Điều kiện tự nhiên 
New Page 1

Ngày 6-6-1986, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 68-HĐBT chia huyện Đạ Huoai cũ thành 3 huyện: Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên.

Hiện nay, huyện Cát Tiên có thị trấn Đồng Nai và 11 xã: Đồng Nai Thượng, Quảng Ngãi, Tư Nghĩa, Phù Mỹ, Phước Cát 1, Phước Cát 2, Đức Phổ, Nam Ninh, Gia Viễn, Tiên Hoàng, Mỹ Lâm.

Với diện tích tự nhiên 428,2km2, dân số 37.462 người (năm 1999), huyện Cát Tiên phía đông giáp huyện Bảo Lâm, Đạ Tẻh; phía nam giáp tỉnh Đồng Nai, phía bắc và tây giáp tỉnh Bình Phước.

Cát Tiên là một vùng tiếp giáp giữa Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, được bao bọc bởi sông Đồng Nai từ 3 phía: tây, nam, bắc.

Cát Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, nền nhiệt và bức xạ mặt trời cao đều quanh năm, không có những thay đổi cực đoan về khí hậu.

Lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều tạo ra hai mùa: mùa mưa và mùa khô trái ngược nhau.

Cát Tiên luôn luôn chịu cảnh hạn hán về mùa khô, lũ lụt về mùa mưa. Hàng năm, về mùa lũ, đất trồng lúa bị ngập lũ, độ sâu và thời gian ngập rất khác nhau giữa các khu vực, độ sâu ngập từ 0,5 đến hơn 3m, thời gian ngập kéo dài từ 15 ngày tới 3 tháng, có nơi ngập nước quanh năm.

Về thổ nhưỡng, Cát Tiên có 3 nhóm đất chính:

- Đất phù sa trên địa hình bằng thấp dọc sông Đồng Nai và các dòng suối, phù hợp cho việc trồng lúa nước, chiếm phần lớn diện tích đất nông nghiệp;

- Đất vàng đỏ trên đá phiến sét có tuổi địa chất rất cổ trên địa hình cao;

- Đất dốc tụ.

Đỉnh núi cao nhất trong huyện là Laet Bite, nằm ở phía đông bắc, cao 659m.

Tuy điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn đối với sản xuất, nhưng Cát Tiên lại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc tồn tại một vùng đa dạng sinh học rất độc đáo.

Trên địa bàn huyện Cát Tiên   có  phần  lớn  đất  đai  của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Cát Lộc (Vườn Quốc gia Cát Tiên).

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Cát Lộc rộng 22.566ha nằm ở phía tây nam tỉnh Lâm Đồng trên địa giới của hai huyện: Bảo Lâm ở phía bắc và Cát Tiên ở phía nam. Phía tây và tây bắc khu bảo tồn có sông Đồng Nai bao bọc.

Trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Cát Lộc, rừng chiếm 93,1%, trong đó 54,2% là rừng tre nứa, còn lại là rừng lá rộng và rừng hỗn giao. Trong rừng thường gặp các loại cây ngụ sinh và dây leo như song mây, tổ diều, cốt toái bổ, sa nhân, lồ ô, nứa,...

Ở đây các nhà nghiên cứu thực vật đã thống kê được 533 loài thuộc 38 chi và 118 họ thực vật cao có mạch. Trong 144 loài cây lấy gỗ có những cây đáng chú ý là cẩm lai, trắc, chò trai, vấp,... Có tới 80 loài cây làm thuốc; 53 loài cây làm cảnh như các loại phong lan, quế lan hương, hương thảo đùi gà, tam bảo sắc,...; 15 loài cây cho dầu nhựa: chò trai, dầu rái, dầu lá bóng, dầu mít, sao đen,… ; 31 loài cây ăn quả: dâu da, xoan, trám, xa 1u, xổ,…; 31 loài cây đặc sản như: lồ ô, mun, nứa, song, mây,....

Hệ động vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên Cát Lộc thuộc khu hệ động vật Nam Bộ. Có 44 loài thú thuộc 8 bộ, lớn nhất là bộ ăn thiït: hổ, báo, cầy hương, cầy rôn, rái cá, các loài khỉ, vượn dọc, các loài gặm nhấm: nhím, sóc bay, sóc đen, sóc xám,…; nhiều loài thú móng guốc lớn như bò rừng, nai, hoẵng, lợn rừng, sơn dương,...

Ở đây có tới 200 loài chim, trong đó có nhiều loại chim quý: công, gà tiền, gà lôi, gà so, yểng, vẹt, diều hâu, dù dì, cắc ké,...

Khu bảo tồn còn có nhiều loài động vật bò sát như trăn, rắn độc, kỳ đà, ba ba, cá sấu,... Cá sông và cá đầm lầy rất phong phú như: cá rô, cá lóc trắng,...

Một trong các đặc trưng quan trọng của hệ động vật ở đây là sự có mặt của quần chủng tê giác được gọi là quần chủng tê giác Java cuối cùng ở Việt Nam và là quần chủng tê giác thứ hai được phát hiện trên thế giới.

Cát Tiên còn là nơi có khu di tích khảo cổ học nổi tiếng đã được Nhà nước xếp hạng.

Ngày 1-12-1961, đồng chí Châu Liêm được Trung ương Cục miền Nam uỷ quyền tổ chức cuộc họp tại Bù Rum nhằm thống nhất 3 lực lượng thành Tỉnh uỷ Lâm Đồng. Sau đó, các vùng đồng bào dân tộc ít người đã lần lượt trở thành vùng căn cứ cách mạng bảo vệ an toàn hành lang chiến lược Bắc Nam. Lực lượng cách mạng Lâm Đồng cũ và vùng cửa ngõ chiến khu D nói riêng đã có một bước phát triển mới.

Năm 1975, từ cửa ngõ chiến khu D, từ Khu VI kéo vào, từ Bắc Trường Sơn tràn sang, quân dân ta đã nổi dậy tiến công tiêu diệït địch, giải phóng Bảo Lộc, Di Linh, Đà Lạt, yểm trợ cho Khu VI giải phóng Phan Thiết, Bình Tuy,... Cũng từ cửa ngõ chiến khu D phía tây, các binh đoàn chủ lực cơ động của ta tiến công các cơ sở quan trọng của địch, tham gia giải phóng  Sài Gòn.

Ngày 6-11-1978, xã Đồng Nai, huyện Cát Tiên được Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”.

Huyện Cát Tiên có 6.719ha đất sản xuất nông nghiệp, nguồn nước phong phú, bình độ thấp nhưng địa hình bị chia cắt.

Nông nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Huyện đã đầu tư 1,3 tỷ đồng cho các công trình thuỷ lợi nhỏ, phục vụ cho 2.000ha lúa được chủ động nước tưới.

Về tiềm năng lâm nghiệp, đặc sản rừng rất phong phú với 27.881,71ha đất có rừng. Nhân dân đã trồng trên 2.000ha điều để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.

Mạng lưới điện đã kéo đến 100% số xã. Trong 5 năm (1990 - 1995), Cát Tiên đã đầu tư 35,3 tỷ đồng cho xây dựng cơ bản.

Hệ thống giao thông trong toàn huyện đã được khép kín với 281km đường tỉnh, huyện và giao thông nông thôn, 24 cầu, 200 cống, 52km đường nhựa, 25km đường cấp phối. Tuy vậy, giao thông luôn ách tắc trong mùa mưa gây khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Trong năm học 1999 – 2000, huyện đã có 13 trường tiểu học với 7.191 học sinh, 4 trường trung học cơ sở với 3.716 học sinh, 1 trường phổ thông trung học với 1.110 học sinh, 1 bệnh viện huyện, 7 trạm xá.

Nhiều gia đình trong vùng đồng bào dân tộc đã có cuộc sống tốt hơn, “có bát ăn, bát để”, nhiều nhà sắm được các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền.

Cát Tiên - địa danh gợi cảm lại chính là một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hoá, một vùng đa dạng sinh học với những trang sử cách mạng cận đại rất hào hùng và vẻ vang. Nếu con đường 721 thông suốt qua Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) và nối liền với quốc lộ 20 được nâng cấp, huyện được đầu tư thích đáng, khắc phục được lũ lụt, trong một ngày không xa, Cát Tiên sẽ phát triển với tốc độ rất nhanh.