Điều kiện tự nhiên 
New Page 1

1.1.1. Vị trí địa lý

Huyện Đạ Huoai nằm về phía Tây - Nam tỉnh Lâm Đồng, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Đà Lạt 155 km về phía Đông - Bắc, ranh giới hành chính của huyện như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Đạ Tẻh và Bảo Lâm.

- Phía Nam giáp huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận.

- Phía Đông giáp thành phố Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.

- Phía Tây giáp huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai.

Toàn huyện có 8 xã và 2 thị trấn gồm: Thị trấn Mađaguôi, thị trấn Đạ Mri, các xã Mađaguôi, Đạ Mri, Hà Lâm, Đạ Tồn, Đạ Oai, Đạ P’loa, Đoàn Kết và Phước Lộc. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 49.528,94 ha, tổng dân số là 34.289 người. Mật độ dân số trung bình là 69,23 người/km2, xếp thứ 10 so với 12 huyện của tỉnh Lâm Đồng.

Huyện Đạ Huoai nằm dọc quốc lộ 20, là trục giao thông huyết mạch của tỉnh Lâm Đồng với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đường huyện Đạ Mri - Đoàn Kết nối với tỉnh lộ 721 đi Bình Thuận và tỉnh lộ 721 nối với các huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên tạo điều kiện thuận lợi để trở thành đầu mối giao lưu kinh tế - xã hội với các huyện trong tỉnh, khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước.

1.1.2. Địa hình,địa mạo

Huyện Đạ Huoai có độ cao trung bình 300 m, địa hình thấp dần từ phía tây bắc xuống giáp sông Đồng Nai, bị chia cắt bởi đồi núi cao huyện Di Linh - Bảo Lộc kéo xuống, đồng thời cũng tạo ra bậc thềm bằng phẳng. Địa hình bằng phẳng chủ yếu do bồi tụ phù sa của sông. Đây là địa hình mang tính chất chuyển tiếp giữa dạng địa hình vùng cao nguyên và địa hình vùng đồng bằng.

Do địa hình phức tạp, độ dốc lớn, nhiều đứt gãy sông, suối, vực sâu gây nhiều khó khăn tốn kém trong việc đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật giao thông và cũng hạn chế giao lưu phát triển kinh tế, chi phí xây dựng lớn.

         1.1.3. Khí hậu

Đạ Huoai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, phân ra hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 kết thúc vào tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Do ảnh hưởng của địa hình phức tạp, núi đồi xen kẽ đặc biệt là bị ngăn cách bởi đèo Chuối - Hà Lâm nên chế độ khí hậy của huyện chia làm 2 vùng. Vùng phí Bắc có khí hậu cao nguyên gần giống kiểu khí hậu Bảo Lộc ôn hòa mát mẻ, lượng mưa lớn, phân bố tương đối đều.Vùng phía Nam chịu ảnh hưởng khí hậu của miền Đông Nam Bộ có nhiệt độ cao, mùa mưa đến sớm và cũng kết thúc sớm. Đặc trưng khí hậu thời tiết của huyện như sau:

* Nhiệt độ:

- Phía Bắc huyện có địa hình cao, nhiệt động trung bình là 240C

+ Thấp nhất tuyệt đối: 15-170C (tháng 1)

+ Cao nhất tuyệt đối: 29-300C (tháng 12)

+ Chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm giao động từ 5-70C.

- Phía Nam huyện có địa hình thấp hơn, nhiệt độ bình quân hàng năm là 270C.

+ Thấp nhất tuyệt đối: 200C (tháng 1)

+ Cao nhất tuyệt đối: 310C (tháng 12)

+ Chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm giao động từ 3-50C

* Lượng mưa:

Lượng mưa trung bình hàng năm giao động từ 1.800mm đến 2.800mm, phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ cuối tháng 4 đến tháng 10 trong năm, chiếm tới 95% tổng lượng mưa. Các tháng còn lại mưa rất ít có tháng hầu như không có mưa (tháng 1 – 3). Lượng mưa lớn nhưng không đều, mùa mưa dư thừa nước, mùa khô thì hạn hán nên ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng - phát triển của cây trồng, vật nuôi cũng như đời sống của nhân dân.

* Số giờ nắng: Trung bình từ 6,0-7,0 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ tổng cộng lớn: trung bình từ 150-160 kcal/cm2 năm.

* Độ ẩm không khí, lượng bốc hơi: Độ ẩm không khí trung bình năm là 78%, thấp nhất là ở các tháng 1, 2 độ ẩm chỉ đạt khoảng 60%; tháng 7 có độ ẩm cao nhất với 90-95%. Lượng bốc hơi trung bình cả năm là 1.255mm, chiếm 55-60% lượng mưa, tháng 2 có lượng bốc hơi cao nhất (130mm) và tháng 7 có lượng bốc hơi thấp nhất (88mm).

* Gió, bão:

Hàng năm có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa Tây Nam xuất hiện từ 5 đến tháng 11 trong năm, vận tốc gió lớn nhất đạt 15-18m/s. Ngoài ra vào các tháng mùa mưa thường có dông kèm theo gió lốc. Huyện Đạ Huoai ít khi có bão, tần suất xuất hiện các cơn bão rất thấp khoảng 1%, đây là điều kiện rất lý tưởng đối với việc trồng cây lâu năm, tốc độ gió trung bình khoảng 2 – 3 m/s, phù hợp với yêu cầu sinh trưởng ra hoa và đậu quả của các loại cây trồng hiện có trong vùng, đặc biệt là điều và cây ăn quả.

Tóm lại: Khí hậu của huyện diễn biến theo mùa rõ rệt, biên độ nhiệt độ và số giờ nắng chênh lệch giữa các tháng nhỏ, ít gây biến đổi đột ngột về thời tiết. Lượng mưa lớn, tập trung vào mùa mưa gây lũ và ngập úng cục bộ; mùa khô gây hạn làm hạn chế tiềm năng đối với sản xuất nông nghiệp. Để đảm bảo tính cân đối trong chế độ cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân việc xây dựng các công trình thuỷ lợi để cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt trong mùa khô có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

1.2. Các nguồn tài nguyên

1.2.1. Tài nguyên đất

Theo kết quả điều tra, đánh giá phân hạng đất của huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng của trung tâm nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật đất, được tiến hành trong năm 2002 và dự án quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001 - 2010, cho thấy toàn huyện có 6 nhóm đất với 10 loại đất như sau:

Bảng1:  Phân hạng đất của huyện Đạ Huoai

TT

Tên đất

Ký hiệu

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

 

Tổng diện tích tự nhiên

 

49.529

100

I

Đất phù sa

 

1.148

2,32

1

Phù sa không được bồi hàng năm

P

57

0,12

2

Phù sa được bồi hàng năm

Pb

237

0,48

3

Phù sa ngòi suối

Py

616

1,24

4

Phù sa loang lổ đỏ vàng

Pf

238

0,48

II

Đất dốc tụ

 

65

0,13

5

Đất dốc tụ thung lũng

D

65

0,13

III

Đất xám

 

325

0,66

6

Đất xám trên phù sa cổ

X

325

0,66

IV

Đất nâu vàng

 

1.038

2,10

7

Nâu vàng trên phù sa cổ

Fp

1.038

2,10

V

Đất đỏ vàng

 

45.845

92,56

8

8. Đất đỏ vàng trên phiến sét

Fs

24.026

48,51

9

9. Đất vàng đỏ trên đá Granit

Fa

20.411

41,21

10

10. Đất vàng nhạt trên đá cát

Fq

1.408

2,84

VI

Sông suối, hồ đập

 

1.108

2,24

a) Nhóm đất phù sa (P)

Diện tích 1.148 ha, chiếm 2,32% DTTN toàn huyện. Đất thường có độ phì tương đối cao, ít chua (pHH2O= 5,4-5,5), tương đối giàu cation trao đổi (Ca++ = 4-5 mg/100g đất, Mg++ = 3-4 mg/100g), thành phần cơ giới thịt trung bình và khá giàu mùn, đạm, lân, kali (mùn 2-3%, N = 0,1-0,2%, P2O5 = 0,1-0,2%, K2O xấp xỉ 1%). Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng như hoa màu (bắp, rau,…), cây ăn quả, mía, dâu,… nhóm đất này gồm 4 đơn vị phân loại là đất phù sa không được bồi, phù sa được bồi, phù sa ngòi suối và phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng:

- Đất phù sa không được bồi (ký hiệu P-c-h): Diện tích 57 ha, chỉ chiếm 0,12% DTTN toàn huyện, phân bố rải rác trên địa hình thấp ven sông. Đây là loại đất trẻ, thích hợp với nhiều loại cây trồng như hoa màu (bắp, rau, đậu), cây ăn quả, mía, dâu…

- Đất phù sa được bồi (P-e-h): Diện tích 237 ha, chỉ chiếm 0,48% DTTN toàn huyện, phân bố rải rác trên địa hình thấp ven sông. Đây là loại đất trẻ, hàng năm được phù sa sông bồi đắp tuỳ theo mức độ lũ từng năm.

- Đất phù sa ngòi suối (P-e-h): Diện tích 616 ha, chỉ chiếm 1,24% DTTN toàn huyện, phân bố rải rác ven các triền sông, đáy thung lũng. Đây là loại đất trẻ hình thành do sự bồi lắng của mẫu chất tạo thành đất ở vùng thượng nguồn của lưu vực theo thời gian và điều kiện bồi lắng.

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (P-fr-c): Diện tích 238 ha, chiếm 0,48% DTTN toàn huyện, phân bố rải rác trên địa hình thấp bị ngập lũ thuộc hầu hết các xã trong huyện. Loại đất này thường có phản ứng chua (pHKCL= 3,5-4,0) do hàm lượng sắt, nhôm di động khá cao, gây độc hại cho cây trồng, hiện đang được nhân dân trồng lúa nước là chính, một số hộ trồng lúa – màu, trên địa hình cao có thể trồng cây ăn trái hoặc hoa màu.

b) Nhóm đất dốc tụ (D) 

Diện tích 65 ha, chiếm 0,13% DTTN toàn huyện, được hình thành do quá trình rửa trôi đất từ các sườn đồi núi xuống các thung lũng và hợp thuỷ; do đó đất tuy có hàm lượng dinh dưỡng cao (đạm tổng số 0,2 – 0,8%, lân tổng số>0,4%), nhưng chua (pHKCL=4,36-4,75), hàm lượng sắt và nhôm di động khá cao, nhiều khu vực bị ngập nước thường xuyên đã xảy ra quá trình yếm khí và hình thành tầng gley rất rõ. Đất có thành phần cơ giới nặng từ thịt đến sét, có thể sử dụng cho trồng lúa nước, nhưng cần chú ý các biện pháp rửa chua mới cho năng suất cao.

c) Nhóm đất xám (X) 

Đất xám (Acrisols) còn gọi là đất chua mạnh hoạt tính thấp, diện tích 325 ha, chiếm 0,66% DTTN toàn huyện, phân bố chủ yếu ở các xã Đạ Oai, Mađaguôi, ven các khu vực đất thấp. Đất có tính chua mạnh, hàm lượng lân tổng số khá cao (0,141 – 0,321%), hàm lượng đạm thấp (0,022-0,067 N%). Hiện đang được người dân sử dụng vào trồng lúa, rau, đậu đỗ.

d) Nhóm đất nâu vàng (F) 

Chủ yếu là đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) với diện tích 1.038 ha, chiếm 2,1% DTTN toàn huyện, phân bố thành dải ven các thềm sông suối, tập trung nhiều ở thị trấn Mađaguôi, thị trấn Đạ Mri, các xã Đạ Oai, Đạ Tồn. Nhóm đất có hàm lượng chất hữu cơ tầng mặt từ thấp đến trung bình (0,14-1,8%), hàm lượng lân tổng số, đạm tổng số từ thấp đến trung bình (N%:0,05-1,8% ;P2O5: 0,042-0,057%). Hiện đang được người dân sử dụng vào trồng các loại cây dài ngày như cà phê, điều, dâu tằm và nhiều loại cây khác.

e) Nhóm đất vàng đỏ (F)

Diện tích 45.845 ha, chiếm 92,56% DTTN toàn huyện. Nhóm đất có 3 đơn vị chính là đất vàng đỏ trên phiến sét; đất đỏ vàng trên đá Granit và vàng nhạt trên đá cát. Đất có phản ứng chua (pHKCL=4,12-4,61), hàm lượng mùn thấp, đạm và lân tổng số từ thấp đến trung bình (N%: 0,06-0,2% ;P2O5: 0,08-0,1%). Hầu hết diện tích đều thuộc lâm phần.

- Đất đỏ vàng trên phiến sét (Fs): Diện tích 24.026 ha, chiếm 48,51% DTTN toàn huyện, phân bố khắp các xã trong huyện. Loại đất này có tầng tích nhôm rõ nét nhất và chiếm đa số trong diện tích toàn huyện, có kết cấu tơi, xốp, khả năng giữ nước và hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn. Hiện đang được người dân sử dụng vào trồng các loại cây dài ngày như cà phê, điều, dâu tằm và nhiều loại cây khác.

- Đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): Diện tích 20.411 ha, chiếm 41,21% DTTN và có mặt ở tất cả các xã, thị trấn trong huyện. Đất này có nguồn gốc hình thành từ đá Granit, phân bố chủ yếu trên địa hình dốc, tầng đất mỏng, độ phì nhiêu kém, hầu hết diện tích nằm trong lâm phần.

- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Diện tích 1.408 ha, chiếm tỷ lệ 2,84% DTTN, phân bố chủ yếu ở các xã Đạ Ploa, Đạ Mri và thị trấn Mađaguôi, đất có độ phì nhiêu khá hơn, một số diện tích đang được sử dụng vào trồng các loại cây dài ngày như điều, cà phê…

Nhìn chung, so với các huyện khác trong tỉnh Lâm Đồng và ở Đông Nam Bộ, tài nguyên đất của Đạ Huoai có nhiều hạn chế như: Độ dốc lớn, tầng đất không dày và độ phì không cao, cùng với cường độ mưa lớn dễ làm đất bị xói mòn. Vì vậy, trong quá trình sử dụng, cần đặc biệt coi trọng biện pháp cải tạo, bảo vệ và tăng dần tỷ lệ diện tích đất cây lâu năm.

f) Nhóm đất sông suối, hồ đập    

Nhóm đất sông suối, hồ đập với diện tích 1.108 ha, chiếm 2,4% diện tích đất tự nhiên của huyện.

1.2.2. Tài nguyên nước

          * Nguồn nước mặt

          Do ảnh hưởng của địa hình và nằm ở vị trí đầu nguồn, nêm sông suối trên địa bàn huyện thường có lưu vực nhỏ, ngắn và dốc, có mô đun dòng chảy lớn và thường nghèo kiệt vào mùa khô.

Sông Đạ Huoai là sông chính chảy trên địa bàn huyện, tổng diện tích lưu vực là 925 km2, chiều dài sông là 53,4 km, đoạn chảy qua huyện có chiều dài 20,3 km, là hợp lưu của ba nhánh chính: Sông Đạ Mri, Đạ Quay và Đạ M’rê. Đạ Quay là nhánh sông lớn nhất bắt nguồn từ vùng núi cao phía Đông tiếp giáp với tỉnh Bình Thuận. Đạ Mri và Đạ M'rê là 2 nhánh sông bắt nguồn từ cao nguyên Bảo Lộc có độ cao trên 1000m hợp lưu với sông Đạ Quay tại xã Hà Lâm và Đạ Mri tại ranh giới xã Đạ Tồn đổ vào sông Đạ Huoai. Tổng lưu lượng dòng chảy là 34,45m3/s, Môdun dòng chảy 37,24 l/s/km2. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, tuy nhiên khả năng khai thác có nhiều hạn chế do độ chênh cao giữa cao trình tưới và lòng sông là rất lớn.

Ngoài sông Đạ Huoai và các hợp lưu, thì trên địa bàn huyện còn có nhiều suối nhỏ phân bố rải rác như suối Đạ Liong (Thị trấn Mađaguôi), Đạ Kên, Đạ Đunm (xã Đạ Mri), Đạ Gùi, Đạ Narr (xã Đạ Oai), Đạ Tràng (xã Đạ Tồn). Các suối này thường ngắn, dốc, thoát nước nhanh, nên thường gây lũ vào mùa mưa và kiệt nước vào mùa khô.

          Chất lượng nước của các suối đạt tiêu chuẩn sinh hoạt. Riêng sông Đạ Huoai - vùng hạ lưu nhà máy giấy (xã Hà Lâm), đã có hiện tượng bị ô nhiễm, đặc biệt là vào buổi sang khi nhà máy xả nước thải ra sông.

          Sông suối trên địa bàn huyện có tổng lưu lượng dòng chảy năm lớn, nhưng phân phối không đồng đều giữa mùa mưa và mùa khô, trong đó: Mùa khô dòng chảy nhỏ, mực nước và cao trình đồng ruộng chênh lệch lớn, nên ít có khả năng khai thác nếu không có các công trình thủy lợi; mùa mưa dòng chảy lớn, nhất là thời kỳ mưa lũ, đã gây ra tình trạng ngập nước ở các khu vực đất thấp.

          * Nguồn nước ngầm

- Nước ngầm tầng mặt (giếng đào): Nước ngầm tầng mặt và nước sát mặt (ngầm bán áp, độ sâu <20m) thường có độ cứng khá cao (>50mg CaCO3/lit), mực nước thay đổi theo vùng và theo mùa: Vùng thấp ven sông Đạ Huoai có mực nước ngầm của các giếng đào từ 2-6m, vùng đồi núi có mực nước ngầm từ 15-20m. Vào mùa mưa, mực nước cách mặt đất từ 1-2m, nhưng về mùa khô mực nước hạ xuống cách mặt đất 5-6m ở những khu vực bào mòn tích tụ và 7-12m ở những khu vực tích tụ xâm thực gần thềm sông Đạ Huoai.

- Nước ngầm tầng sâu (giếng khoan với độ sâu >20m): Ở độ sâu >20m, nước ngầm có độ cứng và độ kiềm khá cao (độ cứng toàn phần 1.950 mg CaCO3/lit, độ kiềm toàn phần 1.325 mg CaCO3/lit, môi trường axít 0,8 mg oxy/lit). Như vậy, nếu khai thác nước ngầm cung cấp nước sạch cho các khu dân cư tập trung như thị trấn và các khu công nghiệp thì đòi hỏi phải có các biện pháp kỹ thuật để xử lý.

- Bên cạnh hệ thống nước ngầm nói trên, địa bàn còn có một số mỏ nước khoáng có trữ lượng khá có thể khai thác để sản xuất nước khoáng và phục vụ du lịch.

1.2.3. Tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng Đạ Huoai khá phong phú về chủng loại (rừng lá rộng thường xanh, lá kim, tre nứa, hỗn giao lá rộng - lá kim, lá rộng - tre nứa…) và tập đoàn cây rừng, trữ lượng trung bình trên 1 ha khá cao. Kết quả thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2010, toàn huyện còn 31.680,21 ha rừng, chiếm 63,96% diện tích đất tự nhiên. Trong đó diện tích rừng sản xuất 14.391,05 ha, rừng phòng hộ 17.289,16 ha.

Tuy nhiên, hiện nay huyện còn 1.545 ha rừng nghèo kiệt, trong đó rừng có trữ lượng < 30 m3/ha diện tích 375 ha (chiếm 24,3%), từ 30 - 50 m3/ha diện tích 630 ha (chiếm 40,8%), từ 50 - 70 m3/ha diện tích 540 ha (chiếm 35%) cần chuyển sang trồng rừng kinh tế nhằm mục đích bố trí đất sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc, nâng cao độ che phủ của rừng.

Về hệ thống thảm thực vật của Đạ Huoai rất phong phú và đa dạng với các loại thực vật của khu vực đồi núi. Thảm thực vật chủ yếu là các loại cây tre, nứa, cây lấy gỗ (keo, bạch đàn, cây đặc sản), cây công nghiệp chè, ca cao, cao su, măng cụt, mít nghệ, sầu riêng Đona, ….

Ngoài ra còn có hệ thống thực vật như các lùm, bụi cây chịu hạn như sim, mua, cỏ tranh…

Động vật rừng chủ yếu là những loại thú nhỏ (cheo, chồn, nhím…), chim … Tuy tình trạng săn bắt thú rừng diễn ra không thường xuyên nhưng cũng gây ảnh hưởng đáng kể đến số lượng động vật hoang dã và chim thú.

1.2.4. Tài nguyên khoáng sản

Đạ Huoai không giàu về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có đá Granit, sét và cao lanh.

- Đá Granit: Phân bố chủ yếu ở các xã Đạ Tồn, Đạ Oai, Đoàn Kết; trữ lượng ước tính khoảng 2 triệu m3. Qua phân tích các đặc tính kỹ thuật cho thấy: đá ở đây loại Granit sáng màu (gramodiorit) với độ nguyên khối thấp, nếu sản xuất đá ốp lát chỉ tạo ra được tầm đươi 0,6m2; riêng điểm tại đèo Chuối có độ nguyên khối cao hơn (12 - 13m3), có thể sản xuất những tấm kích thước 1 - 2m2.

- Sét: Mỏ sét với trữ lượng đáng kể phân bố tập trung ở thị trấn Mađaguôi, thị trấn Đạ Mri, xã Đạ Mri… sét có màu xanh mịn, dẻo, đạt chất lượng sản xuất gạch ngói.

- Cao lanh: Phân bố tập trung ở thị trấn Đạ Mri, xã Đạ Oai trữ lượng chưa xác định.

- Cát sỏi xây dựng: Nằm rải rác ven sông Đạ Huoai, nhưng chất lượng không cao và không đồng đều, trữ lượng cũng không lớn, hiện tại được người dân khai thác sử dụng làm vật liệu xây dựng và cấp phối đường.

1.2.5. Tài nguyên du lịch

Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn mang tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng, mang lại kinh tế cho người dân tại chỗ. Vì vậy phát triển Du lịch là một trong những ngành cần được quan tâm.

Tuy không có nhiều điểm du lịch nổi tiếng như thành phố Đà Lạt nhưng Đạ Huoai vẫn có nhiều thắng cảnh đẹp như Suối Tiên, Đèo Chuối, thác 9 tầng, suối Lạnh, rừng Mađaguôi…. Cùng với vị trí địa lý hết sức thuận lợi, là cửa ngõ phía Nam của tỉnh, là khu vực chuyển tiếp giữa 2 đới khí hậu khác nhau, bên cạnh đó lại nằm ở đoạn giữa trên con đường nối liền giữa thành phố Đà Lạt - thành phố Hồ Chí Minh ngay ở ngã ba nối quốc lộ 20 với vùng Đạ Tẻh, Cát Tiên bằng đường 721 và tuyến cao tốc Đà Lạt - Dầu Dây (tương lai), nên Đạ Huoai rất có lợi thế cho việc hình thành những trạm dừng chân nghỉ ngơi cho du khách sau hành trình vượt đèo và cảm nhận những thay đổi của khí hậu cũng như thưởng thức các đặc sản mà ít vùng đất nào có được như: sầu riêng, mít tố nữ, quýt mật…

Ngoài ra còn có các điểm du lịch sinh thái, vườn cây ăn quả, thăm căn cứ cách mạng, cũng như du khảo và tìm hiểu bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc tại chỗ Chill, Chu Ru, K’ho…

1.2.5. Tài nguyên nhân văn

Do mới được thành lập năm 1986 nên dân cư trên địa bàn huyện chủ yếu là dân kinh tế mới đến từ nhiều vùng khác nhau, nhiều nhất là Quảng Ngãi, Hà Tây, Hà Nội. Dân tộc bản địa có Châu Mạ, K’Ho, Chill.. Thành phần dân tộc gồm 15 dân tộc anh em trên toàn đất nước cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm trên 80%, đồng bào dân tộc ít người chiếm gần 20%.

Toàn huyện hiện có 34.289 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 17.586 người đang làm việc trong các ngành kinh tế, chiếm 51% dân số; số người trong độ tuổi lao động đang đi học 1.851 người, số người trong độ tuổi có khả năng lao động đang làm nội trợ là 1.488 người và số người trong độ tuổi có khả năng lao động không có việc làm 562 người. Trong số các lao động đang làm việc trong các ngành công nghiệp, dịch vụ… chiếm gần 27%. Lao động trong nông nghiệp có trình độ canh tác và có nhiều kinh nghiệm thâm canh các loại cây công nghiệp (điều), cây ăn quả (sầu riêng, chôm chôm…), thuận lợi để phát triển các trương trình khuyến nông và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng như phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp công nghệ cao.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đồng bào dân tộc là những người có nhiều đóng góp, nhất là trong việc xây dựng căn cứ cách mạng Khu 6.

Tuy mỗi thành phần dân tộc có bản sắc và truyền thống văn hóa riêng, nhưng với truyền thống lịch sử, nguồn nhân lực dồi dào và dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lâm Đồng, huyện ủy, UBND huyện Đạ Huoai, nhân dân trong huyện đều cùng chung mục đích đoàn kết, tiếp tục vun đắp, thừa kế những giá trị vật chất, tinh thần xây dựng con người mới có đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnh, khơi dậy và phát huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu chọn lọc nền văn hóa hiện đại, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho các dân tộc trong huyện, xây dựng huyện nhà thành huyện giàu đẹp trên tiến trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

1.3. Thực trạng cảnh quan môi trường

Với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ - du lịch và nông - lâm - ngư nghiệp, cảnh quan thiên nhiên của huyện đã bị tác động, môi trường đã có dấu hiệu bị ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp, nạn chặt phá rừng, quá trình đô thị hóa và du lịch, sản xuất nông nghiệp.... Các biện pháp kiềm chế ô nhiễm môi trường không theo kịp đà phát triển nên hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường chưa cao.

Các quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của các xã đã lạc hậu và bị phá vỡ do nhiều nguyên nhân; công tác quản lý nhà nước về đất đai của các xã, các công ty, nông trường còn lỏng lẻo và sai phạm, tài nguyên đất chưa được phát huy đúng mức. Tài nguyên nước chưa được phát huy có hiệu quả, tình trạng khai thác mạch nước ngầm chưa được các cơ quan chức năng quan tâm quản lý... Các quy hoạch về khai thác tài nguyên cát, đá xây dựng, đất sét chưa được lập, việc tổ chức sản xuất và quản lý thiếu chặt chẽ làm thất thoát nguồn thu, ảnh hưởng đến môi trường, giao thông...

Ngoài ra, môi trường nước bị ô nhiễm do nước thải các khu dân cư, các công trình vệ sinh phần lớn là tự chảy, tự thấm, nước thấm từ các bãi rác không được qua xử lý gây ô nhiễm mạch nước ngầm ở tầng nông, đồng thời việc thu gom các loại rác sinh hoạt không triệt để cũng dẫn đến sự ô nhiễm môi trường đất.

- Môi trường không khí cũng bị ô nhiễm do hoạt động sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, các chất ô nhiễm từ các khu công nghiệp, rác thải từ các loại hình du lịch, dịch vụ thải ra, các hoạt động giao thông vận tải đã sản sinh ra các chất ô nhiễm như bụi, CO2...hơi xăng dầu và tiếng ồn.

- Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp việc sử dụng các loại hoá chất như phân hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ... cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất và phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên.

Từ các đặc điểm trên, trong giai đoạn tới cùng với quá trình khai thác các nguồn lợi để phát triển kinh tế - xã hội cần có các biện pháp bảo vệ và trồng rừng, quản lý khai thác các nguồn tài nguyên, tổ chức xử lý chất thải, nước thải trên từng địa bàn đặc biệt ở các khu khai thác khoáng sản, cụm, điểm công nghiệp và du lịch, đô thị.