Phần thứ nhất - Chi bộ Đảng cộng sản ra đời lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 ở Lâm Đồng (1930-1945) 

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1930 - 1975)
Nxb Chính trị Quốc gia, 2008.

 

 

Phần thứ nhất

CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN RA ĐỜI LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO

ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG VÀ CUỘC KHỞI NGHĨA THÁNG 8 NĂM 1945

Ở LÂM ĐỒNG (1930-1945)

 

 

I. QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP TỔ CHỨC ĐẢNG

1. Trước khi có Đảng

Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiêu mộ người kinh từ các nơi khác đến Lâm Viên- Đồng Nai Thượng để khai thác kinh tế và xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng. Họ phải làm những công việc nặng nhọc như làm đường bộ, đường sắt, xây dựng nhà máy, khách sạn, khai hoang lập đồn điền… Người dân đến Lâm Đồng đều từ những nơi có truyền thống cách mạng, bị áp bức bóc lột nặng nề nên có tinh thần đoàn kết đấu tranh. Nhờ có mối liên hệ chặt chẽ với quê nhà nên phong trào cách mạng các nơi khác nhanh chóng ảnh hưởng và tác động đến Lâm Đồng.

Từ năm 1925 đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu và phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh được nhân dân hưởng ứng đã thức tỉnh tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân Lâm Đồng. Nhiều cuộc đấu tranh tự phát đã nổ ra ở các công trường, nhà máy, đồn điền.

Năm 1928, Đảng Tân Việt cách mạng, một tổ chức yêu nước đã có cơ sở ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và các tỉnh Nam Trung Kỳ[1]

Đầu năm 1929, đồng chí Trần Hữu Duyệt[2], cán bộ Đảng Tân Việt đến Đà Lạt thành lập chi bộ Tân Việt tại một căn nhà thuộc dãy “nhà thiếc” nay là nhà số 5A đường Hồ Tùng Mậu. Chi bộ có 3 đảng viên do đồng chí Trần Hữu Duyệt làm Bí thư. Chi bộ Tân Việt Đà Lạt trực thuộc Liên tỉnh Ngũ Trang, một cơ quan lãnh đạo của Đảng Tân Việt phụ trách các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

Ngay sau khi ra đời, chi bộ Đảng Tân Việt Đà Lạt đã tích cực tuyên truyền, vận động, giác ngộ cách mạng và xây dựng cơ sở trong công nhân, công chức, trí thức. Cuối năm 1929, chi bộ kết nạp thêm một số đảng viên. Từ đây, phong trào cách mạng Đà Lạt có bước chuyển biến mới.

2. Chi bộ Đảng Cộng sản ra đời

Ngày 3- 2- 1930, Đảng Cộng sảnViệt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Tháng 4 năm 1930, Liên tỉnh Ngũ Trang tổ chức Hội nghị ở Tân Mỹ (Ninh Thuận) để công bố việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở các tỉnh cực Nam. Theo chủ trương của Trung ương Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, khi giải thể các chi bộ Tân Việt để thành lập các chi bộ cộng sản phải thực hiện 3 biện pháp: Một là, tăng cường giáo dục để nâng cao trình độ tư tưởng cho đảng viên. Hai là, đưa đảng viên đi “vô sản hoá”. Ba là, chỉ chuyển những đảng viên có đủ tư cách sang chi bộ cộng sản.

Đồng chí Trần Hữu Duyệt, nguyên Bí thư Liên tỉnh Ngũ Trang được điều về làm Bí thư Tỉnh uỷ Khánh Hoà và tiếp tục chỉ đạo chi bộ Đà Lạt.

Trong tháng 4 năm 1930, sau khi dự Hội nghị ở Tân Mỹ về, đồng chí Trần Diệm[3] triệu tập Hội nghị để thực hiện quyết định việc giải thể chi bộ Tân Việt và thành lập chi bộ Cộng sản. Hội nghị được tổ chức trên tầng gác căn buồng số 2 nhà xe khách sạn Palace (Đà Lạt). Như vậy, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Lâm Viên được thành lập, gồm 3 đảng viên do đồng chí Trần Diệm làm Bí thư. Từ đây giai cấp công nhân Lâm Viên có tổ chức tiền phong, tổ chức cao nhất của giai cấp mình để lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Từ khi chi bộ Đảng ra đời, ảnh hưởng của Đảng đã nhanh chóng lan rộng trong quần chúng, công tác xây dựng Đảng được tăng cường. Để tập hợp được lực lượng quần chúng, chi bộ tổ chức các Công hội đỏ trong công nhân nhà máy đèn, hãng thầu xây dựng, đồn điền, công nhân xe lửa và những người làm trong các hiệu may. Ở Trạm Bò (Xuân Thọ) thành lập hội Tương tế và một số hội Ái hữu đồng hương gồm những người cùng quê đến đây làm ăn, sinh sống. Ngoài ra còn có hội Phụ nữ, hội Phản đế đồng minh thu hút nhiều hội viên tham gia. Thông qua hoạt động của các tổ chức quần chúng, chi bộ đã từng bước tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng.

Đầu năm 1930, cuộc khủng khoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản đã có ảnh hưởng đến các ngành kinh tế ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Các hãng thầu của Pháp ngừng hoạt động, công nhân thất nghiệp nhiều. Trước tình hình đó, toàn thể công nhân xây dựng hãng Đờ-ra-ga (Dragage) ở Đà Lạt bãi công đòi chủ không được sa thải công nhân và không được giảm lương của những người còn có việc làm. Chính quyền thực dân Pháp không những không giải quyết đòi hỏi chính đáng của công nhân, mà còn bắt những người lãnh đạo cuộc bãi công và bắt ép công nhân đi làm. Toà án của thực dân Pháp kết tội 4 công nhân phá rối trật tự an toàn và kết án mỗi người 10 tháng tù. Cuộc bãi công tuy không giành được thắng lợi nhưng đã đánh dấu sự chuyển biến về ý thức, trình độ giác ngộ và có ảnh hưởng lớn về chính trị, tư tưởng trong giai cấp công nhân và nhân dân Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5, theo chỉ thị của cấp trên, chi bộ Đảng và các tổ chức quần chúng tổ chức nhiều hoạt động trong ngày lễ. Tối 30- 4-1930, cờ đỏ búa liềm được treo ở chợ Đà Lạt, Cầu Đất, nhiều truyền đơn xuất hiện trên các đường phố, khu vực Cầu Đất, Dran và dọc đường 11 từ Đà Lạt đến Cầu Đất. Truyền đơn có các khẩu hiệu:

- Đánh đổ đế quốc phong kiến

- Tịch thu rộng đất của thực dân, địa chủ chia cho dân cày.

- Huỷ bỏ thuế chợ, thuế thân.

- Thực hiện ngày làm 8 giờ

- Nam nữ bình đẳng

- Liên bang Xô Viết, thành trì của Cách mạng thhế giới muôn năm

- Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm.

Sáng ngày 1-5, các tầng lớp nhân dân hân hoan đứng nhìn cờ đỏ búa liềm và đọc truyền đơn lượm được. Tin về cờ và truyền đơn của Đảng Cộng sản truyền đi rất nhanh trong tỉnh, nhất là ở các nhà máy, đồn điền. Những khẩu hiệu mà Đảng đưa ra đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của nhân dân ta và thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân lao động thế giới.

Tuy có chuẩn bị đối phó, nhưng thực dân Pháp không ngăn chặn được các hoạt động của ta. Chúng tức tối huy động lực lượng đi thu cờ, lượm truyền đơn, chặn đường khám xét và lùng bắt những người tình nghi nhưng không có kết quả.

Trên tuyến đường sắt Tháp Chàm- Đà Lạt, đường hầm Cầu Đất là một công trình lớn nhưng việc thi công rất rất chậm vì công việc nặng nhọc, khí hậu khắc nghiệt, lao động bằng thủ công, thiếu phương tiện bảo hộ lao động; công nhân lại bị chủ thầu, cai thầu, đốc công bóc lột thậm tệ bằng các hình thức cúp phạt, qụyt lương, trả công không đúng kỳ nên đời sống vô cùng khó khăn, nhiều người bị chết vì tai nạn lao động, bệnh tật. Ngày 4-5-1930, khi hầm đường bị sập làm nhiều người chết và bị thương, bọn chủ bắt công nhân bới đất tìm xác chết và chống đỡ chỗ bị sập. Không chịu được sự đối xử tàn nhẫn của bọn chủ, toàn thể công nhân trên công trường bãi công đòi cai thầu trả 3 tháng lương còn thiếu. Tên cai thầu hoảng sợ chạy trốn, công nhân tịch thu tài sản của nó chia cho những người đang gặp khó khăn. Sau đó công nhân chặn xe chủ hãng A-vi-a (Aviat) đòi trả lương thay cho tên cai thầu. Trước tinh thần đoàn kết và đấu tranh quyết liệt của công nhân, tên chủ hãng nhận trả cho công nhân một nửa số lương mà tên cai thầu còn thiếu. Cuộc bãi công đã giành được thắng lợi.

Nhằm nâng cao trình độ nhận thức và năng lực công tác của đảng viên, đồng chí Trần Hữu Duyệt phụ trách các tỉnh cực Nam Trung Bộ mở lớp học của Đảng ở Trạm Bò. Lớp học có 15 học viên ở các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Đà Lạt. Chương trình học gồm:

- Lịch sử nhân loại

- Cách mạng các nước

- Các Quốc tế cộng sản

- Con đường cách mạng

- Sơ lược về chủ nghĩa Cộng sản

Phần lớn các học viên khi trở về địa phương đều trở thành cán bộ của Đảng, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.

Mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố ráo riết, nhưng chi bộ Đảng ở Đà Lạt vẫn tích cực hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển đảng viên. Đến cuối năm 1930, chi bộ kết nạp thêm 5 đảng viên mới và cấp trên điều động 3 đảng viên từ Ninh Thuận, Khánh Hoà lên, nâng tổng số đảng viên lên 11 đồng chí và chia làm 2 chi bộ: Chi bộ Palace có 5 đảng viên, do đồng chí Trần Diệm làm Bí thư, hoạt động trong công nhân khách sạn, nhà máy đèn, đường xe lửa. Chi bộ Cầu Quẹo có 6 đảng viên do đồng chí Nguyễn Sĩ Quế làm Bí thư, hoạt động trong công nhân xây dựng, thợ may.

Để duy trì các hoạt động của Đảng và tránh địch khủng bố, tổ chức Đảng ở Đà Lạt xây dựng 2 cơ quan bí mật: Cơ quan hoạt động và in ấn tại nhà ông Kiểm Tỵ đường Cầu Quẹo (nay là nhà số 221-223 đường Phan Đình Phùng- Đà Lạt). Cơ quan liên lạc và mở lớp học tại nhà một đảng viên ở cây số 12 (Trạm Bò- Xuân Thọ) trên đường 11.

Tổ chức Đảng và số đảng viên ở Đà Lạt tuy còn ít nhưng đều nằm trong các cơ sở kinh tế quan trọng như nhà máy đèn (nhà máy điện), khách sạn, hãng thầu xây dựng, đường xe lửa. Trong số 11 đảng viên có 8 đồng chí là công nhân nên việc tuyên truyền và giác ngộ cách mạng cho công nhân có nhiều thuận lợi.

Đầu năm 1931, hai chi bộ và các tổ chức quần chúng chuẩn bị truyền đơn để kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 với nội dung:

- Đánh đổ đế quốc phong kiến

- Phụ nữ sinh con được nghỉ 2 tháng có lương

- Bình đẳng nam nữ, lương ngang nhau giữa nam và nữ

- Vô sản toàn thế giới không phân biệt nam nữ đoàn kết lại.

Công việc đang được tiến hành khẩn trương thì đêm mùng 6 tháng 3 năm 1931, tên công sứ Pháp chỉ huy một toán lính đến bao vây cơ quan của Đảng ở đường Cầu Quẹo trong lúc chi bộ đang in truyền đơn. Chúng bắt đồng chí Nguyễn Sĩ Quế Bí thư chi bộ và 2 đảng viên, tịch thu dụng cụ in, truyền đơn, khẩu hiệu, tài liệu của Đảng. Những ngày sau đó địch tiếp tục truy lùng bắt một số đảng viên và 30 người bị tình nghi hoạt động cách mạng. Để tránh khủng bố, 3 đảng viên khác tạm lánh vào Sài Gòn, nhưng đến ngày 24 tháng 4 năm 1931 cũng bị địch bắt đưa về giam ở Đà Lạt. Tại các nhà tù của địch, những cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước bị địch tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không một lời khai báo. Giữa năm 1931, thực dân Pháp lập toà án xét xử, đồng chí Trần Diệm bị kết án vắng mặt 10 năm khổ sai, 4 đồng chí khác bị phạt án tù và giam tại nhà lao Buôn Ma Thuột, sau khi mãn hạn tù địch đưa về quê quản thúc.

Như vậy, đến cuối tháng 4 năm 1931, tổ chức Đảng ở Đà Lạt không còn nữa, các tổ chức quần chúng ngừng hoạt động, phong trào công nhân và phong trào cách mạng tạm lắng. Trong những năm 1932- 1935 chỉ có một số cuộc đấu tranh lẻ tẻ, tự phát không tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia.

II. THỜI KỲ MẶT TRẬN DÂN CHỦ ĐÔNG DƯƠNG (1936-1939)

1. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Lâm Viên - Đồng Nai Thượng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ

Trước nguy cơ phát xít và chiến tranh, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (tháng 7 năm 1935) đề ra mục tiêu trước mắt của phong trào Cộng sản thế giới là lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít, chống chiến tranh thế giới, giành dân chủ và bảo vệ hoà bình.

Ở Pháp, trong cuộc tổng tuyển cử tháng 4 năm 1936, Mặt trận nhân dân giành được thắng lợi đã thực hiện một số cải cách dân chủ có lợi cho giai cấp công nhân Pháp, ảnh hưởng tốt đến tình hình Đông Dương.

Tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương lập Mặt trận thống nhất Dân chủ Đông Dương, chống phản động thuộc địa, chống chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo hoà bình. Về hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh, Trung ương Đảng chủ trương lợi dụng triệt để khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp để tuyên truyền, tổ chức quần chúng, đồng thời củng cố và phát triển tổ chức bí mật của Đảng.

Ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng sau cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản (1929-1933), nền kinh tế bắt đầu phục hồi, nhiều công trình được xây dựng, đường xe lửa Tháp Chàm- Đà Lạt được hoàn thành, phát triển thêm nhiều đồn điền mới. Số lượng người kinh đến ngày càng đông nên thành phần xã hội có nhiều thay đổi, giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng, xuất hiện một số tư sản Việt Nam, số tiểu thương, thợ thủ công đông hơn trước.

Lúc này tổ chức Đảng ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng vẫn chưa được khôi phục, nhưng tin tức về phong trào đầu tranh của các điạ phương trong cả nước và qua báo chí công khai của Đảng, phong trào Dân chủ Đông Dương đã có ảnh hưởng đến các tầng lớp nhân dân. Công nhân ở từng vùng đã đoàn kết cùng nhau đấu tranh để hưởng ứng phong trào chung.

Để phản đối chủ giảm lương, ngày 24 tháng 8 năm 1936, hơn 200 công nhân ở Sở thí nghiệm nông nghiệp Di Linh đình công. Cuộc đấu tranh kéo dài 1 tuần, mở đầu cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Lâm Viên - Đồng Nai Thượng thời kỳ 1936-1939.

Tại đồn điền chè Cầu Đất, bọn chủ thường cúp phạt và trả lương cho công nhân không đúng kỳ, nhiều người phải vay tiền của bọn cai ký. Ngày 14 tháng 2 năm 1936, hơn 500 công nhân đình công đưa yêu sách đòi chủ phải trả đủ lương và đúng kỳ. Chiều hôm đó yêu sách được chấp nhận, cuộc đình công thắng lợi nhanh chóng.

Ngày 2 tháng 1 năm 1937, trên 1.000 công nhân đồn điền chè Cầu Đất lại đình công đòi tăng lương. Để bảo vệ quyền lợi cho chủ đồn điền, tên công sứ Đà Lạt chỉ huy lực lượng đến đàn áp, tìm cách chia rẽ, uy hiếp công nhân. Sau hai ngày đình công, chúng chỉ bắt ép được một số công nhân đi làm, còn phần lớn công nhân vẫn tiếp tục đấu tranh, cuộc đình công kéo dài trong 5 ngày.

Như vậy, chỉ trong 19 ngày, công nhân đồn điền chè Cầu Đất đã có hai cuộc đình công lớn. Cuộc đình công sau có quy mô lớn hơn, yêu sách cao hơn cuộc đình công trước, chứng tỏ ý thức đấu tranh và tinh thần đoàn kết của công nhân ngày càng cao.

Ngày 26 tháng 2 năm 1937, công nhân làm ở công trường xây dựng nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Đà Lạt (nay là nhà thờ Chánh Toà) đình công đòi tăng lương. Trước tinh thần đấu tranh của công nhân, chủ hãng phải chấp nhận yêu sách. Thắng lợi đó đã tạo không khí phấn khởi trong công nhân xây dựng Đà Lạt.

Hưởng ứng cuộc đình công của ngành xe lửa, ngày 14 tháng 7 năm 1937, công nhân đoạn đường xe lửa Tháp Chàm- Đà Lạt đình công đưa yêu sách:

- Trả lại tiền lương bị giảm từ năm 1933 đến năm 1935 và tăng lương 15%.

- Thi hành luật lệ xã hội.

- Đau ốm nằm bệnh viện được trả lương.

- Bỏ lệ hai năm khám lại sức khoẻ một lần.

- Bỏ lệ cúp, phạt tiền lương

- Bảo hiểm, bồi thường tai nạn lao động.

- Cho lập nghiệp đoàn Hoả xa.

Cuộc đình công kéo dài 3 tuần làm cho tất cả các chuyến xe lửa Tháp Chàm- Đà Lạt ngừng hoạt động. Tuy những yêu sách đưa ra không được chấp nhận nhưng đã thể hiện ý chí đấu tranh và cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân Lâm Viên - Đồng Nai Thượng.

Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản nhiều tờ báo công khai để tuyên truyền đường lối của Đảng, đưa tin hoạt động của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước, giai cấp công nhân Lâm Viên, Đồng Nai Thượng đã có sự chuyển biến ý thức. Học tập kinh nghiệm của những nới khác, một số công nhân tiên tiến ở Đà Lạt tự thành lập nhóm Tiến bộ. Đây là tổ chức nửa công khai hợp pháp, có điều lệ, nội quy do công nhân tự quản lý. Nhóm có 20 công nhân thợ mộc, thợ hồ, trong đó có những người đã tham gia phong trào đấu tranh của công nhân từ năm 1930. Nhóm do đồng chí Nguyễn Thái và đồng chí Nguyễn Phe (Nguyễn Văn Tấn) lãnh đạo. Mục đích công khai của nhóm là giúp nhau khi ốm đau, thất nghiệp, học văn hóa và đọc sách báo. Nhưng hoạt động bí mật của nhóm là giác ngộ tư tưởng cho anh em để làm nòng cốt cho phong trào. Hoạt động của nhóm Tiến bộ đã có tác dụng nâng cao tình cảm giai cấp, ý thức đấu tranh và tinh thần đoàn kết của anh em trong nhóm và công nhân xây dựng Đà Lạt.

Cuối năm 1937, sau khi ở tù từ Côn đảo về, đồng chí Hồ Nhã Tránh đến ĐàLạt mở hiệu sách Hồng Nhật, làm đại lý sách báo công khai của Đảng như: Lao Động, Nhánh lúa, Đời nay, Kinh tế, Tân văn, Thời báo, Dân mới và các loại sách báo của phong trào Mặt trận Dân chủ. Hiệu sách Hồng Nhật đã góp phần truyền bá tư tưởng và đường lối của Đảng Cộng Sản Đông Dương, tuyên truyền thành lập Mặt trận Dân chủ trong công nhân và nhân dân lao động.

Hưởng ứng phong trào Mặt trận dân chủ, đồng chí Hồ Nhã Tránh và đồng chí Chung Văn Năm cùng nhóm Tiến bộ tổ chức Hội thanh niên du lịch nhằm lợi dụng hình thức vui chơi giải trí để tập hợp thanh niên, tuyên truyền những tư tưởng của phong trào Mặt trận dân chủ. Hội có trên 100 hội viên, gồm nhiều thành phần khác nhau: Công nhân, thợ thủ công, tiểu thương, học sinh. Thông qua những cuộc đi chơi, tham quan các danh lam thắng cảnh, Hội tổ chức đọc sách báo, nói chuyện thời sự, có khi tổ chức mit tinh. Hội còn ủng hộ về tinh thần, vật chất cho phong trào đấu tranh và phong trào Hội Ái hữu ở Đà Lạt. Trong nhiều năm, Hội thanh niên du lịch đã góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và phong trào dân chủ trong các tầng lớp nhân dân.

Ngày 1 tháng 5 năm 1938, Hội thanh niên du lịch và nhóm Tiến bộ tổ chức cuộc mít tinh với 300 người tham dự tại khu rừng Cam Ly. Những người dự mít tinh được tuyên truyền ý nghĩa lịch sử ngày Quốc tế lao động, về sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân lao động đoàn kết đấu tranh giành lại những quyền lợi thiết thân của mình, trước mắt phải đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, thi hành các luật lệ lao động.

Sách báo của Đảng và những cuộc đấu tranh sôi nổi trong cả nước đã có ảnh hưởng đến giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong tỉnh. Lúc này đời sống của công nhân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, họ phải làm việc từ 10 giờ đến 11 giờ một ngày, lương không tăng nhưng giá cả tăng vọt. Vì vậy, đấu tranh đòi tăng lương giảm giờ làm đã trở thành yêu cầu cấp bách.

Để đáp ứng nguyện vọng đó, nhóm Tiến bộ đã vận động và lãnh đạo công nhân đấu tranh.Tháng 6 năm 1938, đại biểu công nhân các hãng thầu họp bàn kế hoạch và giao cho công nhân đang xây dựng Dinh nghỉ mát Toàn quyền Đông Dương (nay là Dinh 2 ở đường Trần Hưng Đạo – Đà Lạt), thuộc hãng thầu Xidéc (S.I.D.E.C) mở đầu cuộc đấu tranh. Công tác chuẩn bị đang được tiến hành thì bị chủ hãng phát hiện. Đồng chí Nguyễn Thái, người lãnh đạo công nhân ở công trường bị đuổi việc. Ngày hôm sau cảnh sát Đà Lạt bắt đồng chí Nguyễn Thái cùng hai người khác nên công nhân ở công trường và công nhân xây dựng ở Đà Lạt rất phẫn nộ. Những người còn lại trong nhóm Tiến bộ do đồng chí Nguyễn Phe phụ trách phát động cuộc đình công.

Sáng 27 tháng 6 năm 1938, hơn 200 công nhân hãng Xidéc đình công đưa yêu sách:

- Tăng lương 30%.

- Ngày làm 8 giờ.

- Không được đuổi thợ vô cớ và thả 3 công nhân bị bắt.

Sáng hôm đó, trên 1.000 công nhân xây dựng Đà Lạt và công nhân hãng Xidéc biểu tình trước Dinh Quản đạo và đồn cảnh sát đòi giải quyết yêu sách. Trước khí thế đấu tranh của công nhân, cảnh sát phải thả 3 công nhân. Sau 4 ngày đình công, tên công sứ Đà Lạt và chủ hãng điều đình với đại biểu công nhân, chúng nhận tăng lương 10% và làm việc 9 giờ một ngày, nhưng đại biểu công nhân không chấp nhận, đòi phải thực hiện đầy đủ các yêu sách nên cuộc điều đình thất bại.

Công nhân hãng Xidéc tiếp tục nghỉ việc, chủ hãng định lấy công nhân nơi khác đến thay thế, nhưng âm mưu này không thực hiện được. Sau hơn 1 tháng đình công, do quỹ cứu tế đã hết nên một số công nhân đi làm lại, một số bỏ đi tìm việc làm ở nơi khác. Tuy cuộc đình công không giành được thắng lợi hoàn toàn, nhưng công nhân của hãng và toàn ngành xây dựng Đà Lạt đều được tăng lương từ 10% - 20% và làm việc 9 giờ một ngày.

Trong thời gian nổ ra cuộc đình công, các tầng lớp nhân dân Đà Lạt và Hội thanh niên du lịch tích cực quyên góp cho quỹ cứu tế đình công và cổ vũ tinh thần đấu tranh của công nhân.

Hưởng ứng cuộc đình công ở hãng Xidéc, ngày 3 tháng 9 năm 1938, hơn 1900 công nhân đồn điền chè, công nhân xe lửa và các xưởng cưa ở Cầu Đất đình công đòi tăng lương. Đây là cuộc đình công có quy mô lớn nhất của giai cấp công nhân Lâm Viên - Đồng Nai Thượng thời kỳ này.

Giữa tháng 11 năm 1938, trong cuộc đua xe đạp quanh bờ hồ Đà Lạt, anh Lê Văn Thắm bị xe con của bà Rốc-si (người Pháp) cán chết. Được tin này Hội Thanh niên du lịch và nhóm Tiến bộ vận động nhân dân biến đám tang thành một cuộc biểu tình phản đối sự khinh miệt dân tộc, coi rẻ tính mạng người Việt Nam của thực dân Pháp, gần 2.000 người dự biểu tình đòi chính quyền thực dân Pháp phải xử phạt kẻ gây ra tai nạn và bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Thắm.

Trong quá trình khai thác kinh tế ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, thực dân Pháp đã cướp đất của đồng bào các dân tộc thiểu số để lập đồn điền, bắt đồng bào đi xâu làm công không cho bọn chủ. Một số người làm rẫy không đủ sống phải đi làm thuê trong các đồn điền nhưng lại bị trả công rẻ mạt. Không chịu nổi cảnh đói khổ, áp bức, giữa năm 1937, đồng bào các dân tộc thiểu số đã đứng lên chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của hai thủ lĩnh K’Voai và K’Nhòi, một phụ nữ trẻ tuổi, có nước da trắng, tóc trắng được nhân dân gọi là Mộ Cộ (bà trắng). Phong trào bắt đầu từ Đồng Đò (Di Linh) sau đó phát triển đến hầu hết các huyện trong tỉnh, thu hút gần 10.000 người tham gia.

Tháng 5 năm 1938, giữa lúc phong trào đang phát triển mạnh thì bị thực dân Pháp phát hiện, bắt giam và tra khảo nhiều người, trong đó có 2 thủ lĩnh của phong trào. Ngày 13 tháng 12 năm 1938, chúng lập toà án tại Di Linh kết tội 14 người âm mưu làm loạn chống lại chính quyền Pháp và kết án họ từ 8-20 năm tù, trong đó có K’Voai và K’Nhòi bị kết án mỗi người 20 năm khổ sai, K’Voai bị giam ở Lao Bảo, K’Nhòi bị giam ở Huế.

Phong trào Mộ Cộ tuy thất bại nhưng đã có ảnh hưởng rất lớn trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

2. Tổ chức Đảng được khôi phục

Được sự phân công của Ban cán sự Đảng các tỉnh Nam Trung Bộ, đồng chí Nguyễn Văn Chi đến Đà Lạt liên lạc với nhóm Tiến bộ, Hội Thanh niên du lịch và tìm hiểu phong trào công nhân. Tháng 12 năm 1938, đồng chí Nguyễn Văn Chi triệu tập cuộc họp trên sân cỏ trường tiểu học Pháp- Việt (nay là trường Đoàn Thị Điểm) gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Thái, Nguyễn Phe và Trần Công Xứng (bí danh Hải) Bí thư Ban cán sự Đảng các tỉnh Nam Trung Kỳ. Sau khi thảo luận điều lệ Đảng, tình hình và chủ trương công tác sắp tới, hội nghị nhất trí thành lập chi bộ gồm 3 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Chi làm Bí thư. Như vậy, sau hơn 7 năm bị gián đoạn, tổ chức Đảng ở Đà Lạt lại được khôi phục để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương.

Nhiệm vụ trước mắt của chi bộ là tiếp tục duy trì và phát triển các tổ chức quần chúng nửa công khai, hợp pháp như nhóm Tiến bộ, Hội Thanh niên du lịch, tổ chức các Hội Ái hữu trong công nhân, tích cực tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, phát triển đảng viên và mở rộng phong trào cách mạng ra các địa bàn khác trong tỉnh.

Từ khi có chi bộ Đảng trực tiếp lãnh đạo, phong trào cách mạng ở Đà Lạt có bước phát triển mới, công tác tuyên truyền, vận động công nhân chuẩn bị thành lập các Hội Ái hữu được tiến hành khẩn trương. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, chi bộ đã bồi dưỡng kết nạp hai đảng viên mới và tuyên truyền được một số người có cảm tình với Đảng.

Đầu năm 1939, cảnh sát Đà Lạt không cho họp chợ cả ngày, không chịu cảnh ngăn cấm vô lý, 500 chị em buôn bán ở chợ đã bãi thị 2 ngày đòi huỷ bỏ quyết định đó. Chị em cử đại biểu đưa yêu sách và vận động nhân dân ủng hộ cuộc đấu tranh. Cuối cùng chính quyền địch phải chấp nhận yêu sách, cuộc bãi thị thắng lợi.

Hưởng ứng chủ trương của Đảng, đầu năm 1939, một số trí thức và giáo viên các trường tiểu học ở Đà Lạt thành lập Hội truyền bá quốc ngữ. Đây là một hoạt động văn hoá xã hội được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Tại các lớp học, học viên được học văn hoá và nghe đọc sách báo nên được biết thêm về phong trào cách mạng trong nước và tình hình thế giới.

Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5, chi bộ tổ chức mít tinh tại một khu rừng ở Cam Ly. Cuộc mít tinh có trên 100 người dự, gồm các đảng viên trong chi bộ, lãnh đạo Hội Thanh niên du lịch, nhóm Tiến bộ và nhiều công nhân trong các ngành nghề. Sau khi nói về ý nghĩa ngày Quốc tế lao động, ban tổ chức dành nhiều thời gian nhấn mạnh về sự cần thiết của các Hội Ái hữu và kêu gọi mọi người tham gia phong trào ái hữu sắp tổ chức ở Đà Lạt

Sau một thời gian chuẩn bị, giữa năm 1939, Ban vận động Hội Ái hữu được thành lập do đồng chí Nguyễn Phe làm trưởng ban, một số anh chị em công nhân được phân công phụ trách các ngành nghề. Qua thực tế phong trào công nhân, ban vận động quyết định thành lập Hội Ái hữu thợ mộc trước, sau đó sẽ mở rộng ra các ngành khác. Công tác chuẩn bị đang được tiến hành khẩn trương thì thực dân Pháp ra lệnh ngăn cấm vì chúng nghi Hội do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Tháng 8 năm 1939, Ban cán sự Đảng các tỉnh Nam Trung Kỳ điều đồng chí Nguyễn Văn Chi về công tác ở Khánh Hoà, đồng chí Nguyễn Thái chuyển đi Sài Gòn, chi bộ còn lại 3 đảng viên, đồng chí Nguyễn Phe được cử làm Bí thư.

Từ khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường khủng bố phong trào cách mạng nước ta. Chúng đóng cửa hàng chục tờ báo của Đảng, ráo riết lùng sục, khám xét và bắt người hàng loạt. Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bắt công nhân làm việc một tuần 60 giờ và cấm thành lập các Hội Ái hữu.

Ngày 7 tháng 10 năm 1939, thực dân Pháp bắt đầu đàn áp phong trào cách mạng ở Đà Lạt, các đồng chí Hồ Nhã Tránh, Chung Văn Năm bị bắt. Được từ đó, chi bộ họp bàn kế hoạch chống khủng bố và quyết định chuyển hình thức hoạt động công khai và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, cất dấu tài liệu. Sau đó đồng chí Nguyễn Phe và một số đồng chí khác trong nhóm Tiến bộ bị bắt.

Từ cuối tháng 10 tháng 1939, chi bộ Đảng ở Đà Lạt không còn nữa, các tổ chức quần chúng ngừng hoạt động.

Sau 4 năm thực hiện đường lối Mặt trận Dân chủ, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Lâm Viên, Đồng Nai Thượng đã tiến hành 17 cuộc đấu tranh, thu hút trên 10.000 lượt người tham gia; thành lập 5 tổ chức quần chúng với trên 500 hội viên. Phần lớn các cuộc đấu tranh đã chuyển từ đấu tranh kinh tế lên đấu tranh chính trị. Thành quả quý báu nhất là qua thực tiễn đấu tranh giai cấp công nhân đã trưởng thành, có tinh thần đoàn kết, tin tưởng vào sức mạnh của mình và lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ.

III. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

1. Chuẩn bị lực lượng đón thời cơ

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Tháng 6 năm 1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, nhân cơ hội đó phát xít Nhật nhảy vào xâm lược Đông Dương. Nhân dân ta lại bị một cổ hai tròng dưới sự áp bức bóc lột của Nhật-Pháp.

Lo sợ trước tình hình chiến tranh ngày càng mở rộng và vì đường đi châu Âu tắc nghẽn nên thực dân Pháp có ý đồ xây dựng Đà Lạt thành thủ đô chính trị của Đông Dương. Số người Pháp lên Đà Lạt ngày càng đông, nhiều công trình lớn và hàng trăm biệt thự được xây dựng. Để lôi kéo và đầu độc thanh niên, thực dân Pháp tổ chức phong trào thể dục thể thao (còn gọi là phong trào Đu-co-roay).

Tháng 4 năm 1940, đồng chí Nguyễn Phe mãn hạn tù và trở về Đà Lạt hoạt động. Đồng chí đã củng cố nhóm Tiến bộ, liên lạc với những người đã từng tham gia cách mạng và thành lập Ban cán sự Đảng gồm 3 đồng chí. Công việc đang tiến hành khẩn trương thì tháng 7 năm 1940 đồng chí lại bị bắt và giam ở nhà lao Nha Trang, Ban cán sự ngừng hoạt động.

Tháng 8 năm 1940, đồng chí Hoàng Kim Ảnh từ Hội An (Quảng Nam) vào Đà Lạt bắt liên lạc với số anh em còn lại trong nhóm Tiến bộ và tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho một số công nhân. Đồng chí Hồ Đắc Bật từ Sài Gòn lên Đà Lạt liên lạc với đồng chí Hoàng Kim Ảnh để truyền đạt đường lối của Mặt trận phản đế[4] và cùng nhau thành lập Uỷ ban Mặt trận phản đế Đà Lạt. Uỷ ban đã tuyên truyền, vận động được nhiều công nhân tham gia Mặt trận, nhưng sau đó đồng chí Hồ Đắc Bật bị địch bắt đưa về Sài Gòn. Tháng 2 năm 1941, đồng chí Hoàng Kim Ảnh trở về Quảng Nam nên Uỷ ban Mặt trận phản đế Đà Lạt ngừng hoạt động.

Để tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng Đà Lạt, ngày 24 tháng 2 năm 1942, tại bãi biển Hội An, đồng chí Trương Văn Hoàn thay mặt Xứ uỷ Trung kỳ thành lập chi bộ đặc biệt Đà Lạt gồm 3 đồng chí: Võ Văn Đặng, Trần Duy Mãi và Huỳnh Đắc Hương, do đồng chí Võ Văn Đặng làm Bí thư.

Trở lại Đà Lạt hoạt động, 3 đồng chí mang theo nhiều tài liệu, truyền đơn và từng bước gây dựng lại phong trào. Kế hoạch công tác đang được triển khai thì cơ sở cách mạng ở Quảng Nam bị vỡ, tháng 6 năm 1942 thực dân Pháp truy nã và bắt 2 đồng chí Võ Văn Đặng, Huỳnh Đắc Hương đưa về Quảng Nam. Sau đó không lâu, đồng chí Trần Duy Mãi cũng trở về quê, chi bộ Đảng ở Đà Lạt tan rã.

Trong những tháng đầu năm 1942, thực dân Pháp khủng bố phong trào cách mạng các tỉnh miền Trung rất ác liệt, nhiều đồng chí cán bộ Xứ uỷ Trung kỳ và các tỉnh bị bắt, một số tạm chuyển vùng hoạt động để bắt liên lạc với cấp trên. Giữa năm 1942, đồng chí Võ Chí Công[5], cán bộ Xứ uỷ Trung kỳ vào hoạt động ở khu vực Cầu Đất. Sau 1 tháng sống cùng với những gia đình công nhân làm nghề cưa xẻ gỗ, đồng chí đã tuyên truyền giác ngộ cách mạng và xây dựng được 20 cơ sở, phần lớn sau này đều trở thành cán bộ, đảng viên.

Năm 1943, một số đảng viên từng tham gia hoạt động cách mạng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá đến Đà lạt sinh sống đã bí mật liên lạc với nhau và thành lập chi bộ gồm 4 đảng viên do đồng chí Đinh Quế làm Bí thư. Chi bộ đã tích cực giác ngộ, tuyên truyền cách mạng cho công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ để làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh.

Tuy chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng, nhưng từ năm 1941 đến đầu năm 1945 đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân ở các đồn điền, công sở, gây thiệt hại cho bọn chủ. Nhìn chung, các cuộc đấu tranh tuy vẫn còn mang tính tự phát, chưa thu hút được đông đảo lực lượng tham gia, nhưng đã phản ánh một quy luật tất yếu: có áp bức, có đấu tranh. Nhân dân các dân tộc Lâm Viên - Đồng Nai Thượng không thể chịu đựng mãi cảnh bị bọn thực dân, phong kiến áp bức bóc lột mà phải đứng lên đấu tranh tự giải phóng cho mình.

2. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

Đầu năm 1945, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng, Hồng quân đã đánh đuổi phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ Liên Xô. Ở châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật liên tục bại trận. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương.

Tại Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Nhật bắt hàng trăm quan chức, kiều dân Pháp giam tại cư xá Đờ-cu (Decoux), cư xá Bên - lơ - vuy (Bellevue) ở Đà Lạt và khách sạn Min-lo-voay (Minllevoye) ở Di Linh.

Về chính trị, Nhật tuyên truyền thuyết “ Đại Đông Á” ; thuyết “Đồng chủng da vàng”, đề cao công ơn của Nhật đã cho Việt Nam “độc lập”. Tổ chức thanh niên bảo an đoàn được thành lập trên cơ sở tập hợp thanh niên trong phong trào Đu- co-roay và tổ chức thanh niên Hướng đạo sinh.

Sau khi chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng được thành lập, tổ chức thanh niên tiền tuyến ra đời (còn gọi là thanh niên Phan Anh) đã thu hút đông đảo lực lượng thanh niên tham gia.

Về quân sự, với ý đồ đưa Bộ chỉ huy quân đội Nhật ở Thái Bình Dương lên Đà Lạt để cố thủ đến cùng nên ngoài 2000 lính Nhật tại chỗ, chúng còn ráo riết bắt xâu, bắt lính, xây dựng các công trình quân sự, bảo vệ chặt chẽ sân bay Liên Khàng.

Về kinh tế, Nhật nắm ngân hàng và những công sở quan trọng, cho phép các công ty của Nhật khai thác nhựa thông, gỗ thông. Mặt khác chúng ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân dân ta bằng các loại xâu, thuế.

Trước những đổi thay nhanh chóng của tình hình thế giới, cao trào kháng Nhật ngày càng lên cao, Mặt trận Việt Minh phát triển khắp nơi đã có ảnh hưởng đến đời sống chính trị ở hai tỉnh Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Ở một số đồn điền, công nhân đấu tranh chống lại bọn chủ, bọn đốc công, đốt phá đồn điền rồi bỏ về quê. Đồng bào các dân tộc thiểu sổ ở một số nơi không chịu nộp thuế, đi xâu cho bọn Nhật. Chi bộ Đảng ở Đà Lạt thành lập thêm một chi bộ ở nhà ga gồm 3 đảng viên do đồng chí Đinh Quế làm Bí thư, đồng thời cử đồng chí Chung Văn Năm đi bắt liên lạc với Xứ uỷ Nam Kỳ và đồng chí Đinh Quế đi bắt liên lạc với Xứ uỷ Trung Kỳ nhưng không có kết quả.

Lúc này, tổ chức thanh niên Phan Anh đã tập hợp được đông đảo thanh niên tham gia bằng các hình thức luyện tập thể dục thể thao, biểu diễn văn nghệ, hoạt động xã hội, từ thiện. Từ những buổi cắm trại, sinh hoạt dã ngoại, chương trình văn nghệ có nội dung yêu nước (như các vở kịch Hội nghị Diên Hồng, Hai Bà Trưng), phổ biến các bài hát tiến bộ đến việc tổ chức các lớp truyền bá quốc ngữ; không nói với nhau bằng tiếng Pháp và chống tiêu dùng, mua bán hàng hoá do Pháp sản xuất; quyên góp tiền ủng hộ đồng bào miền Bắc bị đói đã từng bước nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước thương dân trong đại đa số thanh niên và có ảnh hưởng lớn trong các tầng lớp nhân dân .

Lợi dụng các hình thức hoạt động công khai hợp pháp của thanh niên, các chi bộ Đảng ở Đà Lạt đã tổ chức mít tinh vạch trần thuyết Đại Đông Á, chiêu bài độc lập giả hiệu của Nhật và vận động các tầng lớp nhân dân không dự cuộc mít tinh do Nhật tổ chức tại sân vận động.

Tháng 4 năm 1945, chính trị phạm ở nhà lao Buôn Ma Thuột đấu tranh thắng lợi, Nhật buộc phải thả hết tù chính trị. Tổ chức Đảng trong nhà lao phân công đảng viên về các tỉnh hoạt động cách mạng. Đồng chí Ngô Huy Diễn và đồng chí Nguyễn Thế Tính được phân công về Đà Lạt xây dựng cơ sở, thành lập các tổ chức quần chúng để tập hợp lực lượng, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Về đến Đà Lạt, hai đồng chí đã khẩn trương bắt liên lạc với các đảng viên của hai chi bộ, tuyên truyền xây dựng thêm nhiều cơ sở cách mạng, phân phát chương trình, điều lệ Việt Minh, thư đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào và tài liệu về phong trào du kích Ba Tơ (Quảng Ngãi).

Sau một thời gian tuyên truyền, vận động, tháng 5 năm 1945, Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt được thành lập do đồng chí Nguyễn Thế Tính làm thư ký. Cùng thời gian này, đồng chí Ngô Huy Diễn cũng thành lập Tỉnh bộ Việt Minh lâm thời tỉnh Lâm Viên do đồng chí làm thư ký. Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt và Tỉnh bộ Việt Minh lâm thời tỉnh Lâm Viên đã đề ra chương trình công tác, tổ chức các đoàn thể quần chúng như Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc. Để tranh thủ nắm lực lượng thanh niên, các chi bộ bố trí một số đảng viên, thanh niên tiến bộ vào hoạt động và nắm những cương vị chủ chốt trong tổ chức đoàn thanh niên Phan Anh. Thông qua hoạt động của đoàn thanh niên, ta đã từng bước tuyên truyền đường lối của Đảng, ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh, vận động thanh niên không đi lính cho Nhật.

Cuối tháng 6 năm 1945, các đồng chí Lê Tự Nhiên đại biểu tỉnh Ninh Thuận, Ngô Huy Diễn đại biểu tỉnh Lâm Viên, Nguyễn Sắc Kim đại biểu tỉnh Bình Thuận họp tại cánh đồng Vạn Phước (Ninh Thuận) bàn kế hoạch vận động quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa, thành lập Ban liên lạc ba tỉnh Cực Nam để chỉ đạo cách mạng và cử đồng chí Lê Tự Nhiên đi bắt liên lạc với Xứ uỷ Trung Kỳ.

Sau khi ở Ninh Thuận về, do có người phản bội khai báo nên các đồng chí Ngô Huy Diễn, Nguyễn Thế Tính, Đinh Quế, Chung Văn Năm và một số đồng chí trong tổ chức Việt Minh bị Nhật bắt. Hiến binh Nhật và bọn tay sai tra tấn các đồng chí rất dã man nhưng vẫn không khai thác được gì. Khoảng một tháng sau hầu hết những người bị bắt được trả tự do, chỉ còn lại hai đồng chí Ngô Huy Diễn, Nguyễn Thế Tính vẫn bị giam tại nhà lao Đà Lạt.

Tại B'Lao (Bảo Lộc), tổ chức thanh niên Phan Anh đã tập hợp đông đảo công chức, thanh niên trong các công sở, nhà máy, đồn điền, trong đó có thanh niên dân tộc thiểu số tham gia. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1945, một số công chức, thanh niên tiến bộ đã bí mật tuyên truyền về hoạt động và ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh.

Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật và chỉ trong mấy ngày hồng quân đã tiêu diệt hoàn toàn đội quân Quan Đông tinh nhuệ nhất của Nhật ở Mãn Châu (Trung Quốc). Trước tình hình đó, ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào khẳng định: những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi và chủ trương kịp thời lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa. Hội nghị đã bầu Uỷ ban Dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đêm 13 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban hành lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện Hồng quân Liên Xô và quân đồng minh, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Tại Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, quân Nhật tuy còn đông nhưng tinh thần hoang mang cực độ, chán nản, chờ ngày về nước, các công trình quân sự đang xây dựng đều bỏ dở.

Tin tức về một số địa phương trong nước khởi nghĩa thắng lợi đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của nhân dân các dân tộc hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Một số cán bộ, đảng viên và những công chức, trí thức quan tâm đến thời cuộc thường gặp nhau trao đổi tình hình nhưng cũng chưa biết hoạt động như thế nào? Trong khi quân Nhật và chính quyền tay sai đang hoang mang, dao động, những cán bộ nòng cốt trong phong trào thanh niên đã vận động, thuyết phục những người trước đây đi lính cho Pháp (sau khi Nhật đảo chính Pháp bỏ về gia nhập thanh niên) huấn luyện quân sự cho thanh niên. Từ đầu tháng 8 năm 1945, thanh niên Đà Lạt đã hình thành từng trung đội, tiểu đội dưới hình thức cắm trại để tiến hành huấn luyện quân sự, trinh sát, canh gác. Mỗi người tự trang bị cho mình một loại vũ khí như kiếm, dao găm…sẵn sàng chờ lệnh nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

Mặc dù các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Lâm Viên còn bị địch giam giữ và đồng chí Phạm Khắc Quán còn xuống Nha Trang bắt liên lạc với cấp trên, nhưng ở một số địa bàn công tác chuẩn bị khởi nghĩa vẫn được tiến hành khẩn trương.

Tại Đà Lạt, các đồng chí đảng viên, cán bộ cốt cán và một số công chức tiến bộ họp bàn kế hoạch, thành lập Uỷ ban khởi nghĩa gồm 14 người. Đồng chí Nghiêm Xuân Cúc (một đảng viên ở chi bộ ga Đà Lạt đã chuyển về ga Nha Trang) giới thiệu đồng chí Phạm Khắc Quán với Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Khánh Hoà, sau khi nghe báo cáo tình hình, đồng chí Bùi San đã cử đồng chí Trương Văn Hoàn cùng 3 cán bộ lên giúp tỉnh Lâm Viên khởi nghĩa.

Đêm 21 tháng 8 năm 1945, hội nghị bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền được tổ chức với sự tham gia của các đồng chí Trương Văn Hoàn, Đinh Quế, Phan Đức Huy, Phạm Khắc Quán, một số đảng viên, cơ sở nòng cốt, công chức có cảm tình với cách mạng. Đồng chí Trương Văn Hoàn đã trao đổi về phương hướng, chủ trương và phương pháp vận động, tổ chức nhân dân tiến hành khởi nghĩa. Hội nghị nhất trí đánh giá tình hình, chủ trương và kế họạch khởi nghĩa, thành lập Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Phan Đức Huy làm Chủ tịch, các đồng chí Đinh Quế, Trương Văn Hoàn, Phạm Khắc Quán, Nghiêm Nghị làm Uỷ viên và quyết định lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 23 tháng 8 năm 1945. Hội nghị phân công cán bộ, đảng viên, cơ sở cốt cán xuống các địa bàn phổ biến kế hoạch, tổ chức lực lượng, may cờ, viết khẩu hiệu, sắm vũ khí…Đồng chí Phan Đức Huy và đồng chí Phạm Khắc Quán được phân công đến gặp sĩ quan chỉ huy quân đội Nhật tại Đà Lạt yêu cầu quân đội án binh bất động trong những ngày khởi nghĩa. Đồng chí Chu Oai được cử đến dinh Tỉnh trưởng thuyết phục Ưng An giao chính quyền cho cách mạng. Đồng chí Nghiêm Nghị được phân công đến đồn bảo an thuyết phục đồn trưởng Quản Trang và binh lính giao đồn. Trong ngày 22 tháng 8, các tầng lớp nhân dân Đà Lạt đem hết sức mình chạy đua với thời gian để hoàn thành công việc chuẩn bị khởi nghĩa.

Tại Dran, sau ngày Nhật đầu hàng quân đồng minh, quân nhật tại đây ít hoạt động, thái độ lưng chừng, chán nản. Nhân cơ hội đó, lực lượng thanh niên hoạt động mạnh, tranh thủ được đồn trưởng Nguyễn Nhật Thăng và một số binh lính đồn bảo an làm huấn luyện quân sự. Những cơ sở cốt cán trong thanh niên, công nhân, thợ thủ công, công chức, binh lính…tích cực tuyên truyền , vận động nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Khi được tin một số nơi giành chính quyền thắng lợi, ban vận động khởi nghĩa tại Dran được thành lập gồm 5 người do đồng chí Lê Quang Liệu làm trưởng ban, đồng chí Lê Văn Uẩn phó ban và ba đồng chí uỷ viên. Các đồng chí trong ban vận động khởi nghĩa và một số cơ sở cốt cán đã tiến hành hai cuộc hội nghị để bàn kế hoạch kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người và quyết định khởi nghĩa giành chính quyền vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 22 tháng 8 năm 1945.

Tại Cầu Đất-Trạm Hành, một vùng có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng của tỉnh Đồng Nai Thượng như đồn điền trà, các cơ sở khai thác và chế biến gỗ, xưởng sửa chữa và ga xe lửa, tập trung đông công nhân, có truyền thống đấu tranh cách mạnh trong những năm 1930 - 1931 và 1936 -1939. Trong những ngày sôi sục tổng khởi nghĩa, đồng chí Trịnh Lý đã cùng một số đảng viên[6], cơ sở cốt cán tích cực tuyên truyền, vận động công nhân thanh niên và nhân dân địa phương chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tối ngày 21 tháng 8 năm 1945, đồng chí Trịnh Lý đã triệu tập cuộc họp tại Trạm Hành để bàn kế hoạch khởi nghĩa. Sau khi đánh giá tình hình và nhất trí về chủ trương, kế hoạch tiến hành, hội nghị quyết định lãnh đạo nhân dân giành chính quyền vào ngày 22 tháng 8 năm 1945 và phân công nhiệm vụ cho từng đồng chí:

- Các đồng chí Trịnh Lý, Lê Trực, Nguyễn Ngự chịu trách nhiệm chung.

- Đồng chí Trần Luân và đồng chí Trịnh Lý phụ trách Cầu Đất.

- Đồng chí Nguyễn Ngự giúp đồng chí Lê Quang Liệu ở Dran.

- Đồng chí Lê Trực và đồng chí Trần Diêu phụ trách Trạm Hành, xưởng sửa chữa và nhà ga xe lửa ở Trạm Hành.

Sáng ngày 22 tháng 8 năm 1945, đồng chí Trịnh Lý về Cầu Đất cùng với đồng chí Trần Luân vận động nhân dân và công nhân đồn điền, hoả xa khởi nghĩa giành chính quyền. Đồng chí còn đích thân vào đồn bảo an thuyết phục đội Nghĩa giao đồn và giao lại cho cách mạng 6 khẩu súng . Khoảng 10 giờ sáng, hàng trăm người tập trung tại sân vận động nghe đồng chí Trịnh Lý tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ của địch, thành lập chính quyền cách mạng do đồng chí Trần Luân làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đình Túc làm thư ký. Những người dự mít tinh vô cùng phấn khởi, lần đầu tiên chính quyền thực sự đã về tay nhân dân.

Tại Trạm Hành, các đồng chí đảng viên, cán bộ cốt cán đã vận động nhân dân, công nhân hoả xa biểu tình buộc lý trưởng nộp con dấu. Trưa ngày 22 tháng 8 năm 1945, các tầng lớp nhân dân tập trung dự mít tinh, các đồng chí lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tuyên bố xoá bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng do đồng chí Nguyễn Đình Lịch làm Chủ tịch, ông Hồ Văn Liên làm thư ký; thành lập đội tự vệ gồm 13 người do ông Trịnh Cửu chỉ huy.

Sau khi giành chính quyền ở Cầu Đất, Trạm Hành thắng lợi, chiều 22 tháng 8 đồng chí Trịnh Lý cùng một số cán bộ, đảng viên và đội tự vệ xuống phối hợp với nhân dân Dran giành chính quyền.

Tại Dran, công việc chuẩn bị khởi nghĩa vẫn theo đúng kế hoạch, 15 giờ ngày 22 tháng 8, khi đồn trưởng đồn bảo an báo lại là bang tá quận Dran sẽ không giao đồn khi chưa có lệnh của tỉnh trưởng, nên Ban vận động khởi nghĩa đã cương quyết hành động theo kế hoạch đã định.

Như thường lệ, chiều ngày 22 tháng 8 thanh niên tập trung luyện tập thể dục thể thao, huấn luyện quân sự và sẵn sàng chờ lệnh. Đúng 17 giờ 30 phút, đồng chí Lê Quang Liệu chỉ huy lực lượng thanh niên xông vào chiếm đồn, thu vũ khí. Tại đồn bảo an, đồng chí Lê Quang Liệu thay mặt ban vận động tuyên bố Việt Minh đã giành chính quyền thắng lợi. Cùng thời gian đó, đồng chí Lê Văn Uẩn chỉ huy một lực lượng đến nhà bang tá Hoàng Hữu Thế thu con dấu, sổ sách giấy tờ. Lúc này đoàn của đồng chí Trịnh Lý cũng vừa xuống Dran và cùng phối hợp giải quyết những công việc tiếp theo.

Tối 22 tháng 8, đoàn của đồng chí Trịnh Lý và Ban vận động khởi nghĩa cùng một số cơ sở cốt cán ở Dran hội ý bàn kế hoạch đi Di Linh và lễ ra mắt Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời cùng Uỷ ban Việt Minh huyện Dran vào ngày 23 tháng 8.

Ngay trong đêm 22 tháng 8, đồng chí Trịnh Lý cùng một số cán bộ và hai tiểu đội thanh niên có vũ trang sử dụng hai xe tải của hãng Avivat, cắm cờ đỏ sao vàng đi Di Linh. Dọc đường đi, đoàn đã tước súng quân Nhật ở trạm gác Liên Khàng, Đại Ninh. Tại Di Linh, được sự giúp đỡ của một số thanh niên, công chức tiến bộ, đồng chí Trịnh Lý phân công một bộ phận do đội Thăng dẫn đầu đến đồn bảo an thuyết phục đồn trưởng Quản Chấp giao đồn cho cách mạng. Một bộ phận khác do đồng chí Trịnh Lý chỉ huy đến Toà sứ Di Linh (nay là trụ sở Uỷ ban nhân dân huyện Di Linh) buộc tỉnh trưởng Cao Minh Hiệu đầu hàng, giao nộp ấn tín, vũ khí và những giấy tờ quan trọng khác. Sau khi Cao Minh Hiệu chấp nhận và thực hiện các yêu cầu của cách mạng, đồng chí Trịnh Lý giao cho Cao Minh Hiệu ở lại quản lý số công chức cũ , không được giải quyết bất cứ việc gì và khi nào cách mạng cử người về tiếp quản sẽ có trách nhiệm bàn giao lại. Việc giành chính quyền ở Di Linh tuy diễn ra nhanh gọn nhưng chưa thành lập chính quyền cách mạnh vì chưa bố trí được cán bộ.

Sáng ngày 23 tháng năm 1945, các tầng lớp nhân dân Dran mang theo cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu đến dự mít tinh tại khu vực ngã ba (nay là trụ sở Uỷ ban nhân dân thị trấn Dran). Đồng chí Trịnh Lý tuyên bố cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi và giới thiệu Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện gồm 7 người :

Phạm Tất Cung: Chủ tịch;

Đoàn Cung: Phó chủ tịch;

Touneh Hàn Đăng: Uỷ viên Dân tộc;

Lê Văn Uẩn: Uỷ viên trị an (công an);

Lê Quang Liệu: Uỷ viên Quân sự;

Lê Văn Xương: Uỷ viên Tư pháp ;

Hoàng Hữu Hưu: Uỷ viên Kinh tế.

Đồng thời giới thiệu Uỷ ban Mặt trận Việt Minh huyện gồm 5 người:

 Nguyễn Ngự: Chủ nhiệm.

 Đoàn Cung, Uỷ viên.

 Lê Văn Dụ: Thư ký.

 Lê Quang Liệu: Uỷ viên.

 Lê Văn Uẩn: Uỷ viên.

Tại cuộc mít tinh này, Ban chấp hành các đoàn thể quần chúng cũng được giới thiệu ra mắt đồng bào .

Những ngày sau đó, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời, Uỷ ban Việt Minh phân công cán bộ xuống các xã bắt lý trưởng nộp con dấu sổ sách giấy tờ và thành lập chính quyền cách mạng, cử người vào Ban Chấp hành Việt Minh và các đoàn thể quần chúng.

Tại Đà Lạt, theo đúng kế hoạch đã định, sáng sớm ngày 23 tháng 8 năm 1945, từ các địa bàn ngoại ô, các tầng lớp nhân dân hàng ngũ chỉnh tề mang theo cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, các loại vũ khí thô sơ rầm rộ kéo về tập trung trước nhà thông tin triển lãm (nay là khu vực trước rạp 3/4) dự mít tinh. Đặc biệt đoàn biểu tình của đồng bào các dân thiểu số ở tổng Lạch (xã Lát huyện Lạc Dương) cũng kéo về Đà Lạt tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.

Tại khu vực trung tâm, gần 10.000 người đội ngũ chỉnh tề, các tổ chức quần chúng như thanh niên, công nhân, phụ nữ, phụ lão, được tổ chức theo từng đoàn tay cầm dao, kiếm, cuốc nỉa, gậy gộc, các đội tự vệ (trong đó có một đơn vị nữ trên 30 chị mặc đồng phục) trang bị dao găm, mã tấu, lựu đạn, súng với khí thế sôi sục cách mạng chờ lệnh Uỷ ban khởi nghĩa.

Được lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, cả một rừng người rợp cờ đỏ búa liềm và cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu kéo đến bao vây dinh Tỉnh trưởng Lâm Viên (nay là số 4 đường Thủ Khoa Huân) liên tiếp hô vang các khẩu hiệu “đả đảo chủ nghĩa đế quốc”; “đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”, “ Mặt trận Việt Minh muôn năm”…Trước sức mạnh của quần chúng và thái độ kiên quyết của Uỷ ban khởi nghĩa, Tỉnh trưởng Ưng An khúm núm đem nộp ấn tín, sổ sách cho đại biểu Uỷ ban khởi nghĩa. Lấy xong dinh tỉnh trưởng, đoàn biểu tình kéo đến bao vây đồn Bảo An, đồn trưởng Quản Trang tập trung binh lính trước sân để làm lễ giao đồn, nộp kiếm và vũ khí (ta thu được trên 200 khẩu súng, trong đó có 4 khẩu trung liên và một số tiểu liên), giấy tờ cho đồng chí Nghiêm Nghị. Cùng lúc đó cờ quẻ ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên tung bay trên cột cờ. Từ đồn bảo an, đoàn biểu tình kéo sang phá cửa nhà lao, thả hết những người bị Nhật bắt giam và đón các đồng chí Ngô Huy Diễn, Nguyễn Thế Tính đang bị giam trong xà lim. Cán bộ và đồng bào vô cùng xúc động được gặp lại hai đồng chí thân yêu của mình đã kiên cường chiến đấu cho đến ngày thắng lợi.

Tiếp đó, đoàn biểu tình kéo đến bao vây dinh Tổng đốc Lâm - Đồng - Bình - Ninh. Khi đại diện của Uỷ ban khởi nghĩa vào gặp, Tổng đốc Trần Văn Lý rất ngoan cố, không chịu giao nộp ấn tín, giấy tờ sổ sách cho cách mạng với lý do y là Tổng đốc của 4 tỉnh và không phục tùng mệnh lệnh của Việt Minh tỉnh Lâm Viên. Sau 2 giờ thương thuyết không có kết quả, Uỷ ban khởi nghĩa quyết định bắt giam Trần Văn Lý, thu toàn bộ ấn tín, sổ sách, giấy tờ và tài sản.

Sau khi đã chiếm được các vị trí quan trọng, Uỷ ban khởi nghĩa quyết định phân tán lực lượng thành các đoàn nhỏ để tiếp quản sở Liêm phóng, đồn cảnh sát, bắt một số tên cảnh sát, mật thám ác ôn, nhưng không thu được giấy tờ sổ sách vì chúng đã đốt trước lúc lực lượng cách mạng đến. Ngoài ra, ta còn tiếp quản một số cơ sở quan trọng khác. Tuy vậy, quân Nhật vẫn còn chiếm Nhà băng (ngân hàng), Kho bạc, Nhà dây thép (bưu điện), Nhà máy đèn, Nha địa dư, Sở thuốc (Viện Pasteur).

Tối 23 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban khởi nghĩa và một số cán bộ, đảng viên, cơ sở cốt cán họp tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên (nguyên là dinh Tỉnh trưởng, số 4 đường Thủ Khoa Huân) để đánh giá tình hình khởi nghĩa, đề ra một số nhiệm vụ trước mắt. Hội nghị nhất trí thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên gồm các đồng chí:

 Phan Đức Huy: Chủ tịch;

 Đinh Quế: Phó chủ tịch;

 Trương Văn Hoàn: Uỷ viên Ngoại giao[7];

 Nghiêm Nghị: Uỷ viên Quân sự;

 Ngô Huy Diễn: Uỷ viên Tuyên truyền;

Phạm Khắc Quán: Uỷ viên Thư ký;

Ta Tiôn Đôn: Uỷ viên Dân tộc[8].

Ngoài ra, còn phân công một số cán bộ phụ trách các ban chuyên môn:

Phạm Lượng: Cảnh sát trưởng

Lương Xuân Chương: Trưởng ban Liêm phóng

Nguyễn Bính: Trưởng ban Trinh sát

Chung Văn Năm: Truởng ban Tài chính

Tôn Thất Trừng: Trưởng ban Kinh tế

Sáng ngày 24 - 8- 1945, các tầng lớp nhân dân Đà Lạt tập trung tại khu vực chợ dự mít tinh. Đại biểu Việt Minh tỉnh báo cáo tình hình Tổng khởi nghĩa trong cả nước và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh Lâm Viên, nhiệm vụ và chương trình của Mặt trận Việt Minh. Sau đó, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên ra mắt đồng bào, một số cán bộ trong Uỷ ban và đại biểu các tầng lớp nhân dân phát biểu ý kiến nói lên niềm tự hào của người dân một nước độc lập, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ và Mặt trận Việt Minh, quyết tâm đoàn kết để bảo vệ nền độc lập.

Sau khởi nghĩa, Uỷ ban Việt Minh tỉnh Lâm Viên được thành lập gồm các đồng chí:

Ngô Huy Diễn: Chủ nhiệm

Nguyễn Thế Tính: Uỷ viên

Phạm Thị Hồng: Uỷ viên

Nguyễn Đình Lãm: Uỷ viên

Những ngày tiếp theo, các đoàn thể quần chúng như công nhân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão cũng được thành lập . Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời và Uỷ ban Việt Minh tỉnh Lâm Viên phân công cán bộ xuống các địa bàn thành lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở.

Để chuẩn bị lực lượng nòng cốt khi thời cơ đến sẽ phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền, đầu tháng 8 năm 1945, đồng chí Hồ Nhã Tránh (Hồng Nhật) xuống Blao tập hợp những công chức thanh niên tiến bộ vào đội tự vệ. Đây còn là lực lượng cán bộ của cách mạng sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Đội tự vệ do đồng chí Hoàng Văn Sỹ và đồng chí Trần Văn Chương phụ trách đã vào các đồn điền để thu số vũ khí của Pháp còn để lại.

Được tin Đà Lạt khởi nghĩa thắng lợi, ngày 26 tháng 8 năm 1945, hàng ngàn nhân dân huyện B’lao mang theo cờ đỏ sao vàng, vũ khí kéo về khu vực vườn thực nghiệm dự mít tinh. Những người chủ trì cuộc mít tinh thông báo cuộc Tổng khởi nghĩa đã thắng lợi ở nhiều địa phương trong cả nước, tuyên bố giải tán chính quyền cũ của địch và thành lập chính quyền cách mạng gồm các ông:

Nguyễn Đại Hoà: Chủ tịch[9]

Lã Xuân Đỉnh: Phó Chủ tịch

Hoàng Nguyễn Lê: Uỷ viên Thường trực

Vũ Huy Trọng: Uỷ viên Quân sự

Đỗ Hữu Duật: Uỷ viên Kinh tế

Sau khi tỉnh Lâm Viên khởi nghĩa giành thắng lợi, chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở được thành lập, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh phát hiện ở tỉnh Đồng Nai Thượng vẫn chưa thành lập chính quyền cách mạng, Tỉnh trưởng Cao Minh Hiệu vẫn tiếp tục quản lý số công chức cũ, nên đã cử đồng chí Hồ Nhã Tránh xuống giúp tỉnh thành lập chính quyền.

Sáng 28 tháng 8 năm 1945, khoảng 100 cán bộ và nhân dân Đà Lạt do đồng chí Hồ Nhã Tránh dẫn đầu đi trên 3 xe ô tô mang cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu xuống Di Linh. Đoàn đã gặp gỡ, trao đổi và tranh thủ ý kiến của anh em công chức,thanh niên về cách tiến hành tiếp quản các cơ quan và cử người đến tiếp quản đồn bảo an. Lực lượng thanh niên hăng hái vận động nhân dân dự mít tinh. Chiều 28 tháng 8, tại sân vận động Di Linh, hàng trăm công chức, thanh niên, đồng bào Kinh, Thượng dự mít tinh. Đồng chí Hồ Nhã Tránh thông báo cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước, ở Đồng Nai Thượng chính quyền đã về tay nhân dân và giới thiệu Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh gồm các đồng chí:

Nguyễn Đại Hoà: Chủ tịch

Nguyễn An: Phó Chủ tịch

Phạm Quý: Uỷ viên

Nguyễn Thiện Thuần: uỷ viên

Lê Khắc Vận: Uỷ viên

Hà Minh Hoài: Uỷ viên

Sau cuộc mít tinh, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh cử người đến tiếp quản một số công sở khác. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban Việt Minh tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập do đồng chí Hồ Nhã Tránh làm chủ nhiệm. Những ngày sau đó các đoàn thể quần chúng và chính quyền cách mạng cũng lần lượt ra đời.

Như vậy, chỉ trong vòng 7 ngày (từ 22 đến 28 tháng 8 năm 1945) với khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân mà hạt nhân lãnh đạo là các Chi bộ Đảng, các tổ chức quần chúng và lực lượng tự vệ, nhân dân các dân tộc hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, thành lập chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh từ tỉnh đến cơ sở.Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thắng lợi đã góp phần cùng cả nước đập tan ách phát xít Nhật trong 5 năm, đập tan ách thống trị của Pháp 87 năm, lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do do nhân dân làm chủ đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng thắng lợi đã đem lại những quyền lợi chính đáng: Bình đẳng dân tộc, bình đẳng nam nữ, ngày làm 8 giờ, bỏ thuế thân, xoá mù chữ, quyền ứng cử, bầu cử…Tuy những quyền lợi đó chỉ được hưởng trong một thời gian ngắn, nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc không thể phai mờ trong mỗi người. Ấn tượng đó đã trở thành động lực tinh thần và được phát huy mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ sau này.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng diễn ra trong lúc tổ chức Đảng ở địa phương còn yếu, số lượng đảng viên ít, có người bị bắt, bị tù đày nhưng vẫn nêu cao ý chí cách mạng và vai trò lãnh đạo, tập hợp được nòng cốt trong thanh niên, công nhân, nông dân, trí thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân, đưa cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, ít bị tổn thất. Trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thu hút đông đảo lực lượng quần chúng tham gia giương cao cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm và với vũ khí trong tay, sôi sục khí thế cách mạng, đã thể hiện sức mạnh to lớn của nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng thắng lợi, sau khi lật đổ chính quyền của địch, phải gắn liền với việc thành lập chính quyền cách mạng mới thực sự đem lại thắng lợi triệt để và trọn vẹn, phát huy được ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Tuy nhiên, do chưa chuẩn bị lực lượng cán bộ nên ở Di Linh đã lật đổ chính quyền địch từ đêm 22 tháng 8 năm 1945 nhưng đến ngày 28 tháng 8 năm 1945 mới đưa lực lượng từ Đà Lạt xuống cùng với các tổ chức quần chúng ở địa phương để thành lập chính quyền cách mạng. Ở Đà Lạt, một số công sở quan trọng quân Nhật vẫn còn chiếm giữ. Mặt khác, do không thấy hết bản chất ngoan cố, hiếu chiến của Nhật - Pháp, nên chính quyền cách mạng chưa có kế hoạch đối phó kịp thời với những diễn biến phức tạp trong những ngày đầu xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.



[1] Ngày 1 tháng 1 năm 1930, phái “tả” của Đảng Tân Việt thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn

[2] Quê ở Nhượng Bản, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.

[3] Còn có tên là Trần ngọc Diệm, quê ở láng Thôn, Hưng Nguyên, Nghệ An, công nhân lái xe khách sạn Palace.

[4] Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ.

[5] Nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[6] Tại Cầu Đất - Trạm Hành có một chi bộ Đảng (còn gọi là chi bộ đường sắt) gồm các đồng chí: Trịnh Lý, Lê Trực, Trần Diêu, Nguyễn Ngự.

[7] Chức vụ Uỷ viên còn gọi là Uỷ trưởng

[8] Người Chu Ru nguyên thừa phái ở dinh Quản Đảo Đà Lạt, năm 1968 làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Tuyên Đức. Từ trần năm 1977.

[9] Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập do đồng chí Nguyễn Đại Hoà làm Chủ tịch nên đồng chí Lã Xuân Đỉnh trực tiếp điều hành mọi công việc của Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Blao.

 

 

<< Quay về phần trước          Phần tiếp theo>>