Skip navigation links
ĐỊA CHÍ ĐÀ LẠT
Lời giới thiệu
Phần thứ nhất
Chương I: Lược sử hình thành và Phát triển
Chương II: Truyền thống đấu tranh Cách mạng
Phần thứ hai
Chương I: Tự nhiên
Chương II: Dân cư
Phần thứ ba
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp
Chương II: Du lịch - Dịch vụ
Chương III: Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Chương IV: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phần thứ tư
Chương I: Văn học Nghệ thuật - Thiết chế Văn hóa và Báo chí
Chương II: Quy hoạch và Kiến trúc
Chương III: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ
Tổng luận
sadfasĐịa chí Đà Lạt > Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp (tt)
Chương I: Nông nghiệp - Lâm nghiệp (tt) 

 PHẦN THỨ BA
KINH TẾ

CHƯƠNG I: NÔNG NGHIỆP - LÂM NGHIỆP

NÔNG NGHIỆP

 

4.1.2 Giống hoa

Ngoài các loại đã phổ biến và trở thành các giống truyền thống của địa phương như lys trắng, glayơn, hoa hồng,… trong những năm 1990, các giống hoa đồng tiền (gerbera) cũng được di nhập vào Đà Lạt và trồng trọt nhiều ở vùng hoa Thái Phiên với các giống có màu đỏ đậm, đỏ lửa, vàng, hồng phấn,… Trong thời gian này có trên 25 giống hoa hồng được nông dân tự thử nghiệm tại vùng Cam Ly (phường 5) và đã chọn lọc được giống hoa hồng xanh, đỏ Ý, đỏ Hà Lan,….

Năm 1984, chương trình nghiên cứu về cây địa lan Đà Lạt (Cymbidium) được khởi động. Với kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật, hàng trăm ngàn cây địa lan cấy mô với các giống quý hiếm đã được nhân nhanh và phục vụ kịp thời cho nhu cầu giống của địa phương. Theo thống kê năm 1988 của Trạm nuôi cấy mô thực vật Đà Lạt (thuộc Ban Khoa học - Kỹ thuật Đà Lạt), vào thời điểm này, Đà Lạt có trên 250 giống địa lan Cymbidium nhập nội, có 9 loài tự nhiên với trên 25 biến chủng có giá trị về mặt di truyền, có thể làm nguồn ban đầu để lai tạo giống mới. Ngoài ra, Đà Lạt còn có khoảng 300 loài lan tự nhiên thuộc khí hậu nhiệt đới núi cao, có giá trị về mặt sưu tập khoa học và di truyền chọn giống, trong đó đáng kể nhất là các loài thuộc chi Dendrobium, Paphiopedilum, Coelogyne, Bulbophyllum,

Từ sau năm 1995, các giống hoa cắt cành mới được di nhập và thử nghiệm thành công đã góp phần làm phong phú thêm chủng loại hoa cắt cành tại địa phương. Ước tính đến đầu năm 2000, Đà Lạt có khoảng 60 giống cúc, 20 giống đồng tiền, 15 giống cẩm chướng, 10 giống hoa hồng, 4 giống ngàn sao và trên 10 chủng loại hoa khác.

Hoa lan là một trong những cây hoa đặc sắc, được trồng từ lâu. Đến những năm 1960, việc nhập nội đã mang lại cho Đà Lạt những chủng loại, giống hoa lan mới.

Các giống lan nhập nội vào Đà Lạt thuộc các chi: Cattleya, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Oncidium, Odontoglossum, Vanda, với trên 300 giống. Các giống Bengal Bay Golden Hue, Suva Royal Velvet, Sayonara Raritan, Balkis, Eliotte,… được nhập nội từ những năm 1960 cho đến nay vẫn còn được ưa chuộng và trồng khá nhiều tại các vườn lan.

Từ năm 2000, một số giống lan vùng nhiệt đới và á nhiệt đới cũng đã trồng thành công tại Đà Lạt như giống lai trong chi Hồ điệp (Phalaenopsis), Hoàng y Mỵ Nương (Oncidium), Lan nhện (Odontoglassum),…

Các loài lan nội địa cũng đã được sưu tập và trồng phổ biến tại Đà Lạt từ những năm 1940 cho đến nay. Các loài lan được ưa chuộng tại các vườn lan Đà Lạt là Long tu (Dendrobium primulinum Lindl.) Kim điệp (Den. chrysotosum Lindl. var. Delacourii Gagn.), Thủy tiên trắng (Den. farmeri Paxton.), Thủy tiên vàng (Den. thyrsiflorum Reichb.f.), Thủy tiên mỡ gà (Den. densiflorum Wall.), Long nhãn kim điệp (Den. fimbriatum Hook. var. oculatum Hook.), Giả hạc (Den. superbum Reich. in Walp.), Ý thảo (Den. gratiotissimum Reichb.f.), Các loại Lọng (Bulbophyllum sp.), Tuyết ngọc (Coelogyne psectrantha Gagn.), Hàm lân (Coelogyne lawrenceana Rolfe), Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana Bens. et. Reichb.f.), Tóc tiên (Vanda watsonii Rolfe), Cẩm báo (Vandopsis parishii (Veitsch) Reichb.f.), Huyết nhung (Renanthera imschootiana Rolfe.), Bò cạp (Renanthera evrardii Guillaum.), Hồ điệp (Phalaenopsis manii Reichb.f.), Vân hài (Paphiopedilum callosum Kerchove), Kim hài (Paphiopedilum villosum (Lindl.) Pfitz.), Hồng dâu (Aerides lawrenceana), Hạc đỉnh (Phajus tankervilleae (Ait.) Bl.).

 

Hình

Hoa glayơn (Gladiolus x Gandavensis Van Houte, Gladiolus communis L, họ Iridaceae). Hoa glayơn có nguồn gốc từ Trung Âu, Tây Á và Nam Phi, được trồng nhiều ở Đà Lạt vào khoảng năm 1955. Vùng sản xuất nhiều hoa glayơn của Đà Lạt là Trường Sơn, Xuân Thành, Tự Phước, Sào Nam,… và còn rải rác ở nhiều địa phương khác trong thành phố.

 

Hình

Giống glayơn trước đây có nhiều màu khác nhau:

- Màu trắng: Maria Goretti, Princesse des neiges.

- Màu vàng: Gold Dust, Hopman’s Glory , Vinks Glory.

- Màu đỏ: Johan Van, Pride of Holland, Sans Souci, Cardinal Spellman, Hawaii, Johan Strauss.

- Màu hồng: Spic An Span, Alfred Nobel, Jenny Lind, Picardie.

- Màu tím: Gustave Mahier, Mabel Violet, Memorial Day.

- Các loại khác; Polygone, Benares, Pactuolus, Gratia, Abu Hassan.

Giống glayơn nhập nội từ 1990 chủ yếu từ Hà Lan:

- Màu vàng: Marrakech.

- Màu đỏ: Dunkel Rot, Mozambique.

- Màu tím: Bleu-violet.

- Màu hồng: Bono’s Memory, Glorianda.

Giống hoa glayơn đang được trồng tại Đà Lạt là Carqueranne, T-609, Jackson Ville Gold, White Goddes; Oscar,…

Hoa glayơn có thể trồng quanh năm ở Đà Lạt nhưng không thể trồng lặp 2 vụ liên tiếp. Hàng năm Đà Lạt cung cấp cho thị trường trong nước khoảng 1,5 – 2 triệu cành hoa glayơn.

Hoa hồng (Rosa hybrida Hook., họ Rosaceae) được trồng ở Đà Lạt từ khá lâu. Năm 1958, nông dân Đà Lạt đã nhập các giống mới để khai thác hoa cắt cành. Những vùng trồng nhiều hoa hồng tại Đà Lạt là Nguyên Tử Lực, Thánh Mẫu, Thái Phiên, Vạn Thành, An Sơn, Quảng Thừa,… và rải rác ở nhiều khu vực khác.

 

Hình

Giống hoa hồng được trồng trong những năm 1960:

- Màu đỏ: Numéro un, Schweitzer, Rouge Meillend, Michele-Meillend, Hélène Valabrugne, Charles Mallerin, Brigitte Bardot, Brunner.

- Màu hồng: Caroline Testout, Betty Uprichard.

- Màu vàng: Québec, Mme A.Meilland, Hawaii, Diamont.

- Màu trắng: Reine des neiges, Sterling Silver.

- Hai màu: J.B. Meilland, Mme Dieytoné, Président Herbert Hoover.

- Giống làm rào trang trí: Primevière, Gloire de Dijon, Climbing, Caroline Testont, Étoile de Hollande,…

Giống hoa hồng được nhập nội trong những năm 1990:

- Màu đỏ: Grand Galla, Amadeus, Red Velvet.

- Màu vàng: Pailine, Alsmeer Gold.

- Màu trắng: Suprême de Meillend, Vivinne.

- Các màu khác : Sheer Bilss, Jacaranda, Troika,…

Các giống hoa hồng đang được trồng phổ biến tại Đà Lạt:

- Màu trắng : Eskimo, Bianca, Vanilla, Vendela.

- Màu vàng: Frisco, Golden Gate, Gold Strike, Sunbeam.

- Màu cam: Circus, Kiss Orange, Chesea.

- Màu hồng: Aquarius, Kiss Pink, Saphir, Arifa.

- Màu đỏ: Rode, First Red, Red Corvett, Sacha.

Hồng tỷ muội: Alegria, White Lydia, Sereno, Suncity, Macarena, Lydia, Lovely Lydia, Red Micado,...

Hiện nay kỹ thuật canh tác hoa hồng được nâng lên rất nhiều với việc tổ chức canh tác trong nhà có mái che, áp dụng kỹ thuật trồng trực tiếp không qua công đoạn ghép cành,… nên chất lượng hoa rất tốt và đáp ứng được yêu cầu của thị trường tiêu dùng. Hàng năm Đà Lạt cung cấp cho thị trường khoảng 80-100 triệu cành hoa hồng.

Hoa lys (Lilium longiflorum Thunb. họ Liliaceae). Hoa lys được trồng tại Đà Lạt từ năm 1940 với các giống gốc Pháp chuyển từ Hà Nội vào. Từ 1970, Đà Lạt đã nhập giống lys từ Hàn Quốc, Nhật Bản. Giống Nhật Bản có nhiều màu khác nhau nhưng chỉ có màu trắng là thích hợp và còn tồn tại đến nay.

 

Hình

Hiện nay có nhập thêm những giống lily (lys màu) như Corsage, Destiny, Sisi, Tiber, Sorbonne,… được trồng theo quy mô trang trại.

Vùng canh tác nhiều hoa lys của Đà Lạt là Xuân Trường, Sào Nam, Chi Lăng, Thái Phiên, Đa Thiện.

Hàng năm Đà Lạt cung cấp khoảng 15-20 triệu cành hoa lys, lily cho thị trường tiêu dùng trong nước.

Hoa cúc (Chrysanthemum sp., họ Asteraceae) được trồng làm cảnh tại Đà Lạt từ lâu nhưng thực sự trở thành sản phẩm kinh tế từ năm 1995. Cho đến nay có khoảng trên 70 giống hoa cúc được trồng với mục đích cắt cành tại Đà Lạt. Giống hoa cúc hiện nay chủ yếu xuất phát từ Hà Lan và du nhập vào Đà Lạt với nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay không thể xác định tên thương phẩm của từng chủng loại cúc được trồng tại Đà Lạt. Các giống cúc trồng tại Đà Lạt có thể chia theo các nhóm sau:

- Nhóm đại đoá:

Hoa đơn: Màu vàng, trắng, đỏ, tím đỏ. Hoa lớn 6-7cm, cánh kép. Giống hoa: Hibiki, Zembra.

Hoa chùm: Màu cam, vàng nghệ, vàng chanh, trắng... Hoa 4-5 cm, cánh kép. Giống hoa: Euro, Mona Lisa Yellow, Vesuvio Yellow, Fiji Orange.

- Nhóm hoa nhỏ:

- Cúc Tổ ong: Màu trắng, vàng, vàng nghệ, xanh két, đỏ đậm, tím...Nhụy dạng tổ ong, nhiều hoa. Hoa 2-2,5cm. Giống hoa: Jo Spithoven, Samos, Puma Sunny, Ibis Sunny.

Cúc Vạn thọ: Màu trắng, vàng, cam, đỏ. Cánh kép phân bố kiểu hoa vạn thọ. Hoa 3-5cm. Giống hoa: Feeling Grenn, Cheeks.

Cúc Pingpong: Màu trắng, vàng. Cánh kép. Hoa toả đều 3-5cm. Giống hoa: Pingpong Golden, Pingpong Super.

Cúc Cánh mai: Màu tím, hồng, đỏ, vàng nhạt, vàng đậm, vàng cháy, trắng, cam, cam đậm, nâu nhạt,… Hoa 1-2 lớp cánh. Nhụy dạng hoa marguerite. Hoa 2,5-3cm. Giống hoa: Wimbledon, Lineker Salomon, Lineker Amber, Lineker Yellow, Grand Splendid,…

- Cúc Cánh quỳ: Màu tím, vàng. Hoa 1 lớp cánh mỏng. Hoa 4-5cm. Giống hoa: Lineker Dark, Grand Salomon, Managua,…

- Nhóm cúc tia: Vesuvio, Vesuvio Yellow, Delianne Yellow, Shamrock, Biarritz, Sabrina,…

Diện tích canh tác hoa cúc cắt cành tại Đà Lạt đã gia tăng rất lớn trong những năm 1997-2000, chiếm khoảng 40-50% diện tích sản xuất hoa cắt cành của địa phương. Hoa cúc chủ yếu được trồng trong nhà che plastic và sản xuất quanh năm. Hàng năm Đà Lạt cung cấp cho thị trường tiêu dùng 300-350 triệu cành hoa cúc các loại.

Hoa cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L., họ Caryophyllaceae). Trước đây hoa cẩm chướng được trồng làm cảnh trang trí. Từ năm 1975 đã có sản xuất hoa cắt cành. Vùng sản xuất hoa cẩm chướng hiện nay là Vạn Thành, Thái Phiên, Nguyên Tử Lực, Đa Thiện, Phước Thành, Đa Quý,…

 

Hình

Hiện có khoảng trên 20 giống được trồng trọt với mục đích cắt cành. Các giống trồng trọt hiện nay được chia theo nhóm sau:

- Nhóm hoa chùm: Màu đỏ, hồng, trắng, kem,… Hoa nhỏ, cành thấp 30-40cm, mắt nhặt. Thời gian sinh trưởng 18-24 tháng. Giống hoa: Furore, Peachy Furore, Light Pink Barbara, Scarlet King, Barbara, Dark Pink Barbara, Windows, Ibriza, Bosanka, White Natalia, Optima, Andaluz.

- Nhóm hoa đơn: Màu đỏ, hoa lớn, cánh cao 70-80 cm, mắt thưa, ít chồi, thời gian sinh trưởng 15-18 tháng. Giống hoa : Tundra, Orange Tundra, Jamaica, Harlem, Essiana, Solo, Tessino, Scarlet Queen, Gaudina, Tahiti, Pink Dona,...

- Màu hồng, vàng, trắng, cam, kem, vàng viền đỏ, hồng viền tím, đỏ viền trắng, hồng viền trắng,… Hoa lớn, cành cao 65-75cm, mắt thưa, nhiều chồi, thời gian sinh trưởng 18-24 tháng.

Hoa cẩm chướng có diện tích canh tác không lớn, chủ yếu trồng trong nhà có mái che plastic. Hàng năm Đà Lạt cung cấp khoảng 0,3-0,5 triệu cành hoa cẩm chướng các loại.

Các loại hoa cắt cành khác

Hoa đồng tiền (Gerbera jamosonii Bolus et Hook., họ Asteraceae) là giống hoa được trồng khá phổ biến tại Đà Lạt trước 1975 với mục đích cắt cành, có nhiều màu khác nhau (vàng, cam, đỏ, hồng,…). Năm 1980 Đà Lạt có nhập thêm một số giống cánh kép từ Hà Nội. Từ 1997 đã nhập nội trên 20 giống của Hà Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, trong đó giống của Hà Lan cho chất lượng cao nhất với nhiều màu khác nhau. Giống hoa: Magarita, Atlas, Debora, Guadra, Orinoco, Red Bull, Lilabella, Sarinah, Samson, Margarita, Mandolin, Moonira, Golden Serena, Tambre, Popov, Maroussia, Jaska, Magnum, Janet, Amarou, Oilila, Miss Rebecca, Rosalin, Marathon. Marmara, Pleasure, Ilcarus, Duella, Essandre, Ave Maria, Thalassa, Viva,...

Hoa Ôlempơ (Gazon d’Olympe, Gerbera jamosonii Bolus et Hook., họ Asteraceae) thường gọi là Salem, là giống được trồng khá phổ biến tại Đà Lạt, thích hợp trồng trong vụ đông xuân hàng năm, xuất hiện tại Đà Lạt trước 1975. Hoa Ôlempơ có nhiều màu như hồng, vàng, tím, trắng, da cam,…

Sao tím, sao trắng (Limonium latifolium, họ Plumbaginaceae) được nhập vào Đà Lạt từ năm 1995, được dùng để trang trí kèm với các loại hoa khác.

Hoa hồng môn (Anthurium sp., họ Araceae) là giống hoa thường được dùng làm cảnh trước 1990 với các loại cơ bản là Tiểu hồng môn, Đại hồng môn và Môn trắng. Từ 1995 hoa hồng môn đã được trồng trọt với quy mô lớn nhằm mục đích cắt cành. Năm 1999 đã nhập nội khá nhiều giống với nhiều màu sắc và cấu trúc khác nhau. Giống hoa: Tropical, Safari, Amigo, Neon, Monet, Champion, Midori, Carnaval, Marshall, Dorado, Nexia, Acropolis, Fiorino.

 

Hình

Hoa cát tường (Eustoma grandifolium) là giống hoa mới được gây trồng tại Đà Lạt từ 1998. Năm 2005 đã gieo trồng trên 20 ha với các giống Saphire Pink, Avila Purple, Balboa White, Saphire Blue, Saphire White.

4.1.3 Atisô

Đà Lạt còn là địa phương nổi tiếng về cây dược liệu atisô.

Cây atisô (Cynara scolymus L., họ Compositae) là một loại cây trồng đặc sản của Đà Lạt, rất thích nghi với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của Đà Lạt và cho năng suất cao. Vùng trồng nhiều atisô ở Đà Lạt là Thái Phiên và Sào Nam.

Trước năm 1975, giống aitsô được trồng là Gros Vert de Laon, Violet Hâtif. Công tác nghiên cứu về giống atisô cũng đã được chú trọng từ sau năm 1985. Bên cạnh giống đã có trước năm 1975 đã trở thành giống địa phương, năm 1992 Phòng Nông nghiệp Đà Lạt đã tiến hành thử nghiệm thêm các giống mới nhập nội từ Pháp bao gồm Salanquet, Carizou, Violette. Các giống này đã được phóng thích ra sản xuất.

4.1.4 Cây ăn trái

Hồng ăn trái (Diospyros kaki L.f. họ Ebenaceae) được trồng tại Đà Lạt khoảng năm 1958. Các địa phương có diện tích trồng hồng nhiều là phường 3, 4, 9,10,11, Xuân Thọ, Xuân Trường.

Hiện nay ở Đà Lạt có các giống hồng phân biệt nhau qua hình dạng, màu sắc và chất lượng quả.

Hồng dòn, ngọt: Fuju Banchi, Chira, Matzumoto Wase Fuju, Sanji Maru, Ama Hyakuma, Koshyo,… (Nhật Bản).

Hồng chát: Hachiya, Hira Tanenashi Yocono, Nishi Suchi, Japan Long Square, Chiro (Nhật Bản), Oblong China, China Conical (Trung Quốc), Sakock Si, Tan Sung Si, Kichong Si, Chungda Banshi, Ky Ungean Banshi, Susi ( Triều Tiên), Fujusi (Úc), Saron (Israel),…

Những giống hồng chọn lọc từ các vườn hồng đã có trước đây: Hồng trứng Lốc, Hồng vuông Tám Hải,…

Mùa vụ thu hoạch hồng chính ở Đà Lạt từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm. Sản lượng hồng thu hoạch khoảng 4.500-5.000 tấn. Phần lớn là dùng ăn tươi, một lượng nhỏ dùng chế biến làm hồng khô, hồng ngâm và rượu hồng.

Cây mận (Prunus salicina Lindl., họ Rosaceae) được trồng trên cao nguyên Lang Biang khi thành lập nông trại Dankia. Cây mận được canh tác nhiều tại Trại Hầm, Trạm Hành và rải rác ở các nơi khác trong thành phố.

Các giống mận có trước 1975: Vân Nam xanh, Vân Nam đỏ, mận địa phương, Rine Claude, Rosa Saupa, Formosa, Puneau d’Autriche, Damas,… có nguồn gốc từ Trung Quốc, Pháp, Đài Loan, Áo.

Khoảng năm 1995, một số nông dân đã di thực giống mận Tam Hoa từ miền Bắc và trồng thử nghiệm thành công tại Đà Lạt. Cây mận Tam Hoa được ghép trên gốc đào cho kết quả rất tốt.

Mận Đà Lạt được dùng ăn tươi, làm mứt, xí muội, làm rượu,… Mùa mận chính của Đà Lạt từ tháng 3-6 hàng năm.

Cây đào (Prunus persica Stokes, họ Rosaceae) đã được trồng tại Đà Lạt từ lâu, hiện nay không có vùng nào chuyên canh đào nhưng hầu hết ở các địa phương trong thành phố đều có trồng đào.

Các giống đào có ở Đà Lạt là đào Ai Lao (Vạn Tượng), Vân Nam, Nectarine, Florida.

Sản lượng đào Đà Lạt không lớn, sản phẩm trái chỉ dùng để ăn tươi và một ít làm mứt. Tuy nhiên người dân Đà Lạt có tập quán dùng cành đào để chưng trong dịp Tết Nguyên đán hàng năm. Tháng 8 - 1997, ông Bùi Văn Lời đã di thực giống đào Nhật Tân về trồng tại Đà Lạt nhằm mục đích khai thác hoa phục vụ cho ngày Tết hàng năm.

Dâu tây (Fragaria Ananasssa Z, họ Rosaceae) là một loại cây ăn trái quan trọng của Đà Lạt.

Các giống trồng trước 1975 có nguồn gốc từ Pháp gồm: Fraisiers de quatre saisons, Vicomtesse Héricart de Thurty.

 

Hình

Madame Moutot: Quả rất lớn, màu đỏ tươi, thịt quả đỏ hồng, ít chua, vị ngọt, mùi thơm, năng suất khá cao.

Docteur Morère: Cây tốt, sinh trưởng và phát triển khá mạnh, quả lớn, tròn, màu đỏ đẹp, có kẻ giữa quả, thịt quả cứng và ngọt, có thể vận chuyển đi xa được.

Ngoài ra còn có các giống nhập từ Mỹ như Cambridge Latepine, Cambridge Favorite, Wiltgourd, Lolano, Shasta, Rival, Vigora, Fresno, Tahara và Lassen.

Các giống trồng sau 1975 được du nhập từ nhiều nguồn khác nhau như Đài Loan, Mỹ, Pháp,… Các giống mới có chất lượng cao, trái to, màu sắc đẹp, thơm: Selva, Caliso, Sequoita, Fan, Allstars, Ozare, Quinault.

Năm 1996, Công ty PAC Việt Nam đã liên doanh với Pháp, đưa vào thử nghiệm nhiều giống dâu tây như Angelique, Belrubi, Gorella, Selva, Tarma, Aliso, …

Trong những năm 2000-2001, các hộ chuyên canh dâu tây tại Đà Lạt vẫn trồng các loại dâu có xuất xứ không rõ ràng về nguồn gốc, được gọi chung là “Dâu Pháp” hay “Dâu Xuân Hương”. Các giống này được nhân giống bằng thân bò.

Năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu cây thực phẩm Đà Lạt đã nghiên cứu lai tạo chọn lọc và nhân giống 30 dòng dâu tây mới trên cơ sở các giống dâu tây đã trồng tại Đà Lạt.

Diện tích sản xuất dâu tây tại Đà Lạt năm 2005 đạt 110ha, với sản lượng thu hoạch trên 1.300 tấn.

Các loại cây ăn trái khác

Ngoài những giống cây ăn trái trên, Đà Lạt còn có những giống cây ăn trái mang nguồn gốc ôn đới như pom, lê. Các giống cây ăn trái được du nhập nhiều nhưng do không phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nên năng suất cũng như chất lượng sản phẩm không cao vì vậy không được chú ý phát triển.

Ngoài ra, một số giống cây ăn trái đã được trồng thử nghiệm tại Đà Lạt: mơ chùa Hương, quýt Địa Trung Hải,… Các giống cây ăn trái này sinh trưởng khá tốt, đã cho quả trên vùng đất này.

Một số giống ổi Thái Lan, bưởi Hà Nội, bưởi Năm Roi, sapôchê Mêhicô, mận Ấn Độ, bơ Úc, cam không hạt, quýt không hạt,… đã được trồng thử nghiệm và đang tiếp tục theo dõi khả năng sinh trưởng.

Nhiều giống cây ăn trái mới cũng đã được các tổ chức và cá nhân trồng trọt thử nghiệm, tiếp tục chọn lọc để hình thành bộ giống cây ăn trái cho Đà Lạt. Các thử nghiệm giống cây ăn trái được thực hiện từ 1995 và theo đánh giá bước đầu đã có trên 10 giống thuộc nhóm cây có múi tỏ ra thích hợp với điều kiện Đà Lạt.

4.1.5 Cây công nghiệp

Chè (Camellia sinensis (L.) O.Kuntze, họ Camelliaceae) là cây công nghiệp được trồng tại Đà Lạt vào năm 1922 khi thành lập đồn điền chè Cầu Đất với quy mô khai khẩn là 1.000 ha.

Sở trà Cầu Đất trong giai đoạn đầu do người Hà Lan khai phá, năm 1930 được giao cho công ty PIT (Plantation Indochinoise de Thé) của Pháp. Năm 1962 được chuyển giao cho Công ty Trà Việt Nam.

Sở trà Cầu Đất được chuyển giao qua nhiều giai đoạn và hiện nay thuộc quyền quản lý của Tổng Công ty Chè Lâm Đồng thực hiện cổ phần hóa năm 2005. Diện tích hiện nay là 245 ha.

 

Hình

Các giống chè được trồng tại Sở trà Cầu Đất trước 1975: chè Assam, Shan, Bạch Mao, Chè Tourane.

Các giống chè hiện nay:

- Giống chè Assam, Tourane: Năng suất thấp, khoảng 3-4 tấn/ha/năm.

- Giống chè Shan: Năng suất 6-7 tấn/ha/năm, được trồng mới từ năm 1987-1988.

- Giống chè TP14 và LĐ 97 là 2 giống chè cành của Trung tâm giống chè Bảo Lộc, được đưa vào trồng tại Nhà máy chè Cầu Đất từ năm 1997. Năng suất 12-14 tấn/ha/năm.

- Chè Ô Long gồm các giống: Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Tứ Quý, Ô Long thuần,… do một số công ty nước ngoài đầu tư trồng từ năm 1998 tại Xuân Trường. Đến năm 2005, diện tích cây chè Ô Long đã đạt đến 214 ha.

Chè Cầu Đất được đánh giá là chè có chất lượng rất cao, được chế biến thành chè đen, chè xanh, chè cao cấp (Ô Long) phục vụ cho xuất khẩu.

Cà phê chè (Coffea arabica L., họ Rubiaceae). Cây cà phê được nhập nội và trồng tại Việt Nam vào khoảng năm 1850 và bắt đầu trồng ở Tây Nguyên vào khoảng năm 1925. Tại Đà Lạt, cây cà phê được trồng vào khoảng năm 1930. Các địa phương trồng đầu tiên là Xuân Trường, Trại Hầm, từ đó bắt đầu mở rộng sang các vùng khác.

Đối với cây cà phê, ngoài các giống truyền thống, năm 1986, công tác chọn lọc đã được thực hiện và đã di nhập về địa phương các giống cà phê có tính kháng bệnh như Portugual, Catura, Catimore,…

Giống cà phê được trồng chủ yếu tại Đà Lạt là các giống cà phê chè với các chủng:

- Coffea arabica L. var. Typica: Được thay thế bởi các giống có chất lượng cao hơn.

- Coffea arabica L. var. Bourbon: Cây thấp, phân cành mạnh, hạt nhỏ, vị thơm ngon.

- Coffea arabica L. var. Catura: Thân lùn, sai quả, năng suất cao, chống chịu tốt, hạt nhỏ, phẩm chất thường.

- Coffea arabica L. var. Mokka: Thân nhỏ, năng suất thấp nhưng thơm ngon đặc biệt.

Trong những năm gần đây chủng cà phê Catimore được gây trồng rộng rãi, cây thấp, phân cành mạnh, hạt lớn, thời gian thu hoạch sớm.

Ngoài các giống cà phê trên, Đà Lạt còn có một địa phương canh tác cà phê Robusta là xã Tà Nung.

Hiện nay, Đà Lạt có trên 3.000 ha cà phê với sản lượng thu hoạch hàng năm khoảng 5.000 tấn nhân.

4.1.6 Cây lương thực

Lúa: Đà Lạt không có nhiều diện tích canh tác lúa. Các vùng sản xuất lúa chính là ở Măng Lin (phường 7) và xã Tà Nung.

Hiện nay diện tích canh tác lúa tại Măng Lin (ruộng lớn, ruộng nhỏ của đồng bào dân tộc) đã được chuyển đổi sang sản xuất rau hoa. Phần diện tích còn lại vẫn sản xuất lúa nước với các giống truyền thống của đồng bào dân tộc ở Tà Nung. Giống lúa của đồng bào dân tộc có các loại: Koi Kòn (4 tháng), Koi Me (6, 7 tháng). Các giống lúa mới như Nhị Ưu, Thần Nông,… được đưa vào sản xuất từ những năm 1998-2000.

Bắp: Cây bắp ở Đà Lạt có diện tích canh tác không lớn. Các giống bắp của đồng bào dân tộc cũng là những giống truyền thống như bắp nếp, bắp đá. Các giống mới như DK-888, DK-999 cũng được sử dụng phổ biến từ những năm 1995.

Chuối nước (giong riềng) trong những năm 1975-1990 là cây lương thực quan trọng, dùng để lấy bột, hiện ít được trồng.

Khoai lang là cây lương thực quan trọng của địa phương trong những năm 1975-1985. Các giống khoai lang được du nhập từ các địa phương khác gồm có giống vỏ trắng ruột trắng, vỏ trắng ruột vàng, vỏ đỏ ruột vàng, vỏ đỏ ruột trắng, vỏ vàng ruột vàng,… giống khoai lang Mỹ, khoai lang Dương Ngọc vỏ trắng ruột tím nhạt,…

Hiện nay khoai lang ít được trồng trọt do giá trị kinh tế không cao bằng các loại cây trồng khác và chủ yếu được trồng trên đất đồi dốc trong mùa mưa hàng năm.

1.2 Động vật nuôi

4.2.1 Giống bò

Trước năm 1975, ngoài giống bò ta được nuôi rải rác ở các địa phương vùng ven như Cam Ly (phường 5), An Bình (phường 3), Đa Phú (phường 7), Trại Hầm (phường 10),… Đà Lạt còn có các giống bò nhập từ nước ngoài :

Bò Jersey là giống bò sữa, có khoảng 10-15 con được chăn nuôi tại phường 9, mức độ khai thác sữa bình quân 5-7 lít/con/ngày. Đây là giống bò được nhập nội từ Pháp thông qua Trung tâm bò sữa Cái Sắn. Bò Jersey có tầm vóc nhỏ, được nuôi theo phương thức chăn thả.

Bò Hà Lan thuần chủng do Sở Nông nghiệp Lâm Đồng nhập từ Trung tâm giống Ba Vì đưa về nuôi trong các hộ gia đình tại các phường 7, 8, 9, 10,… Đây là giống bò sữa cao sản. Từ 1983-1989, đàn bò có 200 -250 con.

Bò Hà Lan F1 là kết quả lai giữa bò vàng Phú Yên, bò lai Sind được phối giống Hà Lan. Bò Hà Lan F1 có cơ cấu đáng kể trong đàn bò sữa của thành phố Đà Lạt. Bò có màu lông đen pha trắng hoặc đen tuyền. Năng suất sữa 10-12 lít/ngày.

Từ năm 2001-2005, với chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, Đà Lạt đã nhập nội 103 con bò sữa Hostein Freisian từ Úc và 3 con bò sữa HF cao sản từ Mỹ. Năng suất sữa của bò sữa nuôi tại Đà Lạt thời điểm này đạt 5.800-6.000 kg/con/chu kỳ.

Bò lai Sind là kết quả của sự lai giống giữa bò ta và tinh phối giống Sind. Bò lai Sind được cải thiện tầm vóc, con cái trưởng thành có trọng lượng trên 200 kg.

4.2.2 Giống lợn

Đàn lợn cũng được đầu tư về con giống để cải tạo chất lượng. Ngoài giống lợn Yorkshire, sau năm 1975, Đà Lạt đã nhập thêm các giống mới từ Thành phố Hồ Chí Minh như giống lợn Danish Landrace, Duroc, Pietrain,… Các giống lợn trong nước cũng được đưa vào Đà Lạt từ năm 1978 như lợn Quảng, lợn Móng Cái,…

Yorkshire trước 1975 được nuôi chủ yếu ở Trại lợn (phường 8) và Trại gà Scala. Lợn Yorkshire có 2 giống Yorkshire Large White và Yorkshire Middle White. Sau 1975, giống lợn này được chăn nuôi nhiều tại Đà Lạt với nguồn giống từ các trại chăn nuôi của Thành phố Hồ Chí Minh.

Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, được chăn nuôi tại Đà Lạt sau năm 1975.

Duroc được chăn nuôi với mục tiêu cải thiện chất lượng đàn lợn của địa phương theo hướng nạc. Giống Duroc được nuôi chủ yếu là con đực giống để phối trực tiếp và lấy tinh lai với giống Yorkshire và Landrace.

Ngoài các giống lợn ngoại trên, từ năm 1999, thành phố Đà Lạt còn du nhập thêm các giống lợn cao sản khác năm 1999-2000 như giống Pietrain, Pi-York,… để phục vụ cho công tác thụ tinh nhân tạo.

Lợn ta còn gọi là giống lợn Quảng, có nguồn gốc từ Quảng Ngãi, được nuôi nhiều từ 1976-1990, nhưng vì chất lượng thịt không cao, nhiều mỡ nên những năm gần đây ít được chăn nuôi.

Lợn Móng Cái, lợn Ỉ được nuôi trong những năm 1976-1982, du nhập từ Bình Định. Mục đích chăn nuôi là cho lai với lợn ngoại để cải thiện giống. Màu lông đen, mõm dài, tăng trọng trung bình.

Ngoài các giống lợn nội trên, các vùng dân tộc ít người của địa phương còn nuôi giống lợn đen địa phương theo phương thức thả rong.

4.2.3 Giống gà

Trước 1975, ngoài các giống gà ta nuôi rải rác trong các hộ gia đình, Trại gà Scala tổ chức chăn nuôi các giống gà ngoại để thử nghiệm như giống Egnia, Babooe, Across, Hubbard, Leghorn, New Hampshire, Rhode Island,… Sau năm 1975 có các giống gà Goldline, Isabrown, Brown Nick, Hy-Line, Tam Hoàng, A.A, CP-Brown, Lương Phượng,…

Gà ta: Lông màu vàng đỏ, nhỏ con, trọng lượng bình quân 1,4-1,5 kg. Gà mái đẻ 40-60 trứng/năm.

Gà Tam Hoàng nhập từ phía Bắc, là giống gà Trung Quốc lai với gà Việt Nam. Lông màu vàng đỏ, da vàng. Trọng lượng bình quân 2,2-2,4 kg. Gà mái đẻ 80-100 trứng/năm.

Gà Leghorn: Màu lông trắng, trọng lượng trung bình 1,2-1,4 kg, là giống gà lấy trứng. Gà mái đẻ 200-210 trứng/năm.

Gà New Hampshire có nguồn gốc từ Mỹ. Màu lông vàng đỏ, da trắng. Gà mái đẻ 180-200 trứng/năm.

Gà Goldline, Isabrown, Brown Nick là những giống gà đẻ trứng màu vàng. Màu lông vàng sậm, vàng đỏ. Năng suất 200 - 220 trứng/năm.

Gà A.A, Hubbard, CP-Brown là những giống gà thịt, sau 11 tuần tuổi có trọng lượng 1,6-2,2 kg/con.

4.2.4 Giống thỏ

Trước 1975, thỏ được nuôi với mục đích cung cấp cho các hoạt động nghiên cứu của Viện Pasteur. Sau 1975, thỏ trở thành một giống vật nuôi quan trọng trong cơ cấu kinh tế hộ gia đình. Phong trào nuôi thỏ phát triển mạnh trong những năm 1976-1980.

Giống thỏ được nuôi chủ yếu ở Đà Lạt là giống New Zealand, màu lông trắng, lông dầy, mắt đỏ. Con trưởng thành có trọng lượng 4,5-5 kg, mỗi năm đẻ 5-6 lứa.

4.2.5 Giống ngựa

Ngựa cỏ: Màu lông đỏ pha đen xám, bụng to, tầm vóc nhỏ, dùng để kéo xe.

Ngựa lai có nguồn gốc từ ngựa thải của trường đua Phú Thọ, được nuôi với mục đích phục vụ du lịch.

5. CÔNG TÁC ỨNG DỤNG KHOA HỌC – KỸ THUẬT

 5.1 Các biện pháp cải tạo đất

Trước năm 1975, quy mô sản xuất nông nghiệp Đà Lạt ngày càng tăng từ vài chục ha năm 1940 lên đến hàng ngàn ha trồng rau hoa vào những năm 1970, ngành sản xuất rau hoa Đà Lạt đã áp dụng nhiều biện pháp canh tác mới vào sản xuất.

 

 

Hình

 Do địa hình đồi dốc và bị phân cắt mạnh, để tránh xói mòn và thuận lợi cho trồng trọt, nông dân đã thực hiện việc san gạt để lấy mặt bằng sản xuất. Theo các tài liệu nghiên cứu về sản xuất rau hoa tại Đà Lạt, việc san gạt đất đồi thành các băng đất được tính theo độ dốc, đất có độ dốc 10% thì cao độ giữa 2 băng đất là 1,37m và chiều rộng của băng đất là 30m. Tuy nhiên, trên thực tế, người nông dân chỉ ước lượng và san gạt các băng đất cho “vừa mắt”. Với những vùng đất thung lũng thường bị ngập úng, việc khai mương tháo nước, đắp bờ và trồng cỏ để giữ bờ cũng được tổ chức thực hiện.

Theo kết quả phân tích đất, đất Đà Lạt kém dinh dưỡng khoáng tự nhiên. Do đó, trong quá trình canh tác, các loại phân bón đã được sử dụng khá nhiều. Trong thời gian đầu, việc sử dụng phân xác mắm, phân bắc, phân khô dầu, phân chuồng đã được sử dụng khá phổ biến trong canh tác rau cải. Việc đổ bồi thêm đất mới qua vài vụ canh tác cũng đã được áp dụng từ những năm trước 1970 nhằm cải thiện đất canh tác.

Từ sau 1975, các biện pháp cải tạo đất bằng phân bón hữu cơ, phân chuồng hoai mục, phân vi sinh đã được khuyến khích phát triển.

 5.2 Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác

Trước đây việc sản xuất rau cải tại Đà Lạt một thời gian dài hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các cư dân nhập cư từ miền Bắc và miền Trung.

Trước năm 1975, các nghiên cứu về sản xuất rau cải của Đà Lạt hầu hết đều do Trung tâm Thực nghiệm Rau Hoa Đà Lạt tổ chức thực hiện, nhưng hầu như chỉ tập trung vào công tác giống. Các biện pháp canh tác chưa được chú trọng nhiều. Các kỹ thuật được áp dụng trong giai đoạn này chủ yếu là thay đổi công cụ sản xuất từ thô sơ sang một phần cơ giới.

Báo cáo đánh giá về tình hình bệnh lý khoai tây tại vùng cao nguyên và những đề nghị đối phó năm 1965 đã xác định bệnh “chết gục” do vi khuẩn Corynebacterium sepedonicum; Pseudomonas solanacearum gây bệnh héo nâu, bệnh đốm lá do Alternaria solani; bệnh nám lá chân do Erwinia phytophtora hoặc Bacillus atrosepticus, bệnh ghẻ ngoài da khoai tây do Streptomyces scaboes, bệnh cháy lá do Phytophtora infestans, bệnh do vi khuẩn Rhizoctonia solani, bệnh tuyến trùng (Nématodes),… Báo cáo cũng đã đề nghị một số biện pháp đối phó với tình hình bệnh lý trên như khử trùng khoai giống, khử trùng dao cắt, khử đất, chọn giống, trồng luân canh, các biện pháp lưu trữ.

Báo cáo về thí nghiệm trồng hành tây tại Việt Nam của chuyên viên Trung Hoa với các giống Texas Early Grano-502, Granex, Excel Bermuda 986, White Crystal Wax đã chọn lọc được giống thích hợp là Texas Early Grano-502 và Granex. Báo cáo thí nghiệm cũng đề cập đến kỹ thuật gieo giống, kỹ thuật trồng trọt và lưu trữ sản phẩm.

Theo báo cáo khảo sát dâu tây năm 1967, Đà Lạt có các giống Madame Moutot, Docteur Morère. Các giống đang được thử nghiệm tại Trung tâm Rau hoa Đà Lạt là Cambridge Latepine, Cambridge Favorite, Wiltgourd, Torrey Jine, Solano, Shasta, Rival, Vigora, Fresno, Tahara, Florida và Lassen.

Sau năm 1975, tại Xí nghiệp giống rau hoa Đà Lạt, công tác nghiên cứu thực nghiệm về giống cây trồng và thử nghiệm các biện pháp canh tác mới đã được triển khai khá rộng rãi với nhiều cơ quan chức năng tham gia.

Kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật được thực hiện tại Đà Lạt từ năm 1978. Đến năm 2000, kỹ thuật này đã trở thành một kỹ thuật quan trọng trong việc nhân và cung cấp giống cây trồng sạch bệnh cho vùng nông nghiệp Đà Lạt. Theo thống kê của ngành chuyên môn, năm 2005, Đà Lạt có 28 phòng thí nghiệm nuôi cấy mô thực vật do các cơ sở nghiên cứu khoa học và cơ sở sản xuất giống của tư nhân đầu tư với 127 box cấy mô. Hàng năm, các cơ sở cấy mô này đã cung cấp cho thị trường giống rau hoa Đà Lạt trên 6 triệu cây giống sau ống nghiệm sạch bệnh.

 

Phòng nuôi cấy mô thực vật

 

Năm 1988-1990, chương trình nghiên cứu phát triển cây dược liệu atisô được thực hiện nhằm mục đích phát triển cây dược liệu đặc sản của Đà Lạt.

Năm 1995, công tác nghiên cứu về sản xuất rau an toàn trên địa bàn thành phố Đà Lạt đã được thực hiện với chương trình sản xuất thử nghiệm tại xã Lát (Lạc Dương). Từ năm 1996 đến năm 2001, chương trình nghiên cứu về sản xuất rau thương phẩm chất lượng cao, phù hợp với các tiêu chuẩn rau an toàn của FAO/WHO, đã được triển khai thành công tại Đà Lạt và đã xây dựng được các quy trình sản xuất rau an toàn tại Đà Lạt cho các giống rau chủ yếu của Đà Lạt (cải bắp, cải Bắc thảo, khoai tây, cà rốt, đậu Hà Lan, pố xôi, cần tây, poarô hành), chương trình được thực hiện dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh Lâm Đồng với sự tham gia của các cơ quan: Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Nghiên cứu Cây Thực phẩm, Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật Nông nghiệp Đà Lạt, Phòng Công Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đà Lạt.

 

 

Sản xuất rau mầm hữu cơ

 

Thành phố Đà Lạt đã đầu tư cho công tác nghiên cứu xác lập các quy trình sản xuất hoa ngắn ngày của địa phương như cúc, cẩm chướng (năm 1997-1998), quy trình sản xuất hoa hồng, glayơn, lys,… (năm 1999), quy trình trồng lan gấm (1998).

Năm 2003, đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất theo hướng công nghiệp do Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa phối hợp với Trung tâm Nông nghiệp Đà Lạt thực hiện.

Song song với chương trình nghiên cứu ứng dụng các quy trình canh tác mới, các ứng dụng về kỹ thuật sản xuất rau hoa trong nhà có mái che, kỹ thuật tưới nước theo các phương pháp mới (tưới thấm, nhỏ giọt,…), kỹ thuật sử dụng phân bón và biện pháp bón phân, kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý và an toàn, chương trình phòng chống dịch hại tổng hợp IPM, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng công nghệ cao, bảo vệ môi trường sinh thái đã được áp dụng trên các vùng sản xuất nông nghiệp của Đà Lạt.

6. HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC HỢP TÁC XÃ

6.1 Thời kỳ trước năm 1975

Trong quá trình phát triển ngành sản xuất rau cải Đà Lạt, để hỗ trợ nông dân trong việc kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm rau cải, chính quyền chế độ cũ đã cho phép thành lập Hợp tác xã rau Đà Lạt.

Hợp tác xã rau Đà Lạt thành lập ngày 23-1-1958 với mục đích quy tụ và đưa nhà vườn vào một tổ chức để bảo vệ quyền lợi trên hai mặt chính là quyết định giá bán rau và cung cấp vật tư nguyên liệu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, loại bỏ giới trung gian thương mại dưới các hình thức cá nhân hay xí nghiệp.

Trong quá trình hoạt động, Hợp tác xã rau Đà Lạt đã thoả thuận với Nghiệp đoàn chủ vựa Cầu Muối những điều khoản để bảo đảm quyền lợi cho nhà vườn tại Đà Lạt như:

- Hợp tác xã có toàn quyền thu mua rau cải của nông dân là xã viên hợp tác xã. Điều này có mục đích loại bỏ người trung gian tại chỗ.

- Hợp tác xã bán rau trực tiếp cho các chủ xe với giá do hợp tác xã ấn định. Việc vận chuyển và buôn bán tại các thị trường tiêu thụ là quyền của các chủ xe.

- Hợp tác xã có chi nhánh tại Sài Gòn, đó là vựa buôn bán của hợp tác xã.

Tuy nhiên, các thoả thuận trên đây chỉ có hiệu lực trong năm 1958, sau đó tình trạng thu mua và kinh doanh rau cải Đà Lạt cũng đi vào bế tắc do nhiều nguyên nhân mà quan trọng nhất là vấn đề không thống nhất trong tập thể xã viên hợp tác xã.

Bên cạnh Hợp tác xã rau Đà Lạt, còn có một số hợp tác xã khác cũng được hình thành.

Hợp tác xã Nông nghiệp Thánh Mẫu hình thành và hoạt động trong một thời gian ngắn rồi ngưng lại do Ban Quản trị không có kinh nghiệm điều hành.

Hợp tác xã Nông nghiệp Đa Thiện - Nghệ Tĩnh hình thành với mục tiêu thành lập 60 quầy bán rau cải dành cho xã viên, xây dựng kho lạnh dự trữ nông sản, ký kết hợp đồng trực tiếp với các siêu thị không qua giới trung gian thương mại. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức hoạt động, hợp tác xã này chỉ dừng lại ở hoạt động kinh doanh phân bón, nông cơ nông cụ và cung cấp cây giống cho xã viên. Các dự tính kinh doanh và tiêu thụ nông sản không tổ chức thực hiện được.

Nhìn chung, trong thời gian này không có tổ chức nào hỗ trợ được người nông dân trong lĩnh vực kinh doanh rau cải.

6.2 Thời kỳ sau năm 1975

Từ năm 1975, sản xuất nông nghiệp Đà Lạt, như đã nêu, đi vào phương thức kế hoạch hoá tập trung. Trong các năm 1976-1980, công tác hợp tác hoá nông nghiệp được triển khai một cách mạnh mẽ.

Trong giai đoạn 1975-1985, với phương thức sản xuất theo kế hoạch hoá tập trung, diện tích canh tác và sản lượng nông sản thu hoạch được phân bổ và thu mua theo kế hoạch của Nhà nước. Do những biến động chung của xã hội, đến năm 1984, Đà Lạt chỉ còn 9 hợp tác xã nông nghiệp, 65 tập đoàn sản xuất và 5 tổ đoàn kết sản xuất với 3.082 hộ và 5.738 lao động.

Năm 1977, thành lập được 147 tổ sản xuất tập thể và 1 tập đoàn sản xuất (Tự Phước). Sản xuất nông nghiệp được thực hiện theo kế hoạch đến từng khóm dân cư, việc thu mua rau do Công ty Nông sản Thực phẩm và Công ty Ngoại thương đảm nhận.

Năm 1978, xây dựng được 1 hợp tác xã nông nghiệp, 7 tập đoàn và 6 tổ sản xuất rau cải với 3.586 hộ nông nghiệp tham gia, tổ chức sản xuất 1.076 ha rau cải, 179 ha cây lương thực. Bên cạnh đó cũng đã xây dựng được 6 tập đoàn sản xuất lương thực với 479 hộ và 171 ha đất canh tác tại các khu kinh tế mới.

Tháng 9-1979, các tập đoàn, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được hình thành trên tất cả các vùng sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian này, Đà Lạt đã hình thành được 3 hợp tác xã nông nghiệp, 81 tập đoàn sản xuất và 9 tổ đoàn kết sản xuất với 5.962 hộ nông nghiệp, 28.118 nhân khẩu (8.989 lao động); tổ chức quản lý sản xuất 1.899 ha rau cải với 140 máy cày, 1.873 máy bơm dầu, 1.106 máy bơm xăng, 110 môtơ.

Năm 1984, Đà Lạt có 65 tập đoàn sản xuất, 9 hợp tác xã nông nghiệp và 5 tổ đoàn kết sản xuất với 3.082 hộ, 5.738 lao động.

Do tổ chức sản xuất theo cơ chế bao cấp nên đã bộc lộ những yếu kém nhất định do công tác quản lý tập trung. Năm 1988, các tập đoàn sản xuất cũng như các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt hầu hết đều ngừng hoạt động và tự tan rã, phần lớn đất sản xuất đã được giao khoán đến từng hộ. Thời điểm này Đà Lạt còn 9 hợp tác xã nông nghiệp, 46 tập đoàn sản xuất, hình thành được 13 tổ đoàn kết sản xuất với 3.572 hộ và 5.876 lao động, tổ chức quản lý sản xuất trên 562 ha rau các loại.

Chương trình hợp tác hoá nông nghiệp trong giai đoạn 1975-1988 đã đạt được một số kết quả nhất định như đã xây dựng được các công trình điện, công trình thủy lợi, giao thông theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm, một số công trình phúc lợi xã hội như nhà trẻ, nhà văn hoá cũng đã được xây dựng.

 

 

Hình

Đến năm 1997, Thành phố Đà Lạt còn 9 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhưng hầu hết các đơn vị này không hoạt động, các tập đoàn sản xuất đã tự tan rã. Theo thống kê, toàn thành phố Đà Lạt còn 9 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Thực hiện Luật Hợp tác xã mới và Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ Lâm Đồng về việc xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác, đến hết năm 1999 đã chuyển đổi, đăng ký mới 2 hợp tác xã (HTX Tự Phước, phường 11 và HTX Đa Thiện, phường 8), giải thể 1 hợp tác xã (HTX An Sơn, phường 4).

Năm 2000 tiếp tục vận động thành lập 4 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTX Lạc Thành, HTX Phú Thịnh, HTX Cà phê Xuân Trường, HTX Nam Thiên). Các hợp tác xã kiểu cũ tiếp tục tiến hành các thủ tục giải thể theo luật định.

Các hợp tác xã chuyển đổi và thành lập mới đã bắt đầu đi vào hoạt động với cơ chế kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện các dịch vụ nông nghiệp, một số hợp tác xã không tuân thủ đúng nguyên tắc theo pháp lệnh kế toán, thống kê, chưa thích nghi với những hoạt động trong cơ chế thị trường, không có những thay đổi phương thức hoạt động cho thích hợp nên kết quả hoạt động không đạt được mục tiêu đề ra trong phương án thành lập ban đầu. Đến cuối năm 2001 đã giải thể bắt buộc 3 đơn vị.

Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001, Đà Lạt có 4 hợp tác xã nông nghiệp (HTX Lạc Thành, HTX Phước Thành, HTX Tự Phước, HTX Đa Thiện) với 621 xã viên, tổng số vốn 3,1 tỷ đồng (bình quân mỗi hợp tác xã là 775 triệu đồng), trong đó vốn chủ sở hữu là 1,74 tỷ đồng. Tổng giá trị sản phẩm bán ra trong năm là 954 triệu đồng (bình quân mỗi hợp tác xã 238 triệu đồng), hợp tác xã lãi 109 triệu đồng (bình quân mỗi hợp tác xã lãi 27,2 triệu đồng).

Về các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp, năm 2001 thành phố Đà Lạt có 18 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có 3 doanh nghiệp nhà nước, 1 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, 2 doanh nghiệp cổ phần không có vốn nhà nước, 5 công ty trách nhiệm hữu hạn, 1 doanh nghiệp tư nhân và 6 đơn vị có 100% vốn nước ngoài. Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp gồm có 15 đơn vị trồng trọt, 2 đơn vị chăn nuôi và 1 đơn vị kinh doanh dịch vụ. Tổng số lao động trong 18 doanh nghiệp là 700 người lao động.

Tháng 9-2002, Hiệp hội rau quả Đà Lạt được thành lập với 92 thành viên đăng ký làm hội viên thuộc các lĩnh vực sản xuất rau quả, chế biến, kinh doanh nông sản trên địa bàn thành phố Đà Lạt và các vùng lân cận. Mục đích hoạt động của Hiệp hội rau quả Đà Lạt là ổn định sự phát triển của các ngành nghề thuộc lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ nông sản; hợp tác và hỗ trợ nhau để giữ vững và nâng cao chất lượng nông sản, phối hợp nghiên cứu cơ cấu cây trồng phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng Đà Lạt và yêu cầu của thị trường tiêu thụ nhằm mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm và ổn định sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, làm tốt nghĩa vụ với nhà nước, cùng chia xẻ và hỗ trợ nhau trong những khó khăn.

Tháng 10-2006, Hiệp hội hoa Đà Lạt được thành lập theo Quyết định số 2885/QĐ-UBND ngày 9-10-2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng với 84 hội viên. Mục đích của hiệp hội là ổn định, phát triển ngành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên hiệp hội, làm tốt nghĩa vụ với nhà nước, chia sẻ và hỗ trợ nhau trong hoạt động. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu là sản xuất, kinh doanh sản phẩm hoa và các dịch vụ liên quan đến sản phẩm hoa, phối hợp nghiên cứu nhằm đa dạng hoá sản phẩm, ổn định sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ, thảo luận và hoạch định những vấn đề phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoa. Hiệp hội có phạm vi hoạt động trên toàn địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

7. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TRANG TRẠI

Tại Đà Lạt loại hình kinh tế trang trại hình thành vào những năm 1950-1960 do dân di cư từ các miền đất nước đến, lập nên các điền trang để trồng các loại cây đặc sản và chăn nuôi đại gia súc với quy mô và số lượng không lớn.

Sau 1975, bên cạnh các nông trường, xí nghiệp nông nghiệp (kinh tế quốc doanh), hợp tác xã nông nghiệp (kinh tế tập thể) vẫn còn tồn tại các điền trang tư nhân cũ.

Năm 1988, tác động của nền kinh tế thị trường đã giúp các hộ nông nghiệp có điều kiện đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, hình thành nên các trang trại mới và phát triển nhanh các điền trang hiện còn. Hiện nay, các trang trại theo thành phần kinh tế quốc doanh không còn tồn tại mà chủ yếu là các trang trại thuộc thành phần kinh tế tư nhân.

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001, Đà Lạt có 14 trang trại thuộc các phường 3, 4, 7, 8, 12 và xã Xuân Trường, trong đó có 3 trang trại trồng hoa và 11 trang trại chăn nuôi. Tổng số lao động trong 14 trang trại là 84 người. Tổng vốn đầu tư của các trang trại trên là 5,68 tỷ đồng (vốn của trang trại chiếm 85,3%), bình quân mỗi trang trại đầu tư 406 triệu đồng. Tổng giá trị hàng hoá bán ra trong năm đạt 3,6 tỷ đồng. Tổng thu nhập 797 triệu đồng, bình quân mỗi trang trại thu nhập 56,9 triệu đồng/năm.

Do điều kiện tự nhiên chi phối nên diện tích đất canh tác tại Đà Lạt bị hạn chế, phần lớn do các hộ tự khai hoang trước đây và gia tăng diện tích thông qua việc sang nhượng. Một số khác nhận giao đất, giao rừng và tận dụng các vùng trũng, khe suối để sản xuất. Chính vì thế, để có thể phát huy tiềm năng đất đai và gia tăng thu nhập, các chủ trang trại tại Đà Lạt đã chú trọng vào đầu tư thâm canh, đi sâu vào lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tận dụng diện tích đất có được để trồng cây đặc sản có giá trị, kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm và tổ chức các loại hình chế biến sản phẩm sau thu hoạch để nâng cao giá trị mặt hàng.

Các chủ trang trại tại Đà Lạt xuất thân từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau, có trình độ văn hoá từ cấp 2 đến đại học và trên đại học, có khả năng quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm nuôi trồng phù hợp với từng loại cây, con, ngành nghề mình kinh doanh.

Về phân công lao động trong các trang trại, các chủ trang trại vừa làm chức năng

quản lý vừa trực tiếp tham gia lao động. Số lao động thường xuyên tại các trang trại chủ yếu là lao động gia đình, một số lao động thuê mướn được trả công theo chế độ công nhật hoặc khoán. Hợp đồng giữa chủ trang trại và người lao động chủ yếu là hợp đồng miệng và ít có trường hợp tranh chấp xảy ra.

Nguồn vốn đầu tư ban đầu đưa vào sản xuất kinh doanh tại các trang trại chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất. Vốn đầu tư chủ yếu là nguồn tích luỹ của hộ gia đình. Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động chủ yếu là phương thức thủ công và bán thủ công. Trong những năm gần đây, một số ít trang trại đã bắt đầu có trang bị hệ thống tưới hiện đại và các máy cơ khí nhỏ như máy phay, máy phun xịt thuốc sâu, máy nghiền thức ăn gia súc,…

Sản phẩm làm ra của các trang trại hiện nay còn phụ thuộc vào sự điều tiết của thị trường và thường xuyên không ổn định nên đã gây ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trồng trọt và chế biến nông sản.

Mô hình kinh tế trang trại hiện nay tại Đà Lạt phát triển khá ổn định và có hiệu quả là mô hình trang trại vừa và nhỏ trong phạm vi gia đình. Nó phù hợp với khả năng quản lý của hộ gia đình, nguồn vốn đầu tư hợp lý cũng như tự giải quyết được vấn đề tiêu thụ sản phẩm, hạn chế được rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Chương I : Nông nghiệp - Lâm nghiệp (tt) >>

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 19 Lê Hồng Phong, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 063.3545579 - Fax: 063.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam