Đề án xây dựng thị trấn Đạ M'ri đạt chuẩn văn minh đô thị giai đoạn 2016-2018 

ĐỀ ÁN

Xây dựng thị trấn Đạ M’ri đạt chuẩn văn minh đô thị

(giai đoạn 2016 - 2018)

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 867/QĐ - UBND

Ngày 27 tháng 7 năm 2016  của UBND huyện Đạ Huoai)

_________________________

 

Phần mở đầu:

I. Cơ sở pháp lý xây dựng Đề án.

- Nghị quyết số 33-NQ-TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước;

- Quyết định số 1610/QĐ-TTg ngày 16/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 447/QĐ-UBDT ngày 19/9/2013 của Ủy ban dân tộc về việc công nhận thôn đặc biệt khó khắn, xã khu vực I, II, III thuộc khu vực đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 – 2015;

- Thông tư số 02/2013/TT-BVHTTDL ngày 24/01/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch V/v Quy định chi tiết, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”, “Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị”;

- Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 10/6/2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quy chế xét, công nhận “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”, “Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị” trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đạ Huoai lần thứ VIII nhiệm kỳ 2015 - 2020.

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị trấn Đạ M’ri lần thứ IX, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

II. Mục đích xây dựng Đề án.

Nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội thị trấn Đạ M’ri phát triển một cách nhanh chóng và bền vững, góp phần xây dựng thị trấn ngày càng giàu đẹp, văn minh, trở thành trung tâm đô thị cấp tiểu vùng của huyện và trung tâm dịch vụ - thương mại gắn với phát triển du lịch sinh thái tạo sự thúc đẩy phát triển của các xã tiểu vùng kinh tế phía bắc của huyện. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cả về quy mô và chất lượng. Từng bước đưa văn hóa đi vào đời sống sinh hoạt của nhân dân; duy trì và phát triển các phong trào: Văn hoá - văn nghệ, thể dục - thể thao; ngăn chặn và đẩy lùi các văn hóa phẩm đồi trụy, các tệ nạn xã hội, các phong tục tập quán lạc hậu xâm nhập vào cộng đồng; phát huy và nâng cao tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng; xây dựng môi trường cảnh quan xanh, sạch, đẹp; thực hiện nghiêm phát lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

III. Đặc điểm tình hình tự nhiên - xã hội của thị trấn Đạ M’ri.

Thị trấn ĐạM’ri nằm phía bắc huyện Đạ Huoai, cách trung tâm huyện lỵ Đạ Huoai 18 km, ranh giới hành chính của thị trấn được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp xã Đạ M’ri;

- Phía Đông giáp xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc;

- Phía Nam giáp xã Đạ P’loa;

- Phía Tây giáp xã Hà Lâm.

Tổng diện tích tự nhiên 4.137 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 1.338 ha, đất lâm nghiệp 2.528 ha, đất ở đô thị 19,75ha. Dân số 1.160 hộ 4.801 khẩu. Thị trấn được chia thành 8 tổ dân phố (từ tổ dân phố 1 đến tổ dân phố 8). Dân tộc kinh chiếm đại đa số, còn lại là dân tộc châu mạ và một số dân tộc khác. Các tôn giáo có Thiên chúa giáo có 87 hộ 315 khẩu, Phật giáo có 146 hộ 685 khẩu, Tin lành 25 hộ 119 khẩu, Cao đài 07 hộ 34 khẩu. Thị trấn Đạ M’ri có tiềm năng trờ thành điểm dừng chân, thu hút thương mại dịch vụ. Và có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, tiêu thụ các loại nông, lâm sản của địa phương và là đầu mối kinh tế cho các xã phía bắc của huyện. Khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp với các loại cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi gia súc, gia cầm. 

Phần thứ nhất:

Thực trạng kinh tế - xã hội của thị trấn ĐạM’ri

I. Kết quả đạt được:

- Thị trấn Đạ M’ri được thành lập từ năm 1986. Kể từ khi được thành lập đến nay, tuy có nhiều khó khăn, thách thức nhưng được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở; sự đoàn kết, đồng thuận và tinh thần khắc phục mọi khó khăn của cán bộ và nhân dân thị trấn. Trong những năm qua kinh tế xã hội của thị trấn Đạ M’ri đã và đang từng bước phát triển, Quốc phòng - An ninh luôn ổn định và giữ vững. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao. Hộ đói đã được xóa, tỷ lệ hộ nghèo trong các năm đều giảm. Các chính sách xã hội luôn được triển khai và thực hiện tốt. Phong trào “TDĐKXDĐSVH” được triển khai sâu rộng trong nhân dân, được đại đa số nhân dân đồng tình hưởng ứng, chất lượng và hiệu quả của phong trào từng bước được nâng cao. 100% cán bộ Đảng viên, công chức, viên chức tích cực hưởng ứng việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách thiết thực và hiệu quả. Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở luôn được duy trì và phát huy, đảm bảo nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Công tác cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa” “Một cửa liên thông” đã từng bước được đổi mới. Các tổ chức trong hệ thống chính trị hàng năm đều đạt vững mạnh, trong sạch vững mạnh.

- Đến nay thị trấn đã đạt được một số thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh như sau:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt từ 10 đến 12%.

+ Thu nhập bình quân đầu người đạt 30,8 triệu đồng/người/ năm.

+ Thu ngân sách đạt và vượt chỉ tiêu trên giao.

+ Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,6% (theo chuẩn nghèo đa chiều).

+ 92% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hóa.

+ Có 07/08 tổ dân phố đạt danh danh hiệu tổ dân phố văn hóa.

+ 100% số hộ gia đình được sử dụng điện sinh hoạt.

+ Phòng khám đa khoa khu vực và Trạm y tế đã được đầu tư xây dựng đáp ứng việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.

+ 100% các hộ sử dụng nước hợp vệ sinh. Hiện nay, nhà máy đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng.

+ Hiện nay 04 trường đã được đầu tư xây dựng đảm bảo cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh.

II. Hạn chế tồn tại.

Bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, thị trấn vẫn còn những khó khăn hạn chế đó là:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh ở địa phương. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển nhưng còn mang tính nhỏ lẻ. Công tác quản lý nhà nước về đất đai và xây dựng vẫn còn hạn chế. Tiến độ xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đường nội đồng còn chậm. Vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế.

- Chất lượng của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở một số tổ dân phố đạt chưa cao.

- Quỹ đất để xây dựng nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở một vài tổ dân phố không có, sân vận động không hoạt động được do đường dây 500Kv đi qua, từ đó đã ảnh hưởng nhiều đến việc sinh hoạt, hội họp và phát triển phong trào văn nghệ, thể dục thể thao ở địa phương.

Phần thứ hai:

Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án.

I. Mục tiêu của Đề án.

1. Mục tiêu tổng quát:

- Đề án xây dựng thị trấn Đạ M’ri đạt chuẩn văn minh đô thị nhằm xây dựng thị trấn có đời sống kinh tế ổn định và phát triển bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo đúng định hướng làm cho đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao. Từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

- Nhân dân có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” trên địa bàn thị trấn được nâng cao cả về chất và lượng, làm cơ sở vững chắc để xây dựng con người mới phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, cng cố An ninh - Quốc phòng của địa phương.

- Có hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đổi mới cải cách hành chính, nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức. Đoàn kết phát huy dân chủ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội.

- Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng được quản lý, xây dựng theo quy hoạch, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hi, an ninh - quốc phòng; mạng lưới các thiết chế văn hoá, thông tin, thể thao đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ của nhân dân.

2. Mục tiêu cụ thể:

2.1. Chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương:

- 100% hộ gia đình là cán bộ, đảng viên; 95% hộ gia đình nhân dân trên địa bàn trở lên chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; hoàn thành tốt nhiệm vụ phát trin kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng; tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, hoạt động văn hóa, thể thao do địa phương và cấp trên tổ chức phát động;

- Đảng bộ hàng năm đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh; không có chi bộ yếu kém, trong đó:90% số Chi bộ trở lên đạt trong sạch, vững mạnh;

- Giữ gìn tốt an ninh trật tự, an toàn xã hội; không có cán bộ, đảng viên vi phạm các tệ nạn xã hội và bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên; không có cán bộ công chức vi phạm việc uống rượu bia trong giờ làm việc và buổi trưa của các ngày làm việc; thực hiện tốt văn hóa trong giao tiếp, ứng xử, nội bộ cán bộ thị trấn và nhân dân đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau thi đua lao động sản xuất, hoàn thành tốt nhiệm vụ của địa phương; chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội được công nhận vững mạnh, hoạt động có hiệu quả đạt các danh hiệu thi đua hàng năm, không có tổ chức yếu kém;

- 100% khu dân cư xây dựng quy ước cộng đồng; Ban vận động xây dựng khu dân cư văn hóa hoạt động hiệu quả; nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng thường xuyên duy trì hội họp, sinh hoạt và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao;

- Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; tổ chức các hoạt động để nhân dân giám sát chính quyền, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; đấu tranh phòng chống tham nhũng; không có đơn thư khiếu kiện đông người, vượt cấp; không có điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không có các tệ nạn xã hội; không có trọng án xảy ra;

- Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa; “Một cửa liên thông”. Cán bộ công chức, viên chức nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ; không gây phiền hà, sách nhiễu với tổ chức, cá nhân đến giao dịch công tác.

2.2. Về phát triển kinh tế, quản lý kiến trúc, xây dựng đô thị theo quy hoạch:

- Đời sống kinh tế của nhân dân ổn định và từng bước phát triển, không có hộ đói; tỷ lệ hộ nghèo dưới 1,2%;

- Quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố công khai tại địa bàn;

- 100% công trình công cộng xây mới đúng quy hoạch, có kiến trúc hài hòa, đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hiện hành;

- 90% các công trình công cộng về hành chính, văn hóa - xã hội và hạ tầng cơ sở đô thị trở lên được đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo đạt tiêu chuẩn quy định để phục vụ nhân dân;

- 100% khu dân cư vận động nhân dân thường xuyên tham gia bảo dưỡng, nâng cấp cơ sở hạ tầng đô thị và giữ gìn vệ sinh môi trường;

- Thực hiện tốt trách nhiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và trật tự xây dựng; xử lý kịp thời, dứt điểm các vi phạm pháp luật về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng đô thị; không có công trình xây dựng vi phạm pháp luật nghiêm trọng đến mức phải cưỡng chế, tháo dỡ;

- Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả các công trình công cộng trên địa bàn, phục vụ lợi ích công cộng; không lấn chiếm, sử dụng diện tích đất công và công trình công cộng vào mục đích thương mại, nhà ở;

- Nhân dân quan tâm đầu tư cải tạo xây dựng, nâng cấp nhà cửa, trong đó: 65% nhà ở của người dân trở lên được xây dựng mới, hoặc cải tạo, chỉnh trang, làm đẹp kiến trúc đô thị.

2.3. Về văn hóa - xã hội

* Nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa:

Có từ 98% số hộ gia đình trở lên đăng ký xây dựng gia đình văn hóa hàng năm, trong đó:

+ 90% số hộ gia đình trở lên đạt danh hiệu gia đình văn hóa;

+ 85% số hộ gia đình trở lên đạt danh hiệu gia đình văn hóa 3 năm liên tục;

100% số tổ dân phố xây dựng quy ước, đăng ký và tổ chức phát động xây dựng khu dân cư văn hóa, trong đó:

+ 90% số khu dân cư trở lên đạt danh hiệu văn hóa;

+ 85% số khu dân cư trở lên đạt danh hiệu văn hóa 6 (sáu) năm liên tục;

100% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn do thị trấn quản lý đăng ký xây dựng đạt chuẩn văn hóa, trong đó: 90% đạt chun văn hóa liên tục từ 05 (năm) năm trở lên.

* Xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở:

Trung tâm Văn hóa - Thể thao thị trấn có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm, n định về tổ chức, hoạt động thường xuyên hiệu quả;

85% tổ dân phố trở lên có điểm sinh hoạt văn hóa, thể thao hoạt động thường xuyên; thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia;

Có các đội văn nghệ, thể thao quần chúng thị trấn đến các tổ dân phố. Duy trì thường xuyên các hoạt động văn nghệ quần chúng, hoạt động câu lạc bộ; hoạt động thể dục thể thao; bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh; các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyền thống ở địa phương;

Có đim bưu điện văn hóa  thị trấn và hoạt động hiệu quả; có thư viện hoặc phòng đọc sách, có tủ sách Pháp luật đảm bảo các đầu sách; có các cụm thông tin cổ động (hoặc bảng tin);

trạm Truyền thanh và hệ thống loa truyền thanh tới các khu dân cư hoạt động hiệu quả.

* Về Giáo dục và Đào tạo:

Có hệ thống trường học đảm bảo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có ít nhất 50% trường học được công nhận đạt chuẩn quốc gia;

Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở trở lên;

100% trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; có biện pháp giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, khuyến khích học sinh giỏi...;

Có kế hoạch tuyên truyền giáo dục con em không để xảy ra tình trạng bạo lực học đường dưới mọi hình thức. Tích cực tham gia xây dựng và phát triển quỹ khuyến học, khuyến tài, tạo điều kiện cho các con em phát huy hơn nữa những thành tích trong học tập cũng như các sở trường, năng khiếu của bản thân.

* Về Y tế - Dân số kế hoạch hóa gia đình:

Đạt chuẩn quốc gia y tế xã, phường, thị trấn được quy định tại Quyết định số 3447/QĐ-BYTngày 22/9/2011 của Bộ Y tế về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020; Trạm y tế thị trấn từng bước được đầu tư nâng cấp đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân;

Hàng năm giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh; 100% trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng, phòng dịch theo quy định;

Thực hiện tốt công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được thăm khám và tiêm phòng theo quy định; không có trường hợp sinh con thứ 03 trở lên (trừ trường hợp quy định tại Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngà08/3/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số).

2.4. Xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa đô thị:

- 95% hộ gia đình trở lên thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội theo các quy định của Trung ương, địa phương và quy ước cộng đồng khu dân cư;

 - Bảo vệ môi trường, bảo vệ và sử dụng nguồn nước hiệu quả. 100% cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, hộ kinh doanh phát triển kinh tế phải đạt các tiêu chun vệ sinh môi trường theo quy định của Nhà nước. Chất thải, nước thải, rác thải phải được thu gom xử lý theo quy định;

 - Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định Luật Giao thông đường bộ, các chuẩn mực đạo đức xã hội để nâng cao ý thức, hành vi ứng xử của mỗi người dân trên địa bàn khi tham gia giao thông; không lấn chiếm lòng đường, hè phố gây cản trở giao thông, không cơi nới, làm mái che, đặt biển quảng cáo sai quy định, gây mất mỹ quan đô thị;

 - Đạt tỷ lệ cây xanh công cộng, đầu tư nâng cấp hệ thống cấp nước, thoát nước và chiếu sáng đô thị đạt tiêu chuẩn theo quy định; khuyến khích các hộ gia đình trồng hoa, cây xanh trong khuôn viên gia đình, trên địa bàn khu dân cư;

 - Xây dựng mối quan hệ cộng đồng ở khu dân cư thân thiện, cùng hợp tác phát triển kinh tế, giúp nhau giảm nghèo, làm giàu chính đáng;

 - Các cơ sở kinh doanh, dịch vụ văn hóa được xây dựng theo quy hoạch, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật; không có cơ sở sản xuất, tàng trữ và lưu hành sản phẩm văn hóa có nội dung độc hại, cấm lưu hành.

II. Nhiệm vụ và giải pháp của Đề án.

1. Nhiệm vụ:

- Thường xuyên nghiên cứu đổi mới phương thức lãnh đạo, công tác tổ chức, công tác tập hợp quần chúng, duy trì và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong khu dân cư.

- Đẩy mạnh công tác giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Phối hợp duy trì công tác vận động nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền ngày càng vững mạnh.

- Đảng uỷ, HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh.

- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực; Đảm bảo trật tự an ninh, an toàn xã hội; nâng cao vai trò trách nhiệm của đội ngũ cán bộ theo định hướng và thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực được giao. Thường xuyên tổ chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh nhằm hướng dẫn và yêu cầu các cơ sở thực hiện đúng các tiêu chí chung, đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh đúng pháp luật.

- Đẩy mạnh công tác phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo; thực hiện tốt nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Làm tốt công tác quản lý về môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống các loại dịch bệnh; phát động phong trào toàn dân tham gia chăm sóc bảo vệ sức khoẻ; thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia.

- Nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện các chính sách của Nhà nước về giáo dục, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích học sinh giỏi, học sinh hiếu học; hàng năm đều hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra.

2. Giải pháp:

2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền với các hình thức phong phú và đa dạng như: Cổ động trực quan, trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao; sinh họat các câu lạc bộ, các tổ chức đoàn thể nhằm nâng cao ý thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân sinh sống trên địa bàn thị trấn về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị để mọi tầng lớp nhân dân hiểu vai trò của văn hoá trong đời sống xã hội, nhằm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ; cộng đồng phát triển lành mạnh, nhân dân tiếp thu được tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng thời ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào cộng đồng dân cư. Góp phần thực hiện thắng lợi Nghì quyết số 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, chương trình hành động của Huyện ủy, kế hoạch thực hiện của UBND huyện về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

2.2. Về chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương:

- Thường xuyên tổ chức công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thị trấn, các tiêu chuẩn xây dựng thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (Theo Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 10/6/2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quy chế xét, công nhận “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”, “Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị” trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng)

- Tập trung bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ từ thị trấn đến tổ dân phố. Xây dựng quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ đúng chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với năng lực thực tế, có chính sách hỗ trợ vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ để họ yên tâm cống hiến nhiều hơn cho địa phương.

- Tiếp tục đổi mới lề lối làm việc, nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực quản lý của UBND, các bộ phận chuyên môn của thị trấn. Thực hiện tốt Quy chế làm việc của UBND thị trấn và Pháp lệnh dân chủ cơ sở, tổ chức các hoạt động để nhân dân giám sát chính quyền, xây dựng hệ thống chính trị ở thị trấn đạt trong sạch vững mạnh. Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính. Cán bộ công chức nêu cao ý thức trong thi hành công vụ không gây phiền hà, sách nhiễu với tổ chức cá nhân.

- Kịp thời củng cố lực lượng an ninh trật tự ở cơ sở, trung đội dân quân cơ động. Thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ dân quân cơ động và lực lượng công an, ban bảo vệ và tổ bảo vệ dân phố để nâng cao ý thức, tư tưởng, chính trị đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

2.3. Về phát triển kinh tế:

- Phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, lợi thế của thị trấn Đạ M’ri, đẩy mạnh thu hút các nguồn lực để phát triển kinh tế theo hướng nông lâm nghiệp gắn với phát triển thương mại, dịch vụ.

- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển đổi giống cây trồng, con vật nuôi theo định hướng của địa phương; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích và thu nhập của người dân giai đoạn 2016 - 2020, kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt và chăn nuôi và phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

- Đẩy mạnh thu hút các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ, thương mại và du lịch trên địa bàn thị trấn.

- Tăng cường công tác đào tạo nghề và thực hiện xuất khẩu lao động để nâng cao thu nhập cho người dân. Thành lập các tổ hợp tác, câu lạc bộ để phát triển sản xuất. Phối hợp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho nhân dân vay vốn sản xuất với lãi suất ưu đãi.

- Tham mưu lập dự án đầu tư xây dựng, hướng dẫn việc thực hiện quy hoạch xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao đạt tiêu chí chuẩn theo quy định của Bộ VH, TT&DL. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, quản lý trật tự xây dựng, xử lý kịp thời, dứt điểm các vi phạm pháp luật về quy hoạch, kiến trúc xây dựng đô thị, quản lý khai thác các công trình công cộng trên địa bàn phục vụ lợi ích công cộng; hướng dẫn nhân dân quan tâm đầu tư, cải tạo xây dựng, nâng cấp nhà cửa, chỉnh trang làm đẹp kiến trúc đô thị theo quy hoạch đã được phê duyệt.

- Tạo quỹ đất để xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao ở thị trấn và ở các tổ dân phố. Phối hợp tổ chức thực hiện và bảo vệ tốt lĩnh vực tài nguyên và môi trường, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường.

2.4. Về phát triển văn hóa - hội:

a) Văn hoá, thông tin và thể thao:

- Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở đối với sự nghiệp văn hóa thông tin thể thao. Tổ chức thực hiện các quy ước xây dựng tổ dân phố văn hóa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện hương ước, quy ước, xây dựng gia đình văn hóa, tổ chức bình xét danh hiệu gia đình văn hóa chặt chẽ, khách quan để nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

- Thường xuyên tổ chức các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó đặc biệt chú ý tới giá trị văn hóa truyền thống vùng miền.

- Đầu tư xây dựng trung tâm văn hóa, sân vận động thị trấn; nhà văn hóa, khu thể thao các tổ dân phố; các trang thiết bị nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị xã hội của địa phương. Tăng cường vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới việc tang và lễ hội.

- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa để huy động có hiệu quả các nguồn lực ngoài xã hội đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp văn hóa thông tin thể thao, đặc biệt là nhà văn hóa tổ dân phố.

b) Về Giáo dục và Đào tạo:  

- Nâng cao hơn nữa trình độ giáo viên, chất lượng giảng dạy; đẩy mạnh thực hiện các phong trào “Thi đua dạy tốt, học tốt”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp. Xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh không để xảy ra tình trạng bạo lực học đường dưới mọi hình thức.

- Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất cho các trường phục vụ cho quá trình dạy và học, phấn đấu để các trường đạt chuẩn Quốc gia; quan tâm đầu tư xây dựng trung tâm học tập cộng đồng. Hàng năm theo dõi chặt chẽ số học sinh ra lớp để tổ chức dạy nghề, giới thiệu việc làm cho các đối tượng thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, mới vượt nghèo, người lao động nhàn rỗi để họ có việc làm và thu nhập ổn định.

- Tích cực tham gia xây dựng và phát triển quỹ khuyến học, khuyến tài, tạo điều kiện cho các học sinh phát huy hơn nữa những thành tích trong học tập cũng như các sở trường, năng khiếu của bản thân.

- Vận động các bậc phụ huynh học sinh trong việc đưa con em đến trường không để tình trạng bỏ học giữa chừng.

c) Về Y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân:

- Vận động người dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.

- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia, phòng chống dịch bệnh, đóng bảo hiểm y tế, tự bảo vệ sức khỏe cộng đồng, thực hiện tốt công tác DS - KHHGĐ. Mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh đủ 2 con, không sinh con thứ 3. Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh.

- Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế và đội ngũ cộng tác viên y tế tổ dân phố nhằm thực hiệt tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tăng cường công tác tuyên truyền phòng chống các loại dịch bệnh, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm và xây dựng Trạm y tế đạt chuẩn y tế quốc gia.

- Thường xuyên vận động nhân dân thực hiện dọn vệ sinh, xử lý rác thải theo quy định, trồng cây xanh tạo cảnh quan để môi trường ngày càng xanh – sạch - đẹp.

d) Xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa đô thị:

- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội theo các quy định của Trung ương, địa phương và quy ước cộng đồng khu dân cư; Bảo vệ môi trường, bảo vệ và sử dụng nguồn nước hiệu quả. Phát triển kinh tế phải đạt các tiêu chun vệ sinh môi trường theo quy định của Nhà nước. Chất thải, nước thải, rác thải phải được thu gom xử lý đạt kế hoạch đề ra.

- Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định Luật Giao thông đường b; không lấn chiếm lòng đường, hè phố gây cản trở giao thông, không cơi nới, làm mái che, đặt biển quảng cáo sai quy định, gây mất mỹ quan đô thị;

- Nêu cao ý thức trách nhiệm của cán bộ và nhân dân trong việc bảo vệ hệ thống cấp nước, thoát nước và chiếu sáng đô thị; khuyến khích các hộ gia đình trồng hoa, cây xanh trong khuôn viên gia đình, trên địa bàn khu dân cư;

 - Xây dựng mối quan hệ cộng đồng ở khu dân cư thân thiện, cùng hợp tác phát triển kinh tế, giúp nhau giảm nghèo, làm giàu chính đáng;

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa và thông tin, đảm bảo các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa thông tin thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

III. Kinh phí thực hiện Đề án.

Kinh phí thực hiện Đề án xây dựng thị trấn Đạ M’ri đạt chuẩn văn minh đô thị giai đoạn 2016 – 2018 bao gồm các nguồn sau:

- Kinh phí Trung ương;

- Kinh phí của tỉnh, của huyện;

- Kinh phí của thị trấn Đạ M’ri;

- Kinh phí do nhân dân đóng góp;

- Kinh phí từ các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hỗ trợ.

IV. Hiệu quả của Đề án.

- Triển khai đề án xây dựng “Thị trấn ĐạM’ri đạt chuẩn văn minh đô thị” giai đoạn 2016 – 2018 giúp cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị trấn xác định một cách cụ thể các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Từ đó xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm huy động sức mạnh tổng hợp để đẩy nhanh quá trình phát triển thị trấn Đạ M’ri trở thành đô thị loại V;

- Bên cạnh, đó việc xây dựng Đề án sẽ làm cho mọi tầng lớp nhân dân sinh sống trên địa bàn toàn thị trấn nhận thức ngày càng đúng đắn hơn vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và phát triển  nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Đề án sẽ thúc đẩy việc duy trì, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tăng cường và phát huy khối đại đoàn kết trong cộng đồng dân cư, phòng chống và ngăn chặn các tệ nạn xã hội tại địa phương.

Phần thứ ba:

Tổ chức thực hiện

1. Ban Chỉ đạo xây dựng đô thị văn minh thị trấn:

- Tham mưu kịp thời cho Đảng uỷ thị trấn xây dựng các Nghị quyết chuyên đề, các chương trình, kế hoạch có lộ trình cụ thể và phân công trách nhiệm cho các thành viên Ban chỉ đạo, các ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, tổ dân phố đảm nhận các tiêu chí nhằm thực hiện tốt nội dung đề án đã đề ra.

- Đăng ký lộ trình thực hiện xây dựng thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị với UBND huyện.

- Tổ chức triển khai Đề án đến các cơ quan, đơn vị, các tổ dân phố; đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thực hiện có hiệu quả đề án theo từng giai đoạn. Phối hợp với các ban, ngành liên quan tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho các thành viên BCĐ thị trấn, Ban vận động ở các tổ dân phố.

- Tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá những mặt làm được, những hạn chế tồn tại, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt Đề án. Tham mưu Đảng ủy thị trấn biểu dương, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có thành tích thực hiện xuất sắc Đề án.

2. Các ban, ngành, bộ phận chuyên môn của UBND thị trấn:

Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và nội dung của Đề án, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể phối hợp với các thành viên Ban chỉ đạo thị trấn, các tổ dân phố triển khai thực hiện đạt các chỉ tiêu mà Đề án đã đề ra.

3. Đề nghị UBMTTQ và các đoàn thể thị trấn:

- Thường xuyên tuyên truyền, vận động các ngành, các cấp, hội viên, đoàn viên trong cơ quan, đơn vị trong các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt các nội dung của Đề án đã đề ra.

- Lồng ghép có hiệu quả nhiệm vụ của ban, ngành, đoàn thể với việc xây dựng thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị.

4. Các tổ dân phố và nhân dân sinh sống trên địa bàn thị trấn:

- Các tổ dân phố và mọi công dân sinh sống trên địa bàn thị trấn có trách nhiệm bảo vệ và thực hiện tốt nội dung Đề án.

- Những tổ chức, cá nhân, hộ gia định có thành tích xuất sắc trong thực hiện Đề án sẽ được UBND thị trấn xem xét khen thưởng, hoặc đề xuất khen thưởng theo quy định hiện hành. Những cá nhân, tổ chức, gia đình vi phạm sẽ căn cứ mức độ để đưa ra phê bình, kiểm điểm trước nhân dân hoặc đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Đề án xây dựng “Thị trấn Đạ M’ri đạt chuẩn văn minh đô thị” giai đoạn 2016 - 2018 có hiệu lực khi được UBND huyện ban hành quyết định phê duyệt. Trong quá trình thực hiện Đề án nếu có phần, mục nào không hợp lý, UBND thị trấn tiến hành sửa đổi, bổ sung và được UBND huyện Đạ Huoai phê duyệt mới có hiệu lực thi hành./.        

                                                        

TM. UBND THỊ TRẤN ĐẠ M’RI

CHỦ TỊCH

                                                                         (đã ký)

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     Đặng Văn Chinh