Tóm tắt Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng
TỈNH UỶ LÂM ĐỒNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
*
Số - BC/TU
Đà Lạt, ngày tháng 9 năm 2010
ĐOÀN KẾT, ĐỔI MỚI, TRÁCH NHIỆM, KỈ CƯƠNG, PHÁT HUY MỌI
NGUỒN LỰC, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH,
ĐƯA LÂM ĐỒNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
(Tóm tắt Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng)
Phần thứ nhất
KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
ĐẠI HỘI LẦN THỨ VIII ĐẢNG BỘ TỈNH (2006- 2010)
I. NHỮNG THÀNH TỰU.
Năm năm qua, trong bối cảnh thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhất là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu...; đối với Lâm Đồng, với đặc điểm của một tỉnh xa các trung tâm kinh tế lớn, điểm xuất phát về kinh tế- xã hội thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực thấp... trước ảnh hưởng của tình hình trong nước và thế giới, càng gặp nhiều khó khăn hơn. Song Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn thử thách, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh đạt nhiều thành tựu quan trọng, đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển.
1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu.
1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm đạt 14%; trong đó: nông, lâm, thủy sản 9,8%, công nghiệp và xây dựng 20,6%, dịch vụ 19,4%.
2- Cơ cấu GDP: nông, lâm, thủy sản 49%, công nghiệp và xây dựng 20%, dịch vụ 31%.
3- GDP bình quân đầu người đạt 19 triệu đồng, gấp 2,8 lần so năm 2005.
4- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 11.285 tỉ đồng, riêng năm 2010 đạt 3.050 tỉ đồng; tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước so với GDP đạt 13,8%, trong đó thuế và phí đạt 8,07%.
5- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm là 20,2%; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 1.200 triệu USD.
6- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 32.328 tỉ đồng, tăng gấp 3,5 lần so với thời kỳ 2001- 2005.
7- Giải quyết việc làm mới hàng năm cho trên 24.000 lao động.
8- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2009.
9- Có 75% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh.
10- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 17,5%.
11- Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đã qua đào tạo đạt 25%.
12- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,35%.
13- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 5%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 15%.
14- Phủ sóng phát thanh, truyền hình đến 100% số xã trong tỉnh.
15- Có 3 xã, 55% thôn, khu phố và 80% cơ quan đạt danh hiệu văn hóa; 80% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa.
16- Giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
17- Năm 2009, có 66,4% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh.
18- Có 1.097 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 86,3% tổng số thôn, khu phố.
2. Các ngành kinh tế tiếp tục phát triển, một số lĩnh vực phát triển vượt bậc.
- Giá trị sản xuất công nghiệp- xây dựng tăng bình quân hàng năm 19,2%; trong đó, công nghiệp tăng 17,5%. Đã tập trung đầu tư nhiều dự án lớn, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển công nghiệp vào những năm sắp tới, như: xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai các dự án thủy điện Đại Ninh, Đồng Nai 3, 4, Đạ M'ri, các dự án thủy điện vừa và nhỏ, khai thác và chế biến quặng bauxite, sản xuất phân bón, chế biến chè, cà phê…
- Đã chú trọng công tác quy hoạch, tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch- thương mại; khai thác các nguồn lực đầu tư xây dựng các khu du lịch, trung tâm thương mại ở một số huyện, thành phố, khuyến khích phát triển hệ thống chợ nông thôn.
Các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm, tư vấn… tiếp tục được mở rộng về quy mô, chất lượng ngày càng được nâng lên, cơ bản đáp ứng nhu cầu của xã hội.
- Về tài chính ngân sách và hoạt động tín dụng ngân hàng có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm đều vượt kế hoạch đề ra; chi ngân sách địa phương đáp ứng được các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, kịp thời giải quyết các khoản chi đột xuất. Trong công tác quản lí điều hành ngân sách đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hoạt động của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng đạt nhiều kết quả quan trọng, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, huy động và cung cấp nguồn vốn cho các tổ chức và cá nhân, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
- Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo chiều sâu; giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất canh tác năm 2010 đạt 76 triệu đồng, tăng gấp 2,9 lần so với năm 2005; giá trị nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Sản xuất lâm nghiệp phát triển theo hướng giảm khai thác, tăng cường quản lí bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế; đã duy trì ổn định độ che phủ của rừng đạt 61%. Kinh tế nông thôn được đầu tư phát triển theo hướng sản xuất tập trung, chuyên canh, ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ tiên tiến vào sản xuất; gắn xây dựng các vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến, phát triển các ngành dịch vụ, tiểu- thủ công nghiệp.
- Tập trung đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đến nay, hầu hết các xã đều có đường bê tông nhựa và điện lưới quốc gia đến trung tâm xã; hệ thống trường học, trạm y tế từng bước được kiên cố hoá và chuẩn hoá; số hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh ngày càng tăng. Hệ thống chính trị được củng cố; quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững.
- Để thực hiện mục tiêu "đột phá, tăng tốc", Tỉnh ủy đã xác định 9 chương trình trọng tâm, 11 công trình trọng điểm và tập trung nguồn lực để đầu tư; phối hợp với các bộ, ngành Trung ương xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng, đặc biệt là trên lĩnh vực giao thông, thủy điện, thủy lợi, cùng với các dự án của địa phương đã hoàn thành đưa vào khai thác, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế- xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp- dịch vụ.
- Cơ bản đã hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; tiếp tục xây dựng, củng cố các loại hình kinh tế tập thể; khuyến khích mạnh việc phát triển kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác ở hầu hết các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật. Phần lớn các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ cá thể đã chấp hành tương đối tốt các quy định của pháp luật, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
3. Lĩnh vực văn hóa- xã hội.
Thực hiện khá tốt chủ trương xã hội hoá lĩnh vực văn hoá- xã hội, huy động được nhiều nguồn lực đầu tư, nhất là vào lĩnh vực giảm nghèo, giáo dục- đào tạo và y tế; từng bước xây dựng, hình thành nếp sống văn hoá, văn minh, đảm bảo công bằng xã hội trong đời sống của nhân dân.
Các chương trình, dự án giảm nghèo được tổ chức thực hiện có hiệu quả; đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết 30a của Chính phủ, tỉnh đã phê duyệt đề án giảm nghèo nhanh và bền vững cho huyện Đam Rông và vận dụng Nghị quyết 30a, phê duyệt đề án cho 16 xã và 94 thôn, buôn nghèo, tạo điều kiện giảm nghèo bền vững trong những năm sau. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng đa dạng hoá về loại hình trường lớp và phương thức đào tạo, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Chú trọng công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất và đời sống, nhất là các đề tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hoạt động bảo vệ môi trường được quan tâm, đã hạn chế tình trạng ô nhiễm tại các đô thị, khu công nghiệp tập trung. Hoạt động y tế, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho người dân có chuyển biến tích cực. Lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, báo chí, phát thanh, truyền hình có nhiều tiến bộ. Phong trào thể dục- thể thao quần chúng, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng phát huy tác dụng thiết thực.
4. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; chủ động phát hiện, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cơ bản giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; thực hiện khá tốt chủ trương kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh. Chỉ đạo xây dựng lực lượng cốt cán trong vùng dân tộc, tôn giáo; quan tâm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên.
- Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ bản đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật; hàng năm giải quyết được trên 80% số lượng ; giảm dần tình hình khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp.
5. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
5.1. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
- Chú trọng chỉ đạo, đổi mới phương thức lãnh đạo của các tổ chức đảng, kịp thời xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của cấp ủy. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách của tỉnh; phát huy dân chủ, sự năng động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân trong nghiên cứu vận dụng các chủ trương của Đảng, xác định các chương trình trọng tâm, công trình và địa bàn trọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Xác định những định hướng lớn phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 phục vụ xây dựng các văn kiện trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX.
- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đã gắn học tập với thảo luận, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động và tuyên truyền, cung cấp thông tin đến các tầng lớp nhân dân; gắn công tác tư tưởng với thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết những vấn đề quan trọng, nhạy cảm, phức tạp, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền các cấp.
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai đồng bộ, sâu rộng, tạo sự chuyển biến đáng kể trong rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên.
- Thực hiện tương đối tốt việc quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp; việc đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ cơ bản đúng quy trình, bảo đảm dân chủ, công khai, phát huy được trí tuệ của tập thể. Đội ngũ cán bộ, công chức đã được tăng cường cả về số lượng, chất lượng; từng bước trẻ hoá, chuẩn hoá, khắc phục dần tình trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo các cấp; tổ chức bộ máy được sắp xếp, kiện toàn và hoạt động ổn định.
- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng đã nâng lên rõ rệt, thể hiện được vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện trong từng cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị. Năm 2009, có 66,4% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và 25,8% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 14,2% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và 73,9% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác phát triển đảng viên, xoá thôn, buôn trắng tổ chức đảng, đảng viên được quan tâm; trong nhiệm kỳ, bình quân hàng năm kết nạp được 1.718 đảng viên. Đến nay, có 1.097 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 86,3% tổng số thôn, khu phố; đã thu hẹp được 191 thôn, khu phố chưa có tổ chức đảng và 31 thôn, khu phố chưa có đảng viên (chỉ còn 4 thôn chưa có đảng viên). Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được các tổ chức đảng quan tâm, kịp thời giải quyết vấn đề về lịch sử chính trị của một số cán bộ, đảng viên.
- Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được chỉ đạo kịp thời và từng bước đi vào nề nếp; đã tập trung nhiều hơn cho việc kiểm tra, giám sát các cơ quan, đơn vị và lĩnh vực công việc dễ nảy sinh tiêu cực.
5.2. Công tác dân vận, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
Công tác vận động quần chúng có chuyển biến tiến bộ cả về nội dung, phương thức và lực lượng tham gia; vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân được phát huy; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và chính quyền các cấp ngày càng được tăng cường và phát huy hiệu quả.
5.3. Xây dựng chính quyền.
- Hội đồng nhân dân các cấp đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; hoạt động giám sát được duy trì, tập trung vào những vấn đề bức xúc của nhân dân.
Tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của uỷ ban nhân dân từ tỉnh đến cơ sở được sắp xếp, kiện toàn theo chỉ đạo của Trung ương, nội dung và phương thức hoạt động từng bước được đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lí, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của địa phương. Tập trung chỉ đạo cải cách tư pháp, củng cố, kiện toàn tổ chức, cán bộ các cơ quan tư pháp địa phương. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm được triển khai nghiêm túc.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém, cơ bản như sau:
- Tuy đã thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, song Lâm Đồng vẫn còn là tỉnh nghèo, quy mô kinh tế nhỏ, thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiềm năng và lợi thế của tỉnh chưa được phát huy đúng mức; khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp, sản phẩm thấp. Công tác quy hoạch, quản lí quy hoạch còn bất cập, vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ không ổn định; hiệu quả sử dụng đất chưa cao, diện tích rừng, đất rừng tiếp tục bị lấn chiếm, tàn phá, môi trường, môi sinh chưa được quản lí, bảo vệ nghiêm ngặt. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội yếu kém. Kinh tế tập thể phát triển chậm và hoạt động kém hiệu quả. Tiến độ triển khai các dự án chậm, công tác đền bù giải phóng mặt bằng khó khăn; chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số chương trình trọng tâm chưa quyết liệt, hiệu quả chưa cao. Thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực xã hội chưa đều. Khoảng cách giàu nghèo có xu hướng giãn ra, nguy cơ tái nghèo cao.
- Tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở ở một số địa phương còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ; chưa chấp hành nghiêm kỉ luật, kỉ cương trong quản lí nhà nước; cải cách hành chính chậm, hiệu quả thấp. Tệ tham nhũng, lãng phí, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả. Một số tổ chức cơ sở đảng thiếu tính chiến đấu, có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ; trong lãnh đạo còn can thiệp sâu vào công tác quản lí, điều hành của chính quyền. Chậm khắc phục tình trạng hụt hẫng về đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Phương thức vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chậm đổi mới; nội dung kiểm tra, giám sát của một số cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra còn dàn trải; một số cuộc kiểm tra, giám sát chất lượng chưa cao. An ninh chính trị còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định.
Những thành tựu đạt được có nguyên nhân chủ quan và khách quan, song chủ yếu, do những nguyên nhân sau:
1- Sự vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương phù hợp với thực tiễn của địa phương; phát huy được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển.
2- Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, củng cố và tăng cường sự đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội, sự đồng bộ trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng.
3- Tập trung chỉ đạo, xây dựng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; nhiều cán bộ đã mạnh dạn đổi mới tư duy và phong cách lãnh đạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Những hạn chế, yếu kém trong nhiệm kỳ qua, ngoài nguyên nhân khách quan là các nguyên nhân chủ quan chính như sau:
1- Năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, hiệu quả hoạt động của chính quyền ở một số nơi còn hạn chế; ý thức chấp hành kỉ luật, kỉ cương, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên chưa cao.
2- Công tác vận động quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới; chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội ở một số nơi còn hạn chế.
3- Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
1- Giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị.
2- Tập trung xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực quản lí của chính quyền, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
3- Xác định rõ tiềm năng, thế mạnh; lựa chọn đúng nội dung đột phá, các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm và chỉ đạo quyết liệt trong tổ chức thực hiện. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót.
4- Bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, phải coi trọng phát huy nội lực, đặc biệt là về vốn, công nghệ, lao động, năng lực tổ chức thực hiện, làm tiền đề để thu hút và tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư. Ưu tiên đầu tư phát triển và thu hút đầu tư vào những ngành và lĩnh vực có lợi thế so sánh của địa phương.
5- Lãnh đạo phát triển kinh tế phải được tiến hành đồng bộ với giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; quan tâm đầu tư xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP 5 NĂM 2011- 2015.
1. Phương hướng, mục tiêu tổng quát 5 năm 2011- 2015.
Giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, trong hệ thống chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ; đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành kỉ cương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát huy mọi nguồn lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; đảm bảo quốc phòng, an ninh; đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể.
1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (giá 1994) bình quân hàng năm đạt 15- 16%; trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 7,8- 8,3%, công nghiệp và xây dựng tăng 22,5- 24,1%, dịch vụ tăng 19- 20%.
2- Cơ cấu kinh tế năm 2015: nông- lâm- thủy sản 36,8- 37%, công nghiệp và xây dựng 26,8- 28%, dịch vụ 35,2- 35,8%.
3- GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 44,5- 46,2 triệu đồng (khoảng 2.200- 2300 USD), gấp hơn 2 lần so với năm 2010.
4- Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 2.860 triệu USD.
5- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt 84.000- 84.300 tỉ đồng, tăng bình quân 18- 18,6%/năm.
6- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 29.800- 30.500 tỉ đồng. Tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách đạt 14,3%; trong đó thuế, phí 19.200- 19.700 tỉ đồng, tỉ lệ huy động đạt 9,3%.
7- Giải quyết việc làm mới hàng năm 28.000- 30.000 lao động.
8- Có 90% dân số đô thị được sử dụng nước sạch; 85% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh.
9- Có 70% học sinh trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông và tương đương.
10- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 15%.
11- Có 35- 40% lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo.
12- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,3%; quy mô dân số 1,3 triệu người.
13- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 1%; trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 5%.
14- Có ít nhất 30% số xã cơ bản đạt các tiêu chí về nông thôn mới.
15- Có ít nhất 30% xã, phường, thị trấn; 75% thôn, tổ dân phố và 100% cơ quan đạt danh hiệu văn hóa; 85% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa.
16- Duy trì tỉ lệ che phủ rừng 61%.
17- Giữ vững quốc phòng, an ninh.
18- Hàng năm, có ít nhất 68% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và có 27% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 15% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và 75% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ.
19- Mỗi năm, kết nạp từ 1.750 đảng viên trở lên.
20- Có ít nhất 80% thôn, tổ dân phố, 90% đơn vị sự nghiệp có tổ chức đảng; 100% thôn và trường học có đảng viên.
3. Nhiệm vụ và giải pháp.
3.1. Lĩnh vực kinh tế.
a. Quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Coi trọng công tác quy hoạch và quản lí quy hoạch; rà soát, điều chỉnh quy hoạch đi đôi với tăng cường quản lí quy hoạch. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh của các lĩnh vực, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.
b. Xác định 5 khâu đột phá; các công trình, địa bàn trọng điểm.
- Để có cơ sở thu hút các nguồn lực đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo bước đột phá phát triển kinh tế- xã hội vào những năm sau, trong nhiệm kỳ này, cần tập trung vào 5 khâu đột phá:
+ Phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế- xã hội, trọng tâm là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị.
+ Phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm phát huy lợi thế các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đồng thời từng bước sắp xếp lại sản xuất nông nghiệp, tạo sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
+ Phát triển dịch vụ du lịch chất lượng cao, sớm hình thành một số khu du lịch lớn, đa dạng hóa các loại hình đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ.
+ Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế của địa phương trong những năm đến.
+ Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và công nghiệp khai thác khoáng sản.
- Xác định 16 công trình trọng điểm: Các khu công nghiệp: Lộc Sơn, Tân Phú, Phú Hội. Dự án thuỷ điện Đồng Nai 5. Các dự án thuỷ lợi: Đạ Sị, Đạ Lây. Các khu du lịch: hồ Tuyền Lâm, hồ Đại Ninh, Đan Kia- Đà Lạt. Đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương. Các đường liên tỉnh: 721, 725. Các đường vành đai thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc. Quảng trường thành phố Đà Lạt. Trung tâm văn hóa thể thao Lâm Đồng.
- Tiếp tục xác định 4 địa bàn trọng điểm của tỉnh là: thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, huyện Bảo Lâm.
c. Phát triển công nghiệp- xây dựng.
Tập trung các nguồn lực đầu tư theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, nâng cao tỉ trọng công nghiệp- xây dựng trong cơ cấu kinh tế. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông- lâm sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp năng lượng; tạo điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Tập trung phát triển hạ tầng để khai thác có hiệu quả diện tích đất của các khu, cụm, điểm công nghiệp.
d. Phát triển các ngành dịch vụ.
Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại; hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm và dịch vụ, áp dụng tiêu chuẩn hệ thống quản lí chất lượng phù hợp để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
- Về du lịch: Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng chất lượng cao, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch. Đầu tư hạ tầng một số khu du lịch mới để kêu gọi đầu tư khai thác; gắn với khu vực miền Trung- Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ, hình thành các tam giác phát triển du lịch. Phấn đấu thu hút lượng khách đến tăng bình quân hàng năm 10- 11%; đến năm 2015 đạt 4,5- 5,0 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm 10%. Tăng thời gian lưu trú bình quân của khách lên 2,7 ngày.
- Về thương mại: Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển các trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị, chợ trung tâm có chất lượng cao; triển khai chương trình phát triển hệ thống chợ nông thôn. Giữ vững thị trường truyền thống, tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu; ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến.
- Quan tâm đầu tư phát triển đồng bộ các dịch vụ khác, như: vận tải, bưu chính viễn thông, chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm, tư vấn… đảm bảo phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân.
đ. Lĩnh vực tài chính ngân sách và tín dụng ngân hàng.
- Tài chính ngân sách: Thực hiện nghiêm các chủ trương điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trên lĩnh vực quản lí tài chính, ngân sách, giá cả… Xây dựng và thực hiện tốt Đề án thu thuế giai đoạn 2011- 2015; phấn đấu thu từ thuế phí đến năm 2015 tăng gấp 2 lần so với năm 2010. Điều hành chi ngân sách đảm bảo đúng dự toán, đúng chế độ.
- Ngân hàng: Duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lí nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay bình quân hàng năm đạt trên 18% và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch do ngân hàng cấp trên giao để đến năm 2015, nguồn vốn huy động đạt số dư 24.000 tỉ đồng; dư nợ cho vay đạt 39.000 tỉ đồng; tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới 3%.
e. Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn.
- Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo nhanh, bền vững. Đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông- lâm sản; bố trí lại cơ cấu cây trồng, vùng sản xuất công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Phấn đấu đến năm 2015, giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất canh tác bình quân đạt 100 triệu đồng. Tạo điều kiện giúp đỡ, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững các mô hình tổ chức sản xuất, các loại hình kinh tế tập thể ở nông thôn.
- Tiếp tục thực hiện xã hội hoá nghề rừng; thực hiện Đề án quản lí, sử dụng và phát triển bền vững rừng sản xuất thông 3 lá tự nhiên nhằm khai thác lợi thế của tỉnh. Mở rộng diện thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cùng với các biện pháp khác nhằm đảm bảo người dân có thể sống, làm giàu từ nghề rừng; hạn chế và tiến tới chấm dứt nạn phá rừng.
- Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới của xã Tân Hội (huyện Đức Trọng) và 11 xã điểm ở các huyện, thành phố để nhân rộng. Tiếp tục thực hiện các chương trình phát triển thủy lợi; chương trình phát triển giao thông nông thôn... Đến năm 2015, có 85% dân số nông thôn dùng nước hợp vệ sinh, trên 95% hộ nông thôn được dùng điện, 100% đường trục xã, liên xã được nhựa hóa, bê tông hóa, 30% đường trục thôn, xóm, hẻm, đường trục chính nội đồng được cứng hóa.
g. Đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách đối với người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện cơ bản về đời sống, giảm tỉ lệ hộ nghèo và đảm bảo quốc phòng an ninh. Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, trong đó chú ý người dân tộc gốc Tây Nguyên, khắc phục tình trạng hụt hẫng cán bộ; coi đây là hướng đột phá trong việc đầu tư toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
h. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị.
Tập trung đầu tư các công trình trọng điểm để sớm đưa vào sử dụng. Rà soát toàn bộ các quy hoạch xây dựng đô thị để điều chỉnh, hoàn thiện. Thực hiện Chương trình phát triển nhà ở đô thị, nhà ở cho học sinh- sinh viên, công nhân và đối tượng thu nhập thấp. Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa mạng lưới giao thông nội thị. Đầu tư xây dựng và nâng công suất các nhà máy, các công trình cấp, thoát nước, xây dựng các nhà máy xử lí chất thải ở các đô thị lớn, đặc biệt là xử lí chất thải rắn.
Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng Đà Lạt trở thành thành phố du lịch chất lượng cao và trung tâm giáo dục- đào tạo, nghiên cứu khoa học của cả nước và khu vực; thể hiện tốt vai trò là trung tâm chính trị- hành chính, kinh tế, văn hoá, dịch vụ và đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh.
Xây dựng Bảo Lộc trở thành đô thị công nghiệp của tỉnh gắn với phát triển các ngành dịch vụ; thể hiện rõ vai trò là vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Nam của tỉnh.
i. Tiếp tục củng cố, xây dựng quan hệ sản xuất.
Trọng tâm là sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới, phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là các hợp tác xã trên các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác phát triển phù hợp, bình đẳng theo quy định của pháp luật. Tập trung chỉ đạo xây dựng một số doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh và có khả năng chi phối được thị trường trong nước và khu vực đối với các sản phẩm hàng hóa- dịch vụ thuộc những lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế.
k. Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường.
Tăng cường đầu tư của Nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực bảo vệ môi trường; trước hết là các hoạt động thu gom, xử lí và tái chế chất thải. Khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lí; có biện pháp ngăn chặn nạn cháy rừng, phá rừng, tình trạng khai thác tài nguyên trái phép và các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
3.2. Lĩnh vực văn hoá- xã hội.
a. Về giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.
- Đổi mới phương pháp dạy và học, quan tâm chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo nhằm phát huy mọi nguồn lực đầu tư; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên các cấp đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, đảm bảo về phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề nghiệp; ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
- Nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các đề tài, dự án khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và sự phát triển nhanh, bền vững của địa phương.
- Triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nghề cho lao động theo nhu cầu của xã hội; thực hiện tốt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của Chính phủ. Mặt khác, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động. Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lí; phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, phát huy nhân tài.
b. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số, kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
- Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời với đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế; giáo dục, nâng cao y đức của đội ngũ cán bộ y tế đi đôi với phát triển và nâng cao chất lượng mạng lưới dịch vụ khám, chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cơ sở. Phát triển mạng lưới y tế dự phòng đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các dịch bệnh, chủ động phòng chống dịch.
- Thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách về dân số, duy trì mức sinh hợp lí, quy mô gia đình ít con. Quan tâm công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện. Thực hiện bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc.
c. Về văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.
- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá; tập trung xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, xây dựng xã, phường, thôn, tổ dân phố, gia đình văn hóa.
Nâng cao chất lượng thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; tập trung xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.
- Sắp xếp, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội được thông tin của nhân dân. Chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng của Báo Lâm Đồng, Đài Phát thanh- Truyền hình Lâm Đồng. Phủ sóng truyền hình mặt đất đến 100% hộ dân.
- Quan tâm chỉ đạo phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thể dục, thể thao; đầu tư xây dựng hoàn chỉnh sân vận động và khu trung tâm đủ tiêu chuẩn tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao cấp quốc gia và khu vực.
d. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội khác.
- Thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững của Chính phủ theo Nghị quyết số 30a đối với huyện Đam Rông và vận dụng cho các xã, thôn nghèo của tỉnh; đồng thời, phát huy mọi nguồn lực tiếp tục thực hiện lồng ghép các chương trình khác để giảm nghèo và có biện pháp tích cực, cụ thể giúp đỡ các hộ cận nghèo vươn lên và không để tái nghèo.
- Thực hiện tốt các chính sách xã hội, vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với những người có công với nước và các đối tượng chính sách xã hội khác.
3.3. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
a. Về quốc phòng, an ninh.
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về đảm bảo quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Xây dựng tiềm lực quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế- xã hội với quốc phòng, an ninh; chăm lo xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vững mạnh toàn diện; quan tâm chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên, công an viên làm nòng cốt trong việc giữ gìn trật tự ở cơ sở.
b. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo đối với công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đồng thời tăng cường công tác quản lí nhà nước trên lĩnh vực kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh nhằm hạn chế thấp nhất những sơ hở, thiếu sót là nguyên nhân chính phát sinh khiếu nại, tố cáo.
3.4. Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị.
a. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của các cấp uỷ đảng; gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với thực hiện nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cấp uỷ; giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan khối Đảng, đoàn thể, giảm bớt hội họp, bám sát cơ sở.
- Công tác tư tưởng.
Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính sắc bén, tính thuyết phục, tính chiến đấu của công tác tư tưởng. Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Tổ chức thực hiện sâu rộng, thiết thực và có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn thực hiện Cuộc vận động với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Công tác cán bộ.
Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có cơ cấu hợp lí, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ đáp ứng nhu cầu của địa phương. Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí theo quy hoạch; xây dựng môi trường thuận lợi để cán bộ được rèn luyện, học tập, bồi dưỡng kiến thức và phát huy tính năng động, sáng tạo trong công tác. Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
- Xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên.
Tập trung chỉ đạo, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh; củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tạo sự chuyển biến rõ nét về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; gắn xây dựng, củng cố tổ chức đảng với chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên ở cơ sở. Đổi mới và tăng cường công tác quản lí, phát triển đảng viên, tập trung chỉ đạo xây dựng tổ chức đảng, phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn và trong các doanh nghiệp.
- Công tác kiểm tra, giám sát.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp; trọng tâm là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là thực hiện quy chế làm việc, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên; lưu ý những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, như: quản lí đất đai, tài nguyên, tài chính, tài sản công, các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, công tác đền bù giải toả... Coi trọng công tác kiểm tra của tổ chức đảng ở cơ sở, công tác giám sát của các tổ chức đoàn thể và nhân dân.
Quan tâm chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức, cán bộ của uỷ ban kiểm tra các cấp; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra, tạo điều kiện để cán bộ tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, thể hiện rõ chính kiến trong thực thi nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỉ luật của Đảng.
b. Công tác dân vận, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng; hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy chế phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội. Tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội tham gia ngay từ đầu khi xây dựng chủ trương, chính sách có liên quan đến lợi ích và nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân; bảo đảm phát huy trách nhiệm và sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quần chúng của Đảng.
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, hướng hoạt động về cơ sở, tăng cường các hoạt động hỗ trợ để nâng cao chất lượng cuộc sống, công tác và học tập của đoàn viên, hội viên. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám sát xã hội, làm nòng cốt trong tập họp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
c. Xây dựng chính quyền.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân; phát huy dân chủ, công khai trong thảo luận, chất vấn; thực hiện tốt hơn công tác tiếp xúc, giải quyết kiến nghị của cử tri, công tác giám sát, thẩm tra của hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện tốt công tác phối hợp tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.
- Tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp chỉ đạo, điều hành của chính quyền, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động, xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh. Thực hiện triệt để các quy định về phân công, phân cấp quản lí nhà nước giữa các cấp chính quyền đi đôi với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát. Nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong các cơ quan hành chính nhà nước địa phương.
Đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; đổi mới hoạt động của hệ thống toà án, viện kiểm sát, tăng cường sự tham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
- Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ, công chức nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Xây dựng phong cách làm việc khoa học, năng động, hiệu quả.
- Kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lí nghiêm minh, kịp thời, công khai, dứt điểm các hành vi tham nhũng. Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức; cổ vũ, động viên phong trào tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.
***
Trong nhiệm kỳ Đại hội IX, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; chú trọng cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước, năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp; đặc biệt là trong triển khai 5 khâu đột phá, các công trình, địa bàn trọng điểm.
- Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp, của nhân dân.
- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương.
- Xây dựng, phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội; phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng của địa phương.
- Xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo nhanh và bền vững, đặc biệt là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu "đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển". Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX khẳng định quyết tâm chính trị lãnh đạo toàn dân, toàn quân phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua khó khăn, giữ vững đoàn kết, kiên trì đổi mới, nâng cao trách nhiệm, giữ vững kỉ cương, phát huy mọi nguồn lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững./-
T/M TỈNH ỦY
Nơi nhận: BÍ THƯ
- Bộ Chính trị;
- Các ban của Trung ương, Văn phòng TW Đảng;
- Ban chỉ đạo Tây Nguyên;
- Các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy;
- Các đại biểu dự đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh;
- Lưu Văn phòng Tỉnh ủy.
Huỳnh Phong Tranh