Quan điểm phát triển 
Khai thác tối đa và có hiệu quả nguồn nội lực và thu hút các nguồn ngoại lực để đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện, nâng cao nhịp độ và chất lượng tăng trưởng trong từng ngành, từng lĩnh vực, bảo đảm nền kinh tế huyện phát triển nhanh và bền vững.

Khai thác mọi tiềm năng và lợi thế so sánh, đầu tư có trọng điểm vào một số lĩnh vực mà huyện Đạ Tẻh có lợi thế cạnh tranh như lúa đặc sản; rừng nguyên liệu; hạt điều; cao su; chế biến nông lâm sản;.... Muốn vậy phải phát huy các nguồn lực, tranh thủ sự đầu tư của Nhà nước, trong đó có 4 vấn đề cần được quan tâm hàng đầu đó là vấn đề cải tạo giống, thuỷ lợi, xây dựng các mô hình phát triển nông nghiệp theo công nghệ mới, đẩy mạnh phát triển hệ thống trang trại tổng hợp, nhằm góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội.

Mở rộng giao lưu kinh tế với các khu vực tiếp giáp như Đạ Huoai, Cát Tiên, Bảo Lâm, Đồng Nai, Bình Phước và các tỉnh thuộc khu kinh tế trọng điểm phía Nam nhằm tạo ra bước đột phá nền kinh tế.

Gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, giảm chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa đô thị và nông thôn. Tập trung đầu tư có trọng điểm ở các vùng động lực kết hợp phát triển vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc trên cơ sở giải quyết tốt yếu tố hạ tầng và các chính sách xã hội.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05-08-2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X và Chương trình hành động số 68-CT/TU ngày 24-10-2008 của Tỉnh uỷ Lâm Đồng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hình thành các khu dân cư nông thôn văn minh, xây dựng kết cấu hạ tầng, chú trọng tới các chính sách xã hội, tăng cường hợp tác phát triển các khu vực nghèo; các nhu cầu về hưởng thụ văn hoá, xã hội…

Hình thành 4 địa bàn kinh tế gồm: Tiểu vùng kinh tế trung tâm (Thị trấn Đạ Tẻh); Tiểu vùng phía Bắc (Quốc Oai – Hà Đông – Mỹ Đức); Tiểu vùng phía Nam (An Nhơn – Hương Lâm – Đạ Lây); Tiểu vùng phía Đông (Triệu Hải – Quảng Trị - Đạ Kho – Đạ Pal) trong đó thị trấn Đạ Tẻh là trung tâm hành chính, trung tâm tài chính, giáo dục - đào tạo, văn hoá – xã hội của huyện và là trung tâm văn hoá – giáo dục cộng đồng của 3 huyện phía Nam.

Nhanh chóng phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu đặc biệt là giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, hạ tầng cụm – điểm công nghiệp, tập trung hoàn thành 6 chương trình trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng 4 thị tứ là Triệu Hải; Đạ Lây; Hoài Nhơn; Mỹ Đức.  

Phát huy yếu tố nguồn lực con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ bên ngoài. Chú ý công tác đào tạo, nhất là đào tạo đội ngũ công chức, công nhân và lao động kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia giỏi về công nghệ và quản lý, đội ngũ các doanh nhân.

Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài huyện đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo nghề để đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu lao động  

Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường:

Trên cơ sở phát triển kinh tế để tạo lực bảo vệ môi trường và quy hoạch phát triển kinh tế phải gắn với quy hoạch bảo vệ môi trường. Xác định các định hướng phát triển các ngành trên quan điểm khai thác tối đa và hợp lý tiềm năng tự nhiên, gắn liền với các giải pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước vùng thượng nguồn. Quan điểm này phải được xuyên suốt trong việc xác định các định hướng ngành, trong xây dựng các dự án cũng như thiết kế, xây dựng bất kỳ một công trình nào trên lãnh thổ. 

 Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh chính trị, kinh tế cụ thể trên từng địa bàn đô thị, nông thôn và các khu vực khác của huyện. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh và đối ngoại; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biên phòng nhân dân; xây dựng các lực lượng vũ trang của huyện trong sạch vững mạnh, đủ sức đánh bại âm mưu "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược của địch trong mọi tình huống; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Mục tiêu kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 12-12,6%, trong đó nông lâm nghiệp tăng 7,5-9%, công nghiệp – xây dựng tăng 15-18%, thương mại – dịch vụ tăng tăng 16-18%.

- GDP bình quân đầu người đạt khoảng 13-14 triệu đồng vào năm 2010 (tương đương 820 USD); 22-24 triệu đồng năm 2015 (tương đương 1.400 USD).và 37-38 triệu đồng vào năm 2020 (tương đương 2.300USD).

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế của huyện đến năm 2015 vẫn là nông nghiệp - dịch vụ - công nghiệp; và sau 2015 sẽ là dịch vụ - nông nghiệp – công nghiệp.

+ Năm 2010: Tỷ trọng ngành nông - lâm thuỷ sản chiếm 53-54%, công nghiệp - xây dựng chiếm 15-16%, dịch vụ du lịch chiếm 31-32%.

+ Năm 2015: Tỷ trọng nông - lâm thuỷ sản chiếm 43-45%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 17-18%, dịch vụ du lịch chiếm 37-38%.

+ Năm 2020: Tỷ trọng nông - lâm thuỷ sản 36-37%, ngành công nghiệp xây dựng là 21-22%, dịch vụ du lịch là 41-42%.

- Thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư, tổng vốn đầu tư xã hội thời kỳ 2006 - 2010 đạt 1.200 – 1.300 tỷ đồng, giai đoạn 2011-2015 đạt 1.800 – 2.000 tỷ đồng bằng và giai đoạn 2016- 2020 là 3.500 – 3.700 tỷ đồng, chiếm 45 - 50% GDP.

- Tỷ lệ huy động vào ngân sách đạt 5-6% GDP vào năm 2010 ; 7-8% năm 2015 và 11-12% năm 2020 (theo giá hiện hành).

Mục tiêu phát triển xã hội :

- Giảm tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ tăng tự nhiên dưới 1,2%. Quy mô dân số đến năm 2010 là 49.250 người, năm 2015 là 51.507 người và năm 2020 là 53.600 người.

- Hoàn thành công tác định canh định cư, ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc. Thực hiện tổng hợp các biện pháp để xoá đói, giảm nghèo, đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 16% vào năm 2010 (riêng vùng đồng bào dân tộc dưới 20%), đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo dưới 5%, vùng đồng bào dân tộc dưới 7%.

- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 20% vào năm 2010 và dưới 10% vào năm 2020.

- Đẩy mạnh hoạt động các chương trình quốc gia về văn hoá, y tế, nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Xã hội hoá giáo dục, tăng cường đầu tư trường lớp, đa dạng hoá các loại hình đào tạo.

- Nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt khoảng 25 - 28%, năm 2020 đạt 40 – 50%. Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 5%, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 80 – 85%; hàng năng giải quyết việc làm cho khoảng 600 lao động. Thực hiện công bằng và bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư.

Mục tiêu bảo vệ môi trường:

- Phòng ngừa có hiệu quả khả năng ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội gây ra.

- Cải thiện chất lượng môi trường: Cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho 90-95% dân cư tại các khu đô thị và 80% dân cư nông vào năm 2010 và cho 100% dân cư vào năm 2020. Đến năm 2010 thu gom và xử lý 80% rác thải sinh hoạt, 100% chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải y tế, 70-80% số hộ nông thôn có hố xí hợp vệ sinh. Đến năm 2020 thu gom và xử lý 100% rác thải sinh hoạt tại khu vực dân cư tập trung.

- Bảo tồn, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Tăng cường giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường.

- Tăng cường năng lực quản lý môi trường.