy điện Ankroët

Năm 1942, Decoux quyết định thi công nhà máy thủy điện Ankroёt theo đồ án quy hoạch của Lagisquet. Đây là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam được khởi công vào tháng 10 năm 1942 và khánh thành vào năm 1945.

 

Nhà máy thủy điện Ankroet

Nhà máy thủy điện Ankroёt lúc bấy giờ thuộc quyền quản lý của Sở Công chánh Đông Dương, các hạng mục chính của nhà máy gồm có :

- Hồ đập Đan Kia: Cao trình đỉnh đập đất: 1427m; cao trình đỉnh tràn đập đá: 1421,8m; diện tích lưu vực: 141km2; dung tích hữu dụng: 15,2 x 106m3; đường hầm đáy đập đá đường kính 1,6m, dài 160m với cao trình 1410,8m.

- Hồ đập Ankroët nhận nước từ hồ Dankia và cung cấp cho nhà máy qua đường thủy đạo. Cao trình đỉnh đập đá: 1410,72m; diện tích lưu vực: 145km2; dung tích hữu dụng: 106 m3.

- Thủy đạo bao gồm: đường hầm bêtông cốt thép đường kính 1,6m, dài 482m, cao trình 1406,72m; giếng điều áp bê tông cốt thép đường kính 3,8m; đường ống thép đường kính 1,5m/1,3m, dài 50m; van cầu đường kính 1,3m; đường ống thủy áp bằng thép đường kính 1,3m, dài 182m; nhà máy hầm xả cao trình 1321m.

- Nhà máy có 2 tổ máy công suất 300 kW/máy do hãng Bell của Mỹ sản xuất.

- Đường dây trung thế gồm: Đường dây 31,5kV, Suối Vàng - Đơn Dương, dài 44km; đường dây 15kV, Suối Vàng - Đà Lạt (trạm Thi Sách) dài 12km; đường dây 31,5kV, Suối Vàng - Đơn Dương, cung cấp điện cho thị trấn Dran và một số khu vực trên tuyến đường dây đi ngang qua như: Đa Thành, Tùng Lâm, Thánh Mẫu, Trại Mát, Xuân Thọ, Cầu Đất, Trạm Hành; đường dây 15kV Suối Vàng - Đà Lạt cung cấp điện cho nhà Dòng Chúa Cứu Thế, Domaine de Marie và khu vực lân cận.

Quản lý sản xuất điện và bán điện tại Đà Lạt từ năm 1918 thuộc Công ty CEE (Compagnie des eaux et d’électricité de l’Indochine, Công ty Điện Nước Đông Dương). Kể từ năm 1945, việc sản xuất điện và bán điện tại Đà Lạt còn có thêm Sở Công chánh Đông Dương là đơn vị quản lý nhà máy thuỷ điện Ankroët. Sở Công chánh Đông Dương kinh doanh điện các khu vực sau: Đa Thành 1 + Đa Thành 2 (từ cuối đường Hai Bà Trưng đến Suối Vàng); Thánh Mẫu, Trại Mát, Cầu Đất, Trạm Hành, Dran.

1.3 Thời kỳ 1954 - 1975

Đến năm 1956, thành phố Đà Lạt đã được xây dựng và phát triển gần như toàn cảnh năm 1975. Dân số năm 1955 đã đạt 53.390 người, tăng gần gấp 3 lần năm 1948 (18.513 người), nhu cầu sử dụng điện năng từ đó cũng tăng nhanh. Để đáp ứng nhu cầu điện năng sinh hoạt và chuẩn bị cung cấp điện cho công trường xây dựng hồ đập và nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, nhà máy điện Đà Lạt và thuỷ điện Ankroët được lắp đặt thêm các tổ máy để tăng cường công suất:

Tại nhà máy điện Đà Lạt, lắp đặt thêm tổ máy CHICAGO do Mỹ sản xuất, công suất 1.250kW, điện áp 3,3kV và vận hành phát điện năm 1957.

Tại nhà máy thuỷ điện Ankroët, lắp đặt thêm 2 tổ máy lớn, công suất 1.250kW, tua bin loại FRANCIS trục ngang hiệu NEYPRIC và máy phát hiệu ALSTHOM do Pháp sản xuất, điện áp máy phát 6,6kV, vận hành phát điện năm 1957.

Đồng thời với việc lắp đặt các tổ máy trên, tiến hành thi công đường dây 31,5kV Đa Phú - Đà Lạt và nâng cấp đoạn 15kV Suối Vàng - Đa Phú lên 31,5kV để nhà máy điện Đà Lạt hoà điện với nhà máy thuỷ điện Ankroët, tăng công suất chuyển tải cung cấp cho Dran và công trường xây dựng nhà máy thuỷ điện Đa Nhim.

Đoạn đường dây 15kV Đa Phú - Đà Lạt được cải tạo thành 3,3kV để cung cấp điện từ nhà máy điện Đà Lạt đến đường Hai Bà Trưng, Bạch Đằng. Đường dây 31,5kV từ Dran được kéo dài đến đèo Ngoạn Mục xuống công trường xây nhà máy thủy điện Đa Nhim tại chân núi.

Từ năm 1928 đến năm 1968, CEE chỉ quản lý độc nhất 1 cấp điện áp trung thế 3,3kV và 1 cấp điện áp sinh hoạt là 110V.

Đến năm 1957, Sở Công Chánh Đông Dương bàn giao nhà máy thủy điện Ankroёt cho Quốc gia Trùng tu Điện lực cuộc.

Nhà máy thủy điện Đa Nhim

Nhà máy thủy điện Đa Nhim được Nhật Bản viện trợ để bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm đóng Việt Nam năm 1945 và do Liên Hiệp Quốc tổ chức đấu thầu. Một loạt công ty công nghiệp lớn của Nhật Bản tham gia: tư vấn thiết kế: Nippon Koei; hồ đập: Kajima Hazama Gumi; đường ống: Sakai; máy phát: Mitsubishi; tuabin: Toshiba; biến thế chính: Fuji Denki; tủ bảng điện, rơle tự động hoá: Hitachi. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1959, vận hành chính thức 2 tổ máy 1, 2 vào ngày 15-1-1964 và 2 tổ máy 3, 4 vào tháng 12-1964, với tổng công suất 160MW. Đây là nhà máy có công suất lớn nhất nước. Đường dây 230kV để chuyển tải điện về Sài Gòn cũng là đường dây cao thế lớn nhất nước lúc bấy giờ.

Năm 1968, Công Ty CEE hết thời hạn quản lý kinh doanh bàn giao lại cho Quốc gia Trùng tu Điện lực cuộc kinh doanh, hệ thống điện Đà Lạt - Đơn Dương thuộc Trung tâm Điện lực Đà Lạt, trụ sở tại số 118 đường 3 tháng 2 hiện nay.

Sau khi tiếp nhận, Trung tâm Điện lực Đà Lạt phát triển lưới điện 6,6kV, cải tạo dần một số tuyến 3,3kV nâng lên 6,6kV và mở rộng khu vực cấp điện.

Đến năm 1970, Quốc gia Trùng tu Điện lực cuộc giải thể, bàn giao Trung tâm Điện lực Đà Lạt cho Công ty Điện lực Việt Nam (CDV).

Về mặt kỹ thuật, thời gian này bắt đầu áp dụng các kỹ thuật xây dựng lưới điện theo tiêu chuẩn của Mỹ: thay trụ điện bêtông vuông bằng trụ bêtông ly tâm tròn, trạm điện xây kín là trạm treo,… Với kỹ thuật mới này, công tác phát triển đường dây và trạm được thực hiện nhanh chóng hơn.

Đến năm 1973, dự án đường dây 66 kV Đa Nhim - Đà Lạt, Đa Nhim - Tháp Chàm - Cam Ranh hoàn thành. Thành phố Đà Lạt có thêm một nguồn điện lớn là trạm 66kV Đà Lạt tại số 2 đường Hùng Vương, kèm theo trạm là khu văn phòng, cư xá tương đối hoàn chỉnh.

Thông số kỹ thuật của trạm Đà Lạt

Về mặt kỹ thuật, với dung lượng 12.000kVA, điện áp 66/6,6kV, 6 phát tuyến, trạm Đà Lạt khá hiện đại gồm: máy biến áp 12.000kVA có bộ tự điều áp dưới tải (tự động điều chỉnh điện áp khi đang mang tải); các máy cắt là loại hợp bộ trong thùng kín rất an toàn cho nhân viên thao tác; máy tải ba (power line carrier) liên lạc trực tiếp với cơ quan điều hành nhà máy Đa Nhim.

Sau khi có trạm Đà Lạt, khu vực 3,3kV phía đông và đông bắc hồ Xuân Hương được nhanh chóng cải tạo lên 6,6kV và phát triển cung cấp điện.

Trong năm 1968, Hợp tác xã điện khí hóa nông thôn Tuyên Đức được thành lập từ nguồn vốn viện trợ Mỹ và thực hiện kinh doanh điện trên địa bàn tỉnh Tuyên Đức là Thái Phiên, ngoại vi Dran, Tùng Nghĩa, huyện Đức Trọng.

Từ 1970, Trung tâm Điện lực Đà Lạt và nhà máy thuỷ điện Đa Nhim thuộc quyền quản lý của Khu Điện lực Cao Nguyên. Khi trạm 66kV Đà Lạt xây dựng xong, Khu Điện lực Cao Nguyên chuyển văn phòng về trong khuôn viên trạm năm 1973, nay là văn phòng Điện lực Lâm Đồng (2 Hùng Vương, Đà Lạt).

Tại nhà máy điện Đà Lạt, năm 1970, lắp đặt thêm 1 máy phát điện Diesel CATERPILLAR 400kW do Mỹ sản xuất để đáp ứng nhu cầu phụ tải bấy giờ, song tổ máy này hư hỏng ngay từ khi lắp đặt chạy thử. Đến năm 1971, lắp đặt thêm 2 máy SACM của Pháp chạy bằng dầu Diesel công suất 2 x 1.200kW. Hai máy này đặt trên giàn có bánh xe rất tiện dụng để vận chuyển đến nơi cần sử dụng.

Hai máy phát SACM được điều động ra miền Bắc năm 1976. Máy CATERPILLAR bị hư hỏng không vận hành được nên thanh lý cùng với bốn tổ máy đầu tiên vào năm 1993 - 1994 và tháo dỡ tạo mặt bằng sắp xếp cho Phòng Điều độ và Phân xưởng sửa chữa cơ điện.

1.4 Thời kỳ sau năm 1975

Từ tháng 4-1975, chính quyền cách mạng tiếp quản:

- Nhà máy thuỷ điện Suối Vàng gồm 4 tổ máy, tổng công suất 3.100kW, 2 hồ Đan Kia và Suối Vàng.

- Nhà máy điện Đà Lạt: 6 tổ máy tổng công suất 4.550kW.

- Lưới chuyển tải và trung thế 31,5kV: 41km. Lưới trung thế Đà Lạt gồm lưới 6,6kV: 23,02km và lưới 3,3kV: 23,05km. Lưới trung thế Đơn Dương gồm 15kV: 8,13km và 8,6kV: 8,7km.

Sau khi tiếp quản, nhà máy điện Đà Lạt, nhà máy thuỷ điện Suối Vàng (Ankroët) và hệ thống điện vận hành bình thường nên việc cung cấp điện cho Đà Lạt không bị gián đoạn.

SẢN LƯỢNG ĐIỆN NĂM 1975

Đơn vị: kWh

 

Đà Lạt

Đơn Dương

Tỉnh Lâm Đồng

Điện nhận lưới

3.247.042

207.056

3.704.298

Điện thương phẩm

2.231.124

150.340

2.544.455

Khách hàng

6.237

585

9.229

Từ ngày 13-9-1976, Sở Quản lý và Phân phối Điện Lâm Đồng trực tiếp quản lý Trung tâm Điện lực Đà Lạt, Trung Tâm Điện lực Lâm Đồng (Bảo Lộc) và Hợp tác xã Điện hoá nông thôn Tuyên Đức. Bộ máy quản lý lúc đó gồm có: 3 phòng ban thuộc Văn phòng Sở và 2 chi nhánh điện Bảo Lộc và Đức Trọng.

Tuy gặp khó khăn về tài chánh, vật tư ngành điện như dây cáp, trụ điện, thiết bị điện, song với sự cố gắng vượt bậc, ngay trong năm đầu tiên ngành điện lực đã có thêm gần 2.000 khách hàng (11.600 khách hàng năm 1976 so với 9.229 khách hàng năm 1975).

Để tăng cường độ ổn định hệ thống, tháng 4-1978, đường dây 15kV Đà Lạt - Đức Trọng thi công hoàn tất, liên kết với đường dây 15kV Đơn Dương - Đức Trọng trước đây, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lưới điện vùng Đức Trọng - Lâm Hà. Đường dây này được cung cấp từ tuyến F6 (6,6kV) của trạm Đà Lạt qua một máy nâng thế 3.000kVA - 6,6/15kV.

Tại Đà Lạt, trong thời gian này nhu cầu tưới tiêu bằng động cơ điện của các hợp tác xã và tập đoàn nông nghiệp tăng rất nhanh, các đường dây trung thế được thi công đến các vùng rau.

Tháng 4-1984, nhà máy nước Đan Kia xây dựng xong bằng vốn viện trợ của Chính phủ Đan Mạch, sử dụng chung nguồn nước từ hồ Đan Kia với nhà máy thuỷ điện Suối Vàng. Nguồn điện của nhà máy nước được cung cấp từ nhà máy thuỷ điện Suối Vàng qua đường dây 6,6kV dài 4,1 km. Từ đó, nhà máy nước Đan Kia trở thành khách hàng lớn nhất của Điện lực Lâm Đồng.

Đến năm 1988, các tuyến trung thế 3,3kV tại Đà Lạt được cải tạo và nâng cấp lên 6,6kV hoàn tất. Điện áp trung thế 3,3kV sau 60 năm vận hành (từ năm 1928) được chính thức xóa bỏ.

Điện bình quân đầu người tăng từ 19,2kWh/người (1976) lên 76kWh/người (1990), tăng 3,96 lần.

Trong năm 1993, tại Đà Lạt cải tạo xong lưới hạ thế 110V lên 220V. Vậy là sau 75 năm sử dụng, điện áp dân dụng 110V được xoá bỏ. Một công trình ảnh hưởng lớn đến sự ổn định cung cấp điện là việc lắp đặt biến áp 12.500kVA - 66/15kV do Công ty Điện lực 2 điều động cho trạm Đà Lạt 1, nâng dung lượng trạm lên gấp đôi và với điện áp 15kV có thể chuyển tải cự ly xa hơn về hướng Trại Mát - Đa Thọ. Công trình này được đóng điện ngày 10-11-1994.

Ngày 12-10-1999, hoàn thành nâng công suất máy số 3 của nhà máy thuỷ điện Suối Vàng từ 300kW lên 1.600kW, hiệu HARBIN do Trung Quốc chế tạo.

Đến tháng 7-2000, Điện lực Lâm Đồng tiếp nhận quản lý đường dây 66kV Đa Nhim - Đà Lạt và trạm Đà Lạt 1 66kV - 22.500kVA - 66/15/6,6kV. Tiếp nhận 2 hạng mục này, tuy có tăng thêm nhiệm vụ công tác quản lý đường dây và trạm cao thế, song lại thuận tiện trong công tác điều độ lưới điện do được lệnh trực tiếp cho Trạm thay vì phải qua Công ty truyền tải điện 4.

Năm 2003, tiến hành nâng cấp đường dây 66kV Đa Nhim - Đà Lạt lên 110kV và đến ngày 15-4-2003, hoàn thành trạm Đà Lạt 1 mới 40MVA-110/22/15kV, với kỹ thuật mới, hệ thống đóng cắt bằng khí SF6 và rơle bảo vệ kỹ thuật số với tổng mức đầu tư 35.799.159.000đ.

Trong năm 2003, hoàn thành dự án cải tạo và phát triển lưới điện thành phố Đà Lạt bằng vốn vay ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á). Đây là 1 trong 3 dự án ngầm hoá đường dây trung thế, trạm phân phối kín hợp bộ và đường dây hạ thế có bọc cách điện ABC trong nội ô 3 thành phố Đà Lạt, Cần Thơ, Biên Hòa.

Dự án được triển khai thực hiện theo Hiệp định số 1585 VIE (SF) ký ngày 25-11-1998 giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) với tổng mức đầu tư 5.675.929 USD từ vốn vay ADB và 78.337.000.000 VNĐ vốn đối ứng trong nước. Dự án được khởi công ngày 16-11-2001 và nghiệm thu đóng điện vận hành ngày 20-4-2003.

Kèm theo dự án, ngành điện còn nhận được các dụng cụ, thiết bị thử nghiệm hiện đại phục vụ công tác kiểm tra vận hành thử nghiệm thiết bị, cáp ngầm trung thế dưới lòng đất. Dự án tại Đà Lạt hoàn thành đóng điện vận hành sớm nhất, Đà Lạt là thành phố đầu tiên trong cả nước có hệ thống điện hiện đại trong nội ô thành phố.

Sau khi vận hành hệ thống mới này, lưới 6,6kV và 15kV tại Đà Lạt được chính thức xoá bỏ, thống nhất cấp trung thế 22kV. Nội ô thành phố không còn đường dây trung thế trần chạy dọc các tuyến phố, các trạm điện cũ và đường dây hạ thế không có bọc, do đó giảm tối thiểu sự cố cho đường dây, thiết bị và con người, tăng mỹ quan đô thị.

Ngày 30-5-2004, đường dây 110kV Đức Trọng - Đà Lạt dài 41km đóng điện vận hành chính thức thuận lợi, linh hoạt cho công tác vận hành điều độ, giảm thời gian mất điện cho thành phố Đà Lạt khi có sự cố đường dây hoặc trung đại tu đường dây 110kV.

Nâng cấp nhà máy thuỷ điện Suối Vàng

Ngày 6-11-2004, tại nhà máy thuỷ điện Suối Vàng đã hoàn thành lắp đặt 2 tổ máy mới hiệu HARBIN, công suất mỗi máy 1.400kW và toàn bộ tủ bảng điện điều khiển bảo vệ của Trung Quốc. Như vậy, toàn bộ các tổ máy cũ của Pháp đã chính thức được thay thế bằng 3 tổ máy HARBIN, với tổng công suất 4.400kW, tăng sản lượng bình quân năm lên 24x106kWh. Tổng mức đầu tư là 36.923.299.000 VNĐ (2.491.000 USD).

Ngoài công tác lắp đặt 2 tổ máy mới, dự án còn bao gồm các hạng mục chính: xử lý trượt nền đường ống áp lực bằng phương pháp neo khối trượt nền đá gốc bằng cáp thép neo và khung bêtông cốt thép; xử lý thoát lũ hạ lưu nhà máy; gia cố các mố neo, mố đỡ; thiết lập và chuẩn hoá hệ thống quan trắc; xây dựng mới phòng điều khiển trung tâm kèm hệ thống đo lường, bảo vệ thiết bị nhà máy.

Chi nhánh Điện lực Đà Lạt thành lập ngày 7-9-2004, chấm dứt tình trạng quản lý chồng chéo, trùng lắp của một số phòng ban thuộc hệ thống Điện lực trên địa bàn Đà Lạt.

TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC ( 2000 - 2006)

 

Điện thương phẩm
(106 kWh)

Khách hàng (hộ)

P max (MW)

Lưới trung thế (km)

2000

190,77

51.767

52,6

1.196,2

2006

416,536

183.260

105

2.240,8

Tăng trưởng (%)

218,34

354

200

188,16

 

 

 

2. ĐIỆN NĂNG VÀ ĐỜI SỐNG

Trước năm 1975, tại Đà Lạt, điện năng chủ yếu đáp ứng nhu cầu ánh sáng sinh hoạt gia đình và đường phố vì bấy giờ các thiết bị điện trong gia đình còn rất ít. Một phần khá quan trọng còn lại cung cấp cho các nhà máy bơm nước, cấp nước sinh hoạt cho thành phố. Về công nghiệp, chủ yếu điện năng chỉ cung cấp cho vài cơ sở công nghiệp nhỏ như nhà máy chè Cầu Đất và một số cơ sở gia công chế tạo cơ khí.

Điều này thể hiện rất rõ qua số liệu đến cuối năm 1975, lượng điện năng cung ứng cho ánh sáng sinh hoạt (1,7 x 106kWh) gấp 3,35 lượng điện năng cung ứng cho công nghiệp và phi công nghiệp và gấp 71,2 lượng điện năng cung ứng cho nông nghiệp.

Nhiều năm trước, một xứ sở được xem là có điện khi điện bình quân đầu người đạt 100kWh/người/năm. Điện bình quân đầu người là điện năng bình quân mỗi người tiêu thụ trong 1 năm. Năm 1975, điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt là 26kWh/người/năm.

Trong 10 năm đầu (1975 - 1985), với sự phát triển của một số nhà máy công nghiệp địa phương như nhà máy cơ khí tỉnh, nhà máy phân bón Trại Mát, các nhà máy luyện thiếc tại Đà Lạt, Đức Trọng, các nhà máy chế biến trà tại Di Linh, Bảo Lộc, các nhà máy cưa xẻ và chế biến gỗ,… lượng điện năng cung ứng ngành công nghiệp tăng nhanh.

Từ năm 1975 trở về trước, nông dân tưới tiêu bằng phương tiện thủ công, dùng đôi thùng gánh nước cho các mảnh vườn nhỏ, với các nông trại lớn như các đồi chè, cà phê chủ yếu nhờ lượng mưa hàng năm, một số ít đã sử dụng máy bơm nước chạy bằng xăng/diesel, nhưng số người sử dụng điện cho canh tác không đáng kể. Sau năm 1975, với sự hình thành các tập đoàn, hợp tác xã nông nghiệp có sự hỗ trợ của chính quyền các cấp và nguồn vốn của hợp tác xã, lưới điện cung cấp cho các tập đoàn, hợp tác xã phát triển rất nhanh. Hơn nữa, tập quán của nông dân cũng thay đổi, phát triển theo tiến bộ của xã hội, các mảnh vườn riêng cũng được trang bị bơm tưới bằng động cơ nổ và động cơ điện.

Vì vậy, trong 10 năm (1975 - 1985), điện năng cung cấp cho nông nghiệp và công nghiệp tăng rất nhanh, cụ thể như sau:

- Về nông nghiệp: tăng 114,97 lần (2.740.000kWh/ 23.800kWh).

- Về công nghiệp - phi công nghiệp: tăng 29,2 lần (14,89x106/0,507 x 106kWh).

Trong thời gian này điện năng ánh sáng sinh hoạt cũng tăng 5,057 lần (8,58x106/1,7x106 kWh), một phần do các gia đình có thêm một số vật dụng gia đình dùng điện như tủ lạnh, truyền hình,… song lượng gia tăng chính là do tăng dân số cơ học và tự nhiên.

Sau 10 năm, điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt năm 1985 đạt 102,61kWh/người/năm, theo tiêu chuẩn được xem là địa phương có điện.

Năm 1990, điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt đạt 167,7kWh/người/năm.

Năm 1995, điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt đạt 302,47kWh/người/năm.

Sau năm 1995, điều kiện đời sống chung của cộng đồng phát triển đáng kể, từ đó, các thiết bị sử dụng điện trong các gia đình tăng nhanh. Hơn nữa, lượng khách du lịch đến địa phương gia tăng, số lượng khách sạn mới được xây dựng nhiều. Nông dân ứng dụng kỹ thuật trồng hoa mới, dùng ánh sáng điện nhiều để điều chỉnh sự tăng trưởng của cây hoa. Vì vậy, lượng điện năng cung ứng cho 2 lãnh vực công nghiệp - phi công nghiệp và ánh sáng sinh hoạt ngày càng tăng nhanh.

Năm 1996, điện bình quân của tỉnh Lâm Đồng đạt 110,7kWh/người/năm, bấy giờ tỉnh Lâm Đồng mới được xem là địa phương có điện. Lúc này, điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt là 313,2kWh/người/năm, gần gấp 3 lần số điện bình quân của tỉnh Lâm Đồng.

Năm 2000, điện bình quân của thành phố Đà Lạt là 397,4kWh/người/năm, và của tỉnh Lâm Đồng là 184,9kWh/người/năm.

Năm 2007, điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt là 701,37 kWh/người/năm, và của tỉnh Lâm Đồng là 371,07 kWh/người/năm. Như vậy, so với điện bình quân đầu người của thành phố Đà Lạt là 26kWh/người/năm vào năm 1975, đã tăng 26,97 lần sau 32 năm.

Ngày 25-5-2007, đường dây 31,5kV Suối Vàng - Đa Nhim vận hành từ 1945 được cải tạo thành 22kV. Vậy là sau 62 năm, cấp trung thế 31,5kV được xoá bỏ.

Trong hơn 30 năm, từ năm 1975 đến năm 2007, lượng điện năng sử dụng toàn xã hội tăng rất nhanh ở một địa phương không có nền công nghiệp lớn là một thành quả đáng kể nhờ thay đổi phương thức sản xuất cũ trong nông nghiệp và công nghiệp, nên lượng điện năng cung cấp cho nông nghiệp tăng 585,46 lần, cho công nghiệp tăng 272,22 lần và cho sinh hoạt tăng 165,27 lần.

ĐIỆN NĂNG

 

1975
(106 kWh)

2007 (106kWh)

Tỷ lệ gia tăng (lần)

Nông nghiệp

0,0238

13,934

585,46

Công nghiệp và phi công nghiệp

0,507

138,02

272,22

Sinh hoạt

1,70

280,964

165,27

 

 

 

HỆ THỐNG CẤP THOÁT NƯỚC

 

1. HỆ THỐNG CẤP NƯỚC SẠCH

Hệ thống cấp nước sạch của Đà Lạt ra đời ngay trong giai đoạn đầu thời kỳ hình thành thành phố.

Trước đây, việc cung cấp nước cho thành phố được giải quyết bằng cách sử dụng một phần của nước suối Cam Ly, qua các hồ Than Thở và hồ Xuân Hương; sau năm 1975, nguồn cấp nước được bổ sung thêm từ hồ Chiến Thắng và hồ Đan Kia. Hiện tại, thành phố Đà Lạt được cung cấp nước sạch từ ba nhà máy nước hồ Than Thở, Xuân Hương và Suối Vàng với công suất lớn nhất tổng cộng là 31.000m3.

1.1 Quá trình hình thành

Nhà máy cấp nước đầu tiên được ghi nhận hoạt động từ năm 1920, có công suất nhỏ chỉ bảo đảm việc cung cấp nước sạch cho các công trình và dân cư lúc đó còn thưa thớt, tập trung quanh Hồ Lớn. Nhà máy này đã được tháo dỡ và không còn tài liệu cụ thể về công trình.

1.1.1 Thời kỳ trước năm 1945

Năm 1937, hồ Than Thở được xây dựng tại thượng lưu suối Cam Ly. Đây là hồ cảnh quan đồng thời cũng là hồ chứa bảo đảm việc cung cấp nước cho thành phố Đà Lạt. Năm 1937, Sở Công chánh đã thiết lập một kế hoạch phát triển hệ thống cấp và phân phối nước. Nhà máy nước hồ Than Thở, xây dựng năm 1938, có công suất lớn nhất là 4.300m3/ngày. Nhà máy này xử lý nước từ hồ Than Thở, nước được lắng, lọc, khử trùng và chứa tại bể chứa nước sạch 300m3. Sau đó nước sạch được bơm đến 3 bể chứa thông nhau có dung tích tổng cộng là 1.875m3; một bể chứa tại dinh Toàn quyền, một gần dinh Thị trưởng (Resimaire 1) và một trong khu vực Viện Pasteur (Calypso).

 

Nhà máy nước hồ Than Thở

Từ những bể này, nước sạch được cung cấp cho khu vực cao của thành phố; vùng cao nhất của khu vực này được cung cấp bởi một trạm bơm tăng áp. Giai đoạn tiếp theo hoàn thành vào năm 1943, bao gồm việc xây dựng thêm một bể chứa chính (Resimaire 2) và 2 bể chứa thứ cấp (Tây Hồ 1, 2), cùng việc phát triển mạng lưới ống thoát nước.

Lượng nước sạch tiêu thụ năm 1938 là 191.819m3 và năm 1939 là 235.797m3.

1.1.2 Thời kỳ 1945 - 1975

Do nhu cầu nước sạch gia tăng cùng với sự phát triển của thành phố, vào năm 1949, nhà máy nước hồ Xuân Hương được xây dựng với công suất 8.400m3/ngày. Nhà máy này xử lý nước từ hồ nhân tạo Xuân Hương, có bể chứa nước sạch 200m3, sau đó bơm nước sạch đến vị trí thứ nhất là 3 bể chứa thông nhau (Resimaire) ở dinh Thị trưởng có dung tích tổng cộng là 1.600m3 và đến vị trí thứ hai là 2 bể chứa thông nhau (Calypso) có dung tích tổng cộng 575m3. Từ những bể này, nước sạch được cung cấp cho những vùng thấp của khu vực cao của thành phố.

Hệ thống cấp nước trên cung cấp cho khu vực dân cư có diện tích 10km2 so với diện tích toàn thành phố lúc đó là 69km2. Khu vực phục vụ nằm giữa cao độ 1465 đến 1560m so với mực nước biển, được chia làm 1 khu vực thấp và 2 khu vực cao.

Tổng sản lượng nước sạch sản xuất năm 1973 là 2.226.609m3 và lượng nước bán là 847.080m3. Lượng nước bán chỉ bằng 38% lượng nước sản xuất, phần còn lại là nước công tác dùng cho bản thân nhà máy và nước thất thoát do rò rỉ qua mạng ống phân phối. Nếu lượng thất thoát được loại trừ, nhà máy có thể cung cấp nước sạch cho 60% dân số của thành phố. Trong sản lượng nước bán năm 1973, nước bán cho gia dụng là 70%, thương mại và du lịch là 8%, hành chánh, sử dụng công cộng là 22%. Nước bán cho mỗi người dân khoảng 35m3 mỗi năm.

Vào năm 1974, công suất tổng cộng của hai nhà máy Than Thở và Xuân Hương đã không còn đủ cung cấp nước sạch cho toàn thành phố Đà Lạt. Số hộ có đồng hồ nước là 3.085 với dân số khoảng 27.000 người, phần dân cư còn lại sử dụng nước sinh hoạt từ suối, giếng cạn hay từ các bể chứa nước mưa. Phần lớn mạng lưới phân phối bằng ống gang lắp đặt từ năm 1938 - 1949, đã bị ăn mòn và đóng cặn, áp lực nước ở một số vị trí vùng cao trở nên quá nhỏ vào giờ cao điểm.

1.1.3 Thời kỳ sau năm 1975

Do nguồn nước thô và hệ thống cấp nước từ hồ Than Thở và hồ Xuân Hương không còn đảm bảo về số lượng và chất lượng nên việc phát triển một hệ thống cấp nước mới trở nên cần thiết đối với sự phát triển của thành phố Đà Lạt.

Công trình cung cấp nước thô từ hồ Chiến Thắng

Hồ Chiến Thắng nằm ở phía bắc thành phố Đà Lạt, được xây dựng và hoàn thành vào năm 1981. Hồ có diện tích lưu vực 6,5km2, diện tích mặt nước 43ha và dung tích 2,15 triệu m3. Hồ Chiến Thắng cung cấp nước thô cho nhà máy nước hồ Xuân Hương với lưu lượng 3.120m3/ngày qua một trạm bơm có 2 máy bơm điện (công suất mỗi bơm 265m3/giờ - cột nước 15m) và một đường ống truyền tải dài 4,8km, Ø300 bằng gang.

Công trình cấp nước sạch Đan Kia

Dự án cấp nước sạch Đan Kia được nghiên cứu và chuẩn bị đầu tư năm 1974. Sau ngày thống nhất đất nước, dự án được tiếp tục thực hiện theo Hiệp định ngày 19-11-1975 giữa Chính phủ Đan Mạch và Chính phủ Việt Nam. Tổng mức vốn đầu tư của dự án là 12,17 triệu USD, trong đó vốn vay của Chính phủ Đan Mạch là 6,25 triệu USD và vốn của Chính phủ Việt Nam là 5,92 triệu USD.

Công trình cấp nước sạch Đan Kia được khởi công xây dựng từ năm 1980 và hoàn thành vào năm 1984. Nhà máy này xử lý nước thô từ hồ Đan Kia, sau đó bơm nước sạch đến bể chứa đồi Tùng Lâm có dung tích 5.000m3 và từ đó đến các bể chứa có sẵn của thành phố. Từ những bể này, nước sạch được cung cấp cho các khu vực của thành phố.

Nguồn vốn vay của Chính phủ Đan Mạch được đầu tư cho các hạng mục thiết kế; cung cấp thiết bị cơ khí, thiết bị điện, ống chuyển tải và giám sát thi công. Nguồn vốn của Chính phủ Việt Nam đầu tư cho các hạng mục xây dựng công trình; lắp đặt thiết bị cơ khí, thiết bị điện và đường ống chuyển tải.

Công trình cấp nước sạch Đan Kia có công nghệ và trang thiết bị hiện đại, đã cải thiện việc cung cấp nước sạch với chất lượng tốt cho thành phố Đà Lạt với công suất tối đa 25.000 m3/ngày cho dân số thiết kế khoảng 179.000 người. Dự án cũng chuẩn bị quỹ đất dự phòng dành cho việc mở rộng hệ thống với công suất tối đa 45.000m3/ngày cho dân số tương lai khoảng 250.000 người.

 

Công trình cấp nước sạch Đan Kia (1986 )

Lúc đó, nhà máy nước hồ Than Thở và nhà máy nước Hồ Xuân Hương dự kiến chỉ còn làm nhiệm vụ dự phòng vì máy móc thiết bị tại 2 cơ sở này quá lạc hậu.

Cải tạo nâng cấp hệ thống cấp nước năm 1997 - 1999

Trong những năm 1997-1999, với sự giúp đỡ của Chính phủ Đan Mạch, giai đoạn hai của dự án cấp nước đã được thực hiện với mục tiêu chính là cải tạo và mở rộng hệ thống đường ống phân phối nước, nâng cấp trang thiết bị các nhà máy nước, nâng tổng công suất cấp nước sản xuất tại hai nhà máy nước Suối Vàng và nhà máy nước hồ Xuân Hương, đảm bảo cấp nước sạch cho nhu cầu của thành phố.

Các hạng mục đầu tư trong dự án này bao gồm:

- Cải tạo nâng cấp trạm bơm cấp I hồ Chiến Thắng cấp nước thô cho nhà máy Xuân Hương với lưu lượng 6.360m3/ngày-đêm.

- Cải tạo một số hạng mục của nhà máy nước Suối Vàng gồm: thay mới 2 bơm cấp II; xây thêm 1 bể bùn; nạo vét trạm bơm nước thô và xây kè chắn.

- Cải tạo nâng cấp nhà máy hồ Xuân Hương với công suất 6.000m3/ngày-đêm.

- Lắp đặt hệ thống kiểm soát mực nước các cụm bể chứa trung gian Scada.

- Cải tạo, lắp đặt mới 73 hạng mục thuộc mạng lưới đường ống có tổng chiều dài gần 60km với các đường kính Ø100, Ø150, Ø 200, Ø 300, Ø 500.

Mạng đường ống phân phối được xây dựng và cải tạo nhiều lần, tới năm 2000 đã bao gồm 12km đường ống chuyển tải nước thô, gần 100km đường ống phân phối được thay thế mới, một hệ thống 11 bể chứa nước làm nhiêm vụ điều áp và điều hòa lưu lượng. Phạm vi phục vụ của mạng cấp nước hiện nay bao phủ hầu hết nội thành. Hệ thống có chất lượng phục vụ khá tốt, tỷ lệ thất thoát nước dưới 20%, chất lượng nước đạt tiêu chuẩn khu vực và là một trong các hệ thống cấp nước tốt ở Việt Nam hiện nay.

Hiện trạng cấp nước

Số khách hàng vào năm 2007 là 35.349 tương ứng với khoảng 89% dân số, tăng 11,5 lần so với năm 1974.

Cùng với thời gian, sản lượng nước thương phẩm, số lượng khách hàng gia tăng theo dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

Sản lượng nước thương phẩm năm 2007 là 9.821.013m3, tăng 11,6 lần so với năm 1973 (847.080m3).

Sản lượng nước sản xuất tổng cộng năm 2007 là 12.110.440m3, trong đó nhà máy hồ Xuân Hương: 1.870.157m3, nhà máy hồ Than Thở: 1.016.434m3 và nhà máy Suối Vàng: 9.223.849m3.

Giá nước năm 2007 là 2.500 - 5.000đ/m3 cho nước phục vụ sinh hoạt, 4.000đ/m3 cho khối hành chánh sự nghiệp, 5.000đ/m3 cho sản xuất và 7.000đ/m3 cho kinh doanh dịch vụ.

1.2 Các công trình cấp nước

1.2.1 Nhà máy nước hồ Than Thở

Nhà máy nước hồ Than Thở, còn được gọi là nhà máy nước cũ, được xây dựng vào năm 1938, có công suất lớn nhất là 8.400m3/ngày. Nhà máy bao gồm 1 công trình thu nước thô, 1 nhà máy bơm và châm hoá chất, 1 bể kết cợn, 2 bể lắng hình chữ nhật, 8 bể lọc cát hở và một bể chứa nước sạch.

Công trình thu nước thô trước đây từ hồ Than Thở gồm một đường ống hút bằng gang Ø300 từ hồ vào nhà máy. Sau năm 1981, nước thô được chuyển tải từ hồ Chiến Thắng.

1.2.2 Nhà máy nước hồ Xuân Hương

Nhà máy nước hồ Xuân Hương có địa điểm gần trung tâm thành phố, được xây dựng năm 1949. Công trình thu nước thô hồ Xuân Hương trước đây sử dụng ống Ø300 bằng gang đặt trên cầu đỡ bằng bêtông, đến nay không còn sử dụng. Sau năm 1981, nước thô được chuyển tải từ hồ Chiến Thắng.

Nhà máy gồm có công trình thu nước thô, 1 nhà máy bơm và châm hoá chất, 2 bể lắng động, 3 bể lọc cát nhanh loại hở và 1 bể chứa nước sạch.

Nhà máy đã được nâng cấp trong dự án giai đoạn II vào năm 1997 với công suất 6.000m3/ngày đêm.

1.2.3 Công trình cấp nước sạch hồ Đan Kia

Hồ Đan Kia

Hồ Đan Kia và Suối Vàng được xây dựng hoàn thành năm 1945 trên sông Đạ Đờng để phục vụ công trình thủy điện Ankroёt, có diện tích lưu vực là 141km2, dung tích hữu dụng 15,2 triệu m3.

 

Hồ Đan Kia

Công trình cấp nước sạch Đan Kia bao gồm:

- Trạm bơm nước thô với 5 tổ máy tại hồ Đan Kia, 1 trạm biến áp và 1 đường ống chuyển tải nước thô giữa trạm bơm nước thô đến nhà máy xử lý;

- Nhà máy xử lý nước sạch với công suất 25.000m3/ngày, đặt tại vị trí gần bờ hồ gồm: bể trộn và phân phối, 3 bể lắng gia tốc, 6 bể lọc nhanh phổ thông (lọc hở) có mái che, 1 bể chứa nước sạch 3.000m3, trạm bơm nước sạch với 6 tổ máy và một trạm biến áp;

- Đường ống chuyển tải nước sạch Ø600 dài 7.200m từ trạm bơm nước sạch đến bể chứa Tùng Lâm;

- Bể chứa nước sạch dung tích 5.000m3 đặt tại đồi Tùng Lâm (Pin Thouard) với cao trình đáy bể là 1560m;

- Đường ống chuyển tải từ bể chứa Tùng Lâm về thành phố Đà Lạt gồm 2,8km ống thép Ø600, tiếp theo phân thành 2 nhánh: nhánh 1 gồm 5,4km ống thép Ø500 phân tiếp thành 2 nhánh Ø300 dài 6,5km (cấp nước cho các bể Hùng Vương, Gougal và Dinh 1) và nhánh 2 gồm 1km ống thép Ø500 và 2km ống Ø300 (cấp nước cho các bể Resimaire và Calypso).

1.3 Mạng lưới phân phối

Mạng lưới phân phối cũ gồm có khoảng 8.000m ống gang lắp đặt từ năm 1938, 24.500m ống lắp đặt năm 1948 - 1949, 5.000m ống lắp đặt năm 1967 và 18.000m ống gang lắp đặt năm 1974 - 1975. Ống bao gồm các loại Ø40, 60, 80, 100, 150 và 200mm.

Hiện nay, mạng lưới gồm 33.000m ống chuyển tải Ø500 - 600 và trên 160.000m ống phân phối Ø100 - 300. Sơ đồ hệ thống cấp nước Đà Lạt thuộc sơ đồ đài đầu, cấp nước theo lưu vực.

LƯU VỰC

Lưu vực

Bể cấp nước

W (m3)

Cốt địa hình (m)

Tùng Lâm

Tùng Lâm

5.000

1561,3

Cao Thắng

Cao Thắng

1.000

1536

Calypso

Calypso

1.000

1536,3

Resimaire

Resimaire

1.730

1531,6

Dinh I

Dinh I

500

1545

Dinh II

Dinh II

500

1536,3

Tây Hồ

Tây Hồ

2.700

1550,9

Trại Mát

Trại Mát

500

1610

Tổng dung tích điều hòa (m3)

13.000

Sơ đồ mạng lưới cấp nước thành phố Đà Lạt thuộc loại sơ đồ mạng lưới hỗn hợp, đường ống tại khu trung tâm, giữa các đường phố chính được kết lại thành những vòng khép kín. Dẫn vào các điểm sử dụng nước tập trung, các khu dân cư là các đường ống cụt. Khoảng cách giữa hai điểm xa nhất của mạng lưới từ Cam Ly đến Phát Chi (Xuân Trường) khoảng 35km. Tổng chiều dài của đường ống thuộc mạng cấp I và cấp II xấp xỉ 200.000m.

2. HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC

2.1 Suối

Giữa các dãy đồi thấp ở vùng trung tâm và các đỉnh núi cao xung quanh Đà Lạt có các dòng chảy của các suối thượng nguồn sông Đa Nhim, Đạ Đờng, Cam Ly; những dòng sông này là các nhánh chính đổ vào sông Đồng Nai. Nguồn nước của các dòng sông rất lớn trong mùa mưa nhưng lại cạn kiệt trong mùa nắng.

Về phía bắc, các con suối chảy theo hướng đông nam - tây bắc và đổ vào hồ Suối Vàng như suối Phước Thành, suối Đa Phú. Phía đông có các con suối nhỏ chảy về sông Đa Nhim, thượng nguồn hồ Đơn Dương. Các con suối phía nam chảy theo hướng đông bắc - tây nam đổ về suối Đạ Tam như suối Datanla, Prenn. Chảy qua trung tâm thành phố là suối Cam Ly có chiều dài 20km trong địa phận Đà Lạt với diện tích lưu vực khoảng 50 km2. Mạng lưới suối nhỏ khá dày với mật độ bình quân 1,2km/km­2­.

Suối Cam Ly bắt nguồn gần một ngọn núi cao ở huyện Lạc Dương, chảy qua các hồ nhân tạo gồm: hồ Than Thở, hồ Mê Linh đến hồ Xuân Hương, sau đó đổ về thác Cam Ly.

Trong mùa mưa, lưu lượng nước trung bình lớn nhất vào tháng 9 - 10 từ 2 - 2,5 m3/s. Vào mùa khô các suối gần như cạn kiệt, lưu lượng nước trung bình vào các tháng 2 - 4 từ 80-90 l/s, kiệt nhất vào tháng 3 có khi xuống còn 40 l/s.

Việc quy hoạch và xây dựng thành phố đã được thực hiện phần lớn dọc hai bờ suối và theo ý tưởng hình thành các khu chức năng của thành phố dựa vào một chuỗi hồ nhân tạo.

2.2 Hồ

Hồ ở Đà Lạt chủ yếu là hồ nhân tạo, phân bố rải rác với số lượng khoảng 16 hồ lớn nhỏ. Một số hồ bị bồi lấp, trở thành vườn trồng rau như hồ Vạn Kiếp, hồ Mê Linh. Các hồ lớn ở Đà Lạt tạo thành các thắng cảnh, điều hoà nguồn nước tưới như hồ Đa Thiện, hồ Than Thở, hồ Tuyền Lâm, hồ Xuân Hương. Hồ Suối Vàng được sử dụng để sản xuất thủy điện. Trước năm 1984, nguồn nước thô để sản xuất nước sạch cho thành phố Đà Lạt được cung cấp từ các hồ Xuân Hương, hồ Chiến Thắng, hồ Than Thở; sau đó nguồn nước chính được cung cấp từ hồ Đan Kia. Hồ Đan Kia và Suối Vàng (Ankroёt) ở phía tây bắc Đà Lạt có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của cư dân thành phố.

DIỆN TÍCH, DUNG TÍCH HỒ

 


 

Tên hồ

Địa điểm

Diện tích
lưu vực (km2)

Diện tích
mặt nước (ha )

Dung tích hồ
(triệu m3)

Hồ Tuyền Lâm

Phường 4

32,8

296,0

10,6

Hồ Xuân Hương

Trung tâm thành phố

26,0

33,0

0,7

Hồ Chiến Thắng

Học viện Lục quân

6,5

43,0

2,15

Hồ Đập 3 Đa Thiện

Phường 8

4,500

28,000

0,485

Hồ Than Thở

Phường 12

5,340

5,910

0,131

26/3 Tự Phước

Phường 11

0,650

0,800

0,096

Hồ 6 Đa Lộc - Lộc Quý

Xuân Thọ

1,200

0,700

0,056

Hồ 8 Đa Lộc - Lộc Quý

Xuân Thọ

1,600

0,500

0,082

Hồ 1 Đất Làng

Xuân Trường

0,500

0,800

0,128

Hồ 5 Cam Ly Dốc Trời

Phường 5

1,100

4,000

0,250

Tà Nung

Tà Nung

2,570

0,350

0,130

Vạn Kiếp

Phường 7

2,000

3,000

 Cạn

Vạn Thành 2

Phường 5

2,000

1,440

0,922

Suối Vàng

Lạc Dương

145

 

1,00

Đan Kia

Lạc Dương

141

 

15,2

Hồ Than Thở

Hồ Than Thở là hồ đầu tiên từ thượng lưu suối Cam Ly và là một thắng cảnh nổi tiếng của Đà Lạt. Hồ có diện tích lưu vực là 5,31km2, diện tích mặt hồ là 5,91ha, dung tích hồ lớn nhất là 350.000m3. Dung tích hồ giảm dần đều đặn do sự lắng đọng của bùn đất bị bào mòn trong lưu vực, hiện nay chỉ còn lại khoảng 130.000m3.

Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là hồ nhân tạo ở khu vực trung tâm thành phố Đà Lạt. Hồ đầu tiên được hình thành vào năm 1919 sau khi đắp xong đập thứ nhất (từ nhà Thủy Tạ ngày nay đến ngã ba đường Đinh Tiên Hoàng), hồ được mở rộng vào năm 1923 sau khi đắp đập thứ hai; đến năm 1932, bão lớn đã phá hủy hai đập trên. Từ năm 1934 đến năm 1935, một chiếc đập lớn (cầu Ông Đạo) được xây dựng phía dưới hai đập trước kia và đã tạo thành hồ Xuân Hương ngày nay.

Hồ Xuân Hương là một thắng cảnh được công nhận di tích lịch sử - văn hoá, cùng với Đồi Cù hình thành một công viên và cũng là hạt nhân của khu trung tâm thành phố, nơi quần tụ các công trình phục vụ du lịch, thương mại, nhà hàng, khu thể thao, các công trình công cộng.

Diện tích lưu vực suối Cam Ly tính đến cầu Ông Đạo là 24,5km2, dung tích hồ khi xây dựng năm 1935 là 1,2 triệu m3, diện tích mặt hồ khi xây dựng là 43ha, chiều dài suối đến đập là 8km. Dòng chảy trung bình nhiều năm là 0,7m3/s, tổng lượng nước đến bình quân hàng năm là 22,1 triệu m3.

Công trình gồm hồ chứa, xi phông xả lũ, đập đất và cầu giao thông. Cao trình mực nước gia cường là 1478,5m, cao trình mực nước dâng bình thường là 1478,0m.

Hồ Xuân Hương bị bồi lắng với tốc độ khá nhanh và nghiêm trọng. Năm 1974, dung tích hồ còn 0,9 triệu m3; đến năm 1997, dung tích hồ chỉ còn 0,72 triệu m3 nước và diện tích mặt hồ là 32ha.

Cải tạo hồ Xuân Hương

Công trình hồ Xuân Hương đã trải qua nhiều lần sửa chữa; năm 1947, sửa chữa cống xả cát; năm 1953, tu sửa các vết nứt trên kết cấu bêtông; năm 1979, gia cố sân tiêu năng và gia cố 3 đoạn trong 3 cống xi phông 5, 6, 7; năm 1984, nạo vét một phần bồi lắng, gia cố nền xi phông bị xói, gia cố bêtông cốt thép trong các cống xi phông; năm 1990, xây dựng sân tiêu năng bằng bêtông cốt thép.

Đợt sửa chữa quy mô nhất được thực hiện vào năm 1998 - 1999, bao gồm 4 hạng mục chính: sửa chữa gia cố công trình xi phông tháo lũ kết hợp với cầu giao thông; nạo vét hồ, khôi phục diện tích mặt nước và dung tích ban đầu của hồ; tôn tạo bờ hồ chống sạt lở, xây dựng các tiểu công viên, cầu ngoạn cảnh; xây dựng 4 hồ lắng ngăn chặn bồi lắng và hạn chế ô nhiễm nguồn nước.

2.3 Hệ thống thoát nước

Nhiều khu vực tại Đà Lạt có hệ thống thoát nước sử dụng chung cho nước mưa và nước thải sinh hoạt, mỗi hệ thống bao phủ những lưu vực nhỏ. Nước thoát trong hệ thống cống và mương rãnh thường chạy dọc theo đường giao thông, chảy vào các suối nhỏ, ao hồ và sau đó thoát chung vào các suối chính.

Năm 1974, hệ thống thoát nước mưa gồm có 1.095m mương xây gạch, 1.079m cống bê tông Ø800, 383m cống bêtông Ø1000 và 350m cống bêtông Ø150.

Năm 2000, Đà Lạt có tổng cộng khoảng 41.700m mương cống các loại, bao gồm: 15.646m mương xây kín, có nắp đan (gạch, đá hộc), 4.628m mương xây hở (gạch, đá hộc), 20.730 mương đất, 3.200m cống tròn bêtông cốt thép (Ø800 và 1.000mm). Cống rãnh thoát nước chỉ được xây dựng trên khoảng 60% tổng chiều dài các tuyến đường phố, nước thải thoát chung với nước mưa trong cùng một hệ thống mương - cống - rãnh. Cùng với sự phát triển đầu tư của hệ thống đường nội thị, hệ thống thoát nước cũng dần dần được xây dựng đầy đủ và kiên cố hơn.

Trong thời kỳ đầu hình thành thành phố, hệ thống cống nước thải không được đặt ra như một vấn đề cấp thiết, do việc xây dựng hệ thống này rất khó khăn trong điều kiện địa hình đồi núi nhấp nhô, bị chia cắt, trải rộng và mật độ dân cư còn rất thấp; phương tiện xử lý nước thải phổ biến nhất chỉ là bể tự hoại. Tuy nhiên, khi thành phố phát triển và dân số gia tăng, lượng nước thải không được xử lý đã có nhiều tác động xấu đến môi trường, ô nhiễm nguồn nước và làm giảm vẻ hấp dẫn của cảnh quan.

3. HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẬP TRUNG

Hệ thống xử lý nước thải tập trung là một hạng mục thuộc Dự án Vệ sinh thành phố Đà Lạt, thực hiện theo hiệp định ký kết năm 2000 giữa Chính phủ Đan Mạch và Việt Nam. Tổng mức vốn đầu tư ban đầu khoảng 321 tỷ, trong đó vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Đan Mạch là 257 tỷ và vốn của Chính phủ Việt Nam là 64 tỷ.

Hệ thống xử lý nước thải tập trung được khởi công xây dựng từ tháng 3-2003. Các công trình đầu mối được hoàn thành, bắt đầu hoạt động từ tháng 12-2005 và đến cuối năm 2007 thì hoàn thành hạng mục đấu nối nước thải từ các hộ thoát nước trong phạm vi dự án.

Phạm vi dự án của hệ thống xử lý nước thải tập trung nằm trong khu vực trung tâm thành phố bao gồm toàn bộ các phường 1, phường 2 và một phần các phường 5, 6 và 8. Khu vực này có mật độ dân số cao và có lượng nước thải lớn thoát ra suối Phan Đình Phùng, hồ Xuân Hương và suối Cam Ly.

Ranh giới khu vực này như sau: phía tây giáp trục đường Mai Hắc Đế - Ngô Quyền - Bạch Đằng; phiá bắc giáp đường Hai Bà Trưng nối dài - La Sơn Phu Tử - Nguyễn Công Trứ; phía đông giáp đường Đinh Tiên Hoàng và phía Nam giáp suối Cam Ly từ hồ Xuân Hương đến cầu Ma Trang Sơn. Nước thải sinh hoạt của khoảng 7.400 căn nhà trong khu vực này được tách riêng, thu vào hệ thống cống nước thải, chảy về trạm bơm chính và từ đây, nước thải được bơm theo đường ống áp lực về nhà máy xử lý trước khi đổ ra hạ lưu suối Cam Ly.

Hệ thống cống nước thải được xây dựng mới, tách biệt với hệ thống thoát nước có sẵn, với chiều dài khoảng 43km. Trạm bơm chính với công suất 500m3/giờ được xây dựng tại vị trí gần cuối đường Nguyễn Thị Định. Tuyến ống áp lực chuyển tải nước thải từ trạm bơm chính về nhà máy xử lý nước thải có chiều dài 2,2km.

 

Nhà máy xử lý nước thải tập trung

Nhà máy xử lý nước thải tập trung có công suất 7.100m3/ngày, được xây dựng trên lô đất có diện tích 7,5ha tại hạ lưu suối Cam Ly - cuối đường Kim Đồng. Tại đây, nước thải được xử lý bằng công nghệ xử lý cơ học và sinh học trước khi xả ra hạ lưu suối Cam Ly.

Nhà máy bao gồm những hạng mục chính như sau: hệ thống chắn rác gồm các lưới thô 60mm và mịn 4 mm, máy cuốn và ép rác tự động; bể lắng cát gồm 3 ngăn, kích thước chung 19,4m x 3,5m x 1,5m; 2 bể lắng hai vỏ, với kích thước mỗi bể: 25,8m x 7,4m x 11,05m; 2 bể lọc sinh học nhỏ giọt với đường kính mỗi bể 22m, chiều cao 5,95m; 2 bể lắng thứ cấp với đường kính mỗi bể 31m, chiều cao 2,5m; trạm bơm tuần hoàn với kích thước: 9,8m x 4,5m x 5,3m; 3 hồ sinh học và khử trùng với diện tích 2,5 ha; 2 sân phơi bùn có mái che diện tích 4.000m2, gồm 20 ô, kích thước mỗi ô: 34,2m x 6,4m; hệ thống đường ống kỹ thuật đường kính từ Ø150 đến Ø700; máy phát điện dự phòng công suất 60 kVA và trạm biến áp 160 kVA; phòng điều hành; văn phòng làm việc và xưởng.

4. CẢI TẠO SUỐI PHAN ĐÌNH PHÙNG VÀ SUỐI CAM LY

Trong khuôn khổ của Dự án Vệ Sinh, suối Phan Đình Phùng và suối Cam Ly cũng được tiến hành chỉnh trang nhằm tôn tạo cảnh quan, ngăn chặn sự xói mòn hai bờ suối và cải thiện điều kiện dòng chảy để thoát nước lũ, hạn chế tình trạng ngập lụt cục bộ một số khu vực ven suối.

4.1 Suối Phan Đình Phùng

Công trình được hoàn thành vào tháng 8 năm 2005. Phạm vi công trình từ cầu La Sơn Phu Tử đến ngã ba suối Cam Ly, với chiều dài 1.850m.

Suối được mở rộng có mặt cắt ngang hình thang với chiều cao H = 2,3m; bề rộng mặt trên Bm = 6 -7,5m; bề rộng đáy Bđ = 2,4 - 4,4m. Lòng suối được gia cố bằng kết cấu bêtông đúc sẵn kết hợp với khối xây đá chẻ. Hai bên bờ suối bố trí đường giao thông, phía đông có đường rộng 3,5m và phía tây có đường rộng 2m.

4.2 Suối Cam Ly

Công trình được khởi công xây dựng từ năm 2003. Phạm vi công trình từ cầu Ông Đạo đến thác Cam Ly, với chiều dài 2.150m. Công trình gồm 2 đoạn:

- Đoạn 1: Từ sau hồ Xuân Hương đến suối Phan Đình Phùng dài 1.090m. Suối được mở rộng có mặt cắt ngang hình chữ nhật 5 x 1m và hình thang với chiều cao H=2,5m; bề rộng mặt trên Bm = 15m; bề rộng đáy Bđ = 10m.

- Đoạn 2: Từ suối Phan Đình Phùng đến thác Cam Ly dài 1.060m. Suối được mở rộng có mặt cắt ngang hình chữ nhật 5 x 1m và hình thang với chiều cao H = 2,5m; bề rộng mặt trên Bm = 25m; bề rộng đáy Bđ = 20m.

Lòng suối được gia cố bằng kết cấu bêtông đúc sẵn kết hợp với khối xây đá chẻ. Hai bên bờ suối có hành lang bảo vệ, chiều rộng mỗi bên là 3 m. Dọc suối xây dựng 3 cầu giao thông nhỏ để phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 19 Lê Hồng Phong, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 063.3545579 - Fax: 063.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam