Xã Hà Đông 
New Page 4

1. Thông tin cơ quan :

- Tên cơ quan                   : UBND xã Hà Đông

- Địa chỉ                           : Thôn 2 – Hà Đông – Đạ Tẻh – Lâm Đồng

- Điện thoại                      : 0633.880.163

- Email                             : ubndhadong@lamdong.gov.vn

 

2. Lãnh đạo cơ quan:

STT

Họ và Tên

Nhiệm vụ đảm nhiệm

1

Ông Đoàn Văn Duệ

Điện thoại cơ quan : 

Điện thoại cá nhân : 

Email:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

 

2

Ông Đỗ Văn Thơm

Điện thoại cơ quan : 0633.880163

Điện thoại cá nhân : 0169.4273818

Email:

Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

 

 

3. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan :

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, ngày 26/11/2003. Trong đó quy định cụ thể: Ủy ban nhân dân do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển KTXH, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.

UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.

 

4. Thông tin tổng quan về kinh tế - xã hội của xã :

4.1. Địa giới hành chính :

Xã Hà Đông, thuộc huyện Đạ Tẻh tỉnh Lâm Đồng. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã 403,3 ha.

Tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 1070 2448’’ - 1070 4045’’ Kinh độ Đông và 110 2500’’ - 110 4327’’ vĩ độ Bắc.

Ranh giới tiếp giáp các mặt:

+ Phía Bắc giáp xã Mỹ Đức .

+ Phía Nam giáp xã Quảng Trị và Thị Trấn Đạ Tẻ.

+ Phía Đông giáp xã Quảng Trị.

+ Phía Tây giáp thị trấn Đạ Tẻ.

Với vị trí địa lý nằm ở phía bắc huyện Đạ Tẻh, có đường tỉnh lộ 725 chạy qua, xã có những điều kiện thuận lợi giao lưu với các xã xung quanh và trong vùng thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế và nâng cao mặt bằng xã hội.

* Đặc điểm địa hình, khí hậu:

- Địa hình:

Nhìn chung địa hình của xã thấp dần từ Bắc xuống Nam, đất đai tương đối bằng phẳng. Độ cao tuyệt đối lớn nhất 135m (đỉnh đồi cũ phía bắc của xã) thấp nhất là 119m (giáp ngã ba sông Đạ Tẻ với suối Đạ Nha).

Độ dốc từ phía Bắc xuống phía Nam khoảng 15­,xung quanh xã được bao bọc các phía đông, tây, nam bởi sông Đạ Tẻ và suối Đạ Nha.

- Khí hậu :

Xã Hà Đông nói riêng và huyện Đạ Tẻ nói chung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, cận xích đạo, nền nhiệt độ và bức xạ mặt trời cao đều, quanh năm không có mùa đông giá lạnh, lượng mưa lớn nhưng không đều, tạo ra 2 mùa mưa nắng rõ rệt. Lượng mưa hàng năm trong vùng khoảng 1600mm đến 1700mm.

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khoảng 28­­­­C, mùa khô hầu như không có mưa kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, độ ẩm khoảng 75%, lượng hơi nước bốc hơi lớn tạo ra sự mất cân bằng ẩm độ, làm giảm  khả năng canh tác trong mùa khô.

Nhìn chung thời tiết phân thành 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa ít bị ảnh hưởng của lũ bão, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc , gia cầm.

4.2. Đất đai :

Diện tích tự nhiên           : 403,3 ha.

Trong đó:

            Đất nông nghiệp             : 349,4 ha.

            Đất phi nông nghiệp       : 44,2 ha.

            Đất chưa sử dụng           : 3,7 ha.

            Đất nuôi trồng thủy sản :  20 ha.

            Đất lâm nghiệp              : không có

Xã có 2 nhóm đất chính   : Nhóm đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng.

Đất phù sa chưa phân hóa phẫu diện được phân bố dọc theo sông Đạ Tẻh và suối Đạ Nha, đất này thích hợp cho các loại cây trồng hàng năm như : bắp, mía, rau đậu các loại…

Đất đỏ vàng biến đổi do các hệ thống thủy lợi để trồng lúa nước: Có nguồn gốc từ đất nâu vàng trên phù sa cổ. Do tác động của quá trình canh tác lúa nước liên tục làm thay đổi về cấu trúc chặt ở tầng mặt. Hình thành lớp đất Gley ở tầng dưới, loại đất này thích hợp trồng lúa nước và trồng hoa màu hiện đang được khai thác để trồng lúa nằm ở phía bắc của xã.

Đất nâu vàng trên đất phù sa cổ được hình thành từ đất phù sa cổ của các sông suối trước đây từ hàng ngàn năm. Đất có cấu trúc hình viên răng chuột, cục nhỏ khá chặt, tầng đất dày trên 100cm, đất màu dày 20-30cm.Thành phần cơ giới của đất thịt nhẹ đến trung bình phù hợp gieo trồng một số loại cây công nghiệp như cây Điều, Ca cao, Cao su, cây ăn quả .v.v.

Bảng 1: Diện tích các loại đất xã Hà Đông

STT

Tên đất

Kí hiệu

Diên tích

( ha)

% so với tổng diện tích tự nhiên

Tổng diện tích tự nhiên

403,3

100,00

I

Nhóm đất phù sa

P

159,6

39,57

1

Nhóm đất phù sa đuợc bồi

Pb

67,8

16,81

2

NHóm đất phù sa không được bồi, có đốm rỉ nâu vàng

Pt

91,8

22,76

II

Nhóm đất đỏ vàng

Fs

223,5669

55,43

III

Sông suối, kênh mương, ao hồ

 

20,1331

4,99

* Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 :

 Diện tích đất tự nhiên:            403,2243 ha.

 Đất nông nghiệp:                      355,4 022ha

 Đất sản xuất NN:                      349,3964 ha

 Đất trồng cây hàng năm:          164,8600 ha

 Đất trồng lúa:                              74,6772  ha

 Đất trồng cây hàng năm khác    90,1828  ha

 Đất trồng cây lâu năm:              184,5364 ha

 Đất nuôi trồng thủy sản                 6,0058 ha

 Đất phi nông nghiệp               :          44,1462  ha

 Đất ở nông thôn                     :               12,3327 ha

 Đất nghĩa địa                          :            0,7441  ha

 Đất sông, suối, MNCD            :            14,1331 ha

Đất chưa sử dụng          :           3,6759 ha

4.3. Dân cư, dân tộc :

Dân cư trên địa bàn xã chủ yếu là dân di cư từ các tỉnh miền Bắc vào tập trung nhất là nhân dân tỉnh Hà Tây cũ đi theo diện kinh tế mới. Điều này đã tạo nên bản sắc riêng cho xã Hà Đông nói riêng và huyện Đạ Tẻ nói chung. Hầu hết người dân không theo đạo, phần ít dân cư theo đạo phật chiếm 4,5 %, công giáo chiếm 4% tổng số hộ trong toàn xã.

Toàn xã có 409 hộ, 1785 nhân khẩu, lao động trong độ tuổi 1012 người, chiếm 56,69%. Ñoä tuoåi döôùi 15 tuoåi coù 568 ngöôøi chieám 31,8%, có những thuận lợi và khó khăn sau :

* Thuận lợi: Do nhân dân chủ yếu là cùng một vùng quê phía Bắc vào sinh sống lập nghiệp có đời sống văn hóa, tinh thần lao động cần cù chịu khó đa phần là thuần nông có kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất, có tinh thần đoàn kết đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau

* Khó khăn: Trình độ lao động còn thấp, sản xuất còn thủ công chưa có kinh nghiệm nhiều để thích ứng với vùng sản xuất mới. Đại bộ phận lao động chưa được đào tạo qua trường lớp, làm ăn sản xuất thieáu tập trung, chủ yếu là kinh nghiệm saûn xuaát truyền thống, chưa có phương thức hiện đại áp dụng khoa học kỹ thuật vào đầu tư thâm canh. Mặt khác một bộ phận lao động còn chưa có việc làm. Diện tích đất nông nghiệp bình quân lao động còn ít so với mặt bằng chung của xã hội , dẫn đến việc lao động trẻ phải đi làm ăn xa.Thu nhập thấp và không ổn định, năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích chưa cao. Do những khó khăn như vậy; trước mắt lực lượng lao động trong xã chưa thể đáp ứng nhiều đối với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai.

Tốc độ tăng dân số: Số khẩu dưới 15 tuổi có 568 người chiếm 31,8% dân số toàn xã, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1% / năm. Nhìn chung dân số xã Hà Đông có lực lượng lao động trẻ  , cần cù  chịu khó, ham học hỏi.

* Xã được thành lập từ năm 1986 chia thành 05 thôn, dân cư sống tập trung chủ yếu dọc theo đường tỉnh lộ 725 và các trục đường chính nối liền với đường tỉnh 725. Nhân dân trong xã sống ổn định ít có sự biến động.

4.4. Kết cấu hạ tầng :

* Giao thông:

Đường giao thông trên địa bàn xã Hà Đông chất lượng còn thấp, kết cấu mặt đường kiên cố hoá chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại ngày càng tăng của phương tiện và nhu cầu đi lại của nhân dân, nhất là trong các thôn. Mạng lưới đường giao thông trên địa bàn xã có tổng chiều dài là 12,411 km gồm:

- Đường liên xã : Tổng chiều dài là 2 km 100% đường bê tông nhựa cấp VI (đường tỉnh lộ 725)  đường từ cầu Hà Đông giáp với thị trấn Đạ Tẻh chạy dài đến giáp ngã ba cụm trung tâm xã Mỹ Đức.

- Đường trục liên thôn: Tổng chiều dài 6,081;  Đạt 34,86%

+ Đường liên thôn 1+2 dài 1,39km, đường đá cấp phối sỏi sông, nền 5m. mặt 3,5m; Đường liên thôn 1,2,3,4,5: 3,081km, trong đó đường đá cấp phối sỏi sông nền 5m, mặt 3,5m, chiếm 0,87km; đường cấp phối sỏi đồi nền 5m, mặt 3,5m; 0,561 km đường đất mặt 5m, mặt 4m. Đường láng nhựa 1,65 km nền 5m mặt 3,5 m

+ Đường liên thôn 4, 5: Dài 1,14 km đường cấp phối sỏi đồi nền 6m, mặt 5m; đường liên thôn 2, 3: 0,47 km đường láng nhựa thâm nhập nền 5,5 m, mặt 3,5 m;

- Đường thôn: Chiều dài 1,69 km. ( trong đó đường thôn 2 dài 0,16 km đường đá cấp phối sỏi sông chiếm 5,9 %, đường thôn 1 dài 1,53km đường đất lầy lội vào mùa mưa). Tỉ lệ nhựa hóa đạt 0% .

- Đường trục nội đồng chính: Chiều dài 1,69km, trong đó đường đã được láng nhựa 1,35km, mặt 3,5m, nền đường 8m, chiếm 79,88%. Đường đất chưa được cứng hóa : 0,34km đường lầy lội xe cơ giới đi lại không thuận tiện.

- Đường xóm chiều dài: 0,95 km gồm 5 xóm thuộc thôn 3,4,5 đường đất mặt 2m nền 2m lầy lội vào mùa mưa tỉ lệ cứng hóa đạt 0% .

* Thủy lợi: Trong những năm qua địa phương đã được nhà nước đầu tư hệ tống kênh mương tưới, tiêu phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của bà con nhân dân trên tất cả các địa bàn thôn cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu cho việc phát triển sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản ở các thôn 3,4,5. tuy nhiên về công xuất khai thác đưa vào sử dụng toàn bộ hệ hống kênh mương chưa được đảm bảo ở khu vực thôn 1, 2, và 1 phần của thôn 3 thuộc đoạn cuối ĐN8 và ĐN6-1. Một số tuyến mương xương cá chưa được sửa chữa, sử dụng thường xuyên, hiệu suất sử dụng còn hạn chế, đặc biệt một số tuyến không sử dụng dẫn đến việc mở rộng diện tích sản suất lúa còn gặp nhiều khó khăn làm giảm khả năng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hiện tượng úng lụt cục bộ trong mùa mưa vẫn còn xảy ra ảnh hưởng đến việc đi lại, vận chuyển sinh hoạt và làm giảm năng xuất cây trồng của bà con nhân dân.

Hiện nay địa bàn xã có tổng chiều dài hệ thống kênh mương là 10,241 km. Trong đó được bê tông hóa 4,371 km ( gồm các tuyến ĐN8, ĐN6-2 ) chiếm 42,7%. Tổng diện tích tưới tiêu đạt 230 ha, trong đó có 220 ha tưới tiêu chủ động, 10 ha chưa được chủ động chủ yếu là tạo nguồn.

+ Hệ thống kênh mương cấp 3, 4 do xã quản lý hiện chưa được kiên cố hóa là 5,87km, chiếm tỷ lệ 57,3%.

Do đó cần phải đầu tư thêm một số tuyến mương tưới mới và kiên cố hóa toàn bộ số mương cấp 3,4 của xã.

* Chợ nông thôn: Thực tế ở địa phương bên ngoài là chợ huyện Đạ Tẻh, người dân ở nơi xa nhất đến chợ chỉ khoảng 5 km. Do đó địa phương không xây dựng chợ nông thôn, mà chỉ có một số hàng quán buôn bán nhỏ để trao đổi hàng hóa ở dọc trục lộ 725 của xã, chủ yếu là hàng bán ra gồm: thực phẩm và một số mặt hàng tiêu dùng khác cho nhân dân địa phương. Còn hàng hóa do nhân dân làm ra chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi nên thương lái và nhà buôn đến tận nhà để mua.

* Ngành nghề: Nhân dân trên địa bàn xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó là sự duy trì phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như : Đan hàng thủ công mỹ nghệ, bóc tách hạt điều, ép mía đường thủ công, mộc gia dụng và trồng dâu nuôi tằm.

*  Văn hóa: Trong những năm qua Đảng, chính quyền địa phương luôn quan tâm chỉ đạo xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Các thôn đều có hương ước, quy ước thực hiện nếp sống văn hóa trong cưới hỏi, ma chay. Người dân đã có ý thức trong việc xây dựng đời sống văn hóa và xây dựng thôn văn hóa. Đến năm 2012 xã có 04 thôn đạt thôn văn hóa cấp huyện, 01 thôn đạt khu dân cư tiên tiến theo quy định của Bộ văn hóa - Thông tin.

* Giáo dục: Năm 2007-2008 xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập THCS. Công tác phổ cập trung học phổ thông chưa được tổ chức triển khai thực hiện. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông,bổ túc, học nghề) hàng năm đạt 80%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nghề đạt 10% vì đặc thù của địa phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp cho nên việc đào tạo ngành nghề cho lao động còn thấp.

* Y tế: Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, các cấp các ngành về việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nên tỷ lệ người dân đã tham gia các hình thức BHYT đạt 30%. So với yêu cầu tiêu chí là 20 %, xã đạt tiêu chí.

Trong những năm qua nhận thức sâu sắc nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, chủ động triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu, phòng ngừa các loại dịch bệnh xảy ra trên địa bàn nên trạm y tế xã được công nhận là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm. Trong năm 2009 Trạm y tế xã được công nhận là trạm đạt chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ y tế đang đề nghị đầu tư nâng cấp.

* Môi trường nông thôn: Là xã có cơ sở hạ tầng mới phát triển vài năm gần đây, hơn nữa là xã thuần nông nên việc tổ chức sản xuất, chăn nuôi còn nhỏ lẻ, chuồng trại chưa đảm bảo hợp vệ sinh. Hệ thống tiêu thoát nước thải chưa được quy hoạch cụ thể còn để nước thải, chất thải sinh hoạt, chăn nuôi chảy ra ao hồ, sông suối hoặc chưa được xử lý thu gom theo quy định…

Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch thấp, chủ yếu là dùng nước giếng khoan và giếng đào. Tuy nhiên một số giếng của các hộ còn chưa đảm bảo vệ sinh theo tiêu chuẩn. Tỷ lệ hộ có nhà tắm, nhà vệ sinh, bể nước sạch đạt 35%.

Thực trạng việc thu gom xử lý rác thải chưa được quy hoạch, công tác vệ sinh môi trường tuy đã được địa phương quan tâm chỉ đạo toàn dân tích cực tham gia làm vệ sinh môi trường thường xuyên, nhưng vẫn còn nan giải nhiều vấn đề xung quanh về môi trường vẫn chưa được giải quyết vì thiếu phương tiện và nguồn vốn .Ý thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân nhận thức còn hạn chế. Thực trạng cây xanh, cảnh quan nơi công cộng trường học, trạm y tế, trụ sở UBND còn thiếu nhiều so với quy định.

Thực tế có 2 điểm nghĩa địa ở thôn 1 và thôn 3 với diện tích 0,7441 ha. Trong những năm qua do chưa có sự quy hoạch đầu tư nên việc chôn, cất và xây mồ mả còn buông lỏng thiếu chặt chẽ trong việc quản lý, giám sát của chính quyền gây lãng phí đất và gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm về mỹ quan.

4.5. Cơ cấu lao động:

Hiện xã có 409 hộ/1.785 khẩu, chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 85%, còn lại 15% lao động trong lĩnh vực dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và một số ngành nghề khác. Tổng số lao động trong độ tuổi (18-60 tuổi) là 1012 lao động trong đó: lao động nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 737 người; cán bộ, công chức, viên chức và lao động đi làm việc trong và ngoài tỉnh 275 người.

Lao động tại địa phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nên việc đồng áng theo mùa vụ xong, lúc nông nhàn người dân tham gia làm thêm để tăng thu nhập từ các ngành nghề phụ: tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…Tuy nhiên các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển mạnh; việc đào tạo, định hướng  nghề nghiệp cơ bản cho lao động tại địa phương còn nhiều hạn chế.

4.6. Thế mạnh của địa phương :

Nhìn chung điều kiện khí hậu, đất đai của xã thuận lợi để phát triển các loại vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao, có nguồn lao động cần cù, chịu khó; nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào có thể khai thác nước tưới cho hầu hết các diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã, có điều kiện để chuyển đổi vật nuôi cây trồng phù hợp và có giá trị kinh tế cao. Khi được áp dụng triệt để các biện pháp thâm canh tăng vụ, khoa học kỹ thuật trên đồng ruộng một cách hợp lý. Về phát triển văn hóa giáo dục, do địa bàn của xã gọn, dân cư tập trung, có  đủ các bậc học từ mầm non đền trung học phổ thông nằm ở địa phương. Nhân dân cùng một vùng quê có nhiều nghề truyền thống, hoạt động văn hóa, văn nghệ có cùng nguồn gốc, nhiều điểm tương đồng tạo đà cho sự  phát triển văn hóa xã hội.

Mặt khác cơ sở hạ tầng hiện đã được nhà nước đầu tư cơ bản, điện, đường, trường, trạm và hệ thống kênh mương tưới tiêu được phân bố trải đều trên địa bàn của xã. Nếu được khai thác và sử dụng đầu tư hợp lý đúng mức sẽ tạo điều kiện để cho việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội trong tương lai của xã.

Về chăn nuôi: Tổng đàn gia súc năm 2012 là 1600 con; gia cầm 13.000 con. Về nuôi trồng thủy sản với diện tích trên 8 ha nằm tập trung chủ yếu ở thôn 3,4,5; hàng năm ước thu trên 30 triệu đồng/ha.

Về lĩnh vực thương mại dịch vụ trên địa bàn xã không có khu thương mại tập trung chủ yếu là buôn bán nhỏ lẻ với 12 hộ buôn bán kinh doanh rải rác, chủ yếu là buôn, bán các mặt hàng phục vụ nông nghiệp; lương thực, thực phẩm  và một số mặt hàng tiêu dùng khác. Thu nhập bình quân từ 25 - 30 triệu đồng/hộ/năm./.