Phần thứ nhất

|

Phần thứ hai

|

Phần thứ ba

|

Phần thứ tư

|

Phần thứ năm

|

Tổng luận

|

Các phần khác

|

 Search

TỰ NHIÊN, DÂN TỘC, DÂN CƯ

Tự nhiên
  Dân tộc, dân cư
TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG

Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân
    chủ và khởi nghĩa giành chính quyền
    (tháng 8-1945)
Kháng chiến chống thực dân
    Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)
Lâm Đồng 25 năm xây dựng
    và phát triển (1975 - 2000)
SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Lịch sử phát triển kinh tế Lâm Đồng
Nông, lâm nghiệp
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
    và xây dựng cơ bản
Du lịch, thương mại
Giao thông - Vận tải, Bưu chính-Viễn thông,
    Điện lực
Tài chính - Ngân hàng
Khoa học và Công nghệ
VĂN HÓA - XÃ HỘI - HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

VĂN HÓA
Di tích khảo cổ
Các di tích danh lam, thắng cảnh
Văn học - Nghệ thuật
Báo chí
Thiết chế văn hóa
Kiến trúc
Phong tục, tập quán
Ngôn ngữ
XÃ HỘI
Giáo dục và đào tạo
Y tế
Thể thao
Đời sống dân cư và chính sách xã hội
Tôn giáo
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Đảng bộ Lâm Đồng
Bộ máy quản lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng
Hệ thống mặt trận tỉnh Lâm Đồng
Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN

Thành phố Đà Lạt
Huyện Lạc Dương
Huyện Đơn Dương
Huyện Đức Trọng
Huyện Lâm Hà
Huyện Di Linh
Thị xã Bảo Lộc
Huyện Bảo Lâm
Huyện Đạ Huoai
Huyện Đạ Tẻh
Huyện Cát Tiên
THAY LỜI BẠT

Địa chí Lâm Đồng, một công trình
    nghiên cứu giàu chất lượng khoa học
    và giá trị thực tiễn
Địa chí Lâm Đồng, món quà đặc biệt
    bước sang thiên niên kỷ mới
Về bộ Địa chí Lâm Đồng
Đôi điều cảm nhận qua Địa chí Lâm Đồng
Mấy ý kiến về bộ Địa chí Lâm Đồng
Lời giới thiệu
Ban chủ nhiệm chương trình
Hội đồng nghiệm thu
Hội đồng biên soạn
Cộng tác viên

ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN

© Sở KHCNMT Lâm Đồng

 

Trang trước | Trang sau

 

 

 

Lâm Hà là huyện kinh tế mới và vùng đồng bào dân tộc của tỉnh Lâm Đồng, được thành lập theo Quyết định số 157 QĐ/HĐBT ngày 24- 10-1987 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy là một huyện mới nhưng cư dân bản địa có quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Phần lớn đất đai của huyện Lâm Hà được tách ra từ huyệïn Đức Trọng, sáp nhập thêm 3 xã thuộc vùng tây bắc của huyện Lạc Dương. Vì vậy, tuy trung tâm huyện lỵ chỉ cách thành phố Đà Lạt 50km, nhưng huyện Lâm Hà có đến 1/2 diện tích thuộc vùng sâu, vùng xa, có nhiều khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Sự ra đời của huyện Lâm Hà gắn liền với kết quả của sự nghiệp xây dựng các vùng kinh tế mới Hà Nội trên đất Lâm Đồng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc.

Năm 1976, xã Đăng Gia thuộc huyện Di Linh được cắt chuyển về huyện Đức Trọng. Nơi đây trở thành một trong hai vùng đón nhận đồng bào từ thủ đô Hà Nội vào xây dựng kinh tế mới. Hai chữ Lâm và Hà biểu hiện tình đoàn kết, gắn bó thuỷ chung giữa hai địa phương Lâm Đồng và Hà Nội.

Sau 11 năm xây dựng và phát triển với nhịp độ nhanh, trên vùng đất hoang của xã Đăng Gia (có tên gọi là Lán Tranh) đã hình thành nên 5 xã: Tân Hà, Tân Thanh, Đan Phượng, Hoài Đức và Phúc Thọ. Đồng thời ở vùng kinh tế mới Nam Ban cũng hình thành thị trấn Nam Ban và 3 xã mới: Mê Linh, Đông Thanh và Gia Lâm.

Năm 1987, cả hai vùng kinh tế mới cùng với 5 xã: Đinh Văn, Tân Văn, Đạ Đờn, Phi Tô và Phú Sơn được tách ra từ huyện Đức Trọng thành lập nên huyện mới Lâm Hà. Khi thành lập huyện, Hội đồng Bộ trưởng đồng thời có quyết định cho thành lập thêm 3 xã mới ở phía bắc là Phi Liêng, Liêng Srônh và Rô Men. Xã Đinh Văn được Nhà nước quyết định chuyển đổi thành thị trấn và là trung tâm hành chính của huyện.

Hiện nay, huyện Lâm Hà có 126.699 người dân, tập hợp trong 19 đơn vị hành chính, bao gồm 2 thị trấn: Đinh Văn, Nam Ban và 17 xã: Rô Men, Liêng Srônh, Phi Liêng, Phi Tô, Đạ Đờn, Đạ K’Nàng, Phú Sơn,        

Gia Lâm, Mê Linh, Hoài Đức, Liên Hà, Đan Phượng, Phúc Thọ, Đông Thanh, Tân Thanh, Tân Hà, Tân Văn.

*

Huyện Lâm Hà có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng. Với diện tích tự nhiên 1.587,6km2, Lâm Hà là huyện có diện tích lớn thứ hai của tỉnh, sau huyện Di Linh, tương đương với diện tích tự nhiên của một số tỉnh ở miền Bắc.

Huyện Lâm Hà phía tây và bắc giáp tỉnh Đắc Lắc; đông giáp huyện Lạc Dương, thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng; tây giáp huyện Di Linh.

Địa hình huyện Lâm Hà có dạng cao nguyên mấp mô, gợn sóng, bị chia cắt bởi nhiều sông suối, hồ đầm. Độ cao trung bình 1.000m so với mặt biển, cao nhất là dãy Hòn Nga có 4 ngọn cao trên 1.900m, trong đó đỉnh Hòn Nga cao 1.998m. Từ dãy Hòn Nga, địa hình thấp dần về 2 phía đông nam và tây bắc, thấp nhất là thôn Phi Có (xã Rô Men) có độ cao 497m.

Nguồn nước tự nhiên rất phong phú do nhiều sông suối và trên 1.000ha hồ, đầm quanh năm có nước.

Sông Đa Dâng và sông Đa Nhim là 2 nhánh đầu nguồn của sông Đồng Nai đều chảy qua địa phận Lâm Hà. Các dòng suối Cam Ly, Đa Mê, Đa Sê Đăng, Đạ K’Nàng đều theo hướng bắc nam đổ vào sông Đa Dâng ở phía nam của huyện. Phía tây có sông Đạ Ra Măng, phía bắc có sông Krông Knô là ranh giới tự nhiên giữa Lâm Hà với huyện Dak Nông và huyện Lak của tỉnh Đắc Lắc. Cả hai sông này đều chảy sang Căm-pu-chia và đổ vào sông Mê Công. Lâm Hà có một số hồ và đầm như: hồ Ka Ni, Đạ Sa, Đạ Tông, Ri Hin, Bãi Công; các đầm Voi, đầm Đĩa,...

Nguồn nước dồi dào, địa hình dốc và có nhiều vùng bị chia cắt mạnh tạo cho huyện Lâm Hà có nhiều tiềm năng phát triển thuỷ điện. Nhiều thác nước đẹp và hùng vĩ là những cảnh quan du lịch rất hấp dẫn như: thác Voi ở Nam Ban, thác Liên Chi Nha ở Tân Thanh, thác Nếp ở Phúc Thọ, thác Bảy Tầng ở Phi Liêng v.v…

Đập thuỷ nông Đạ Đờng bảo đảm nước tưới cho 1.800ha lúa 2 vụ và hàng ngàn hecta vườn cây công nghiệp khác. Đập Cam Ly Thượng có thể bảo đảm nước tưới cho vùng cây công nghiệp của thị trấn Nam Ban và 3 xã trong khu vực này. Hệ thống mặt nước được phân bố đều khắp bảo đảm giữ ẩm, tăng mạch nước ngầm, điều hòa hệ sinh thái, giúp cho rừng và tập đoàn cây trồng khá phong phú của huyện Lâm  Hà  phát  triển  thuận  lợi. Nhiều diện tích ao hồ nuôi cá đạt hiệu quả kinh tế cao.

*

Huyện Lâm Hà có trục đường chiến lược chính là quốc lộ 27 nối với quốc lộ 20 ở ngã ba Liên Khương, chạy đến thành phố Buôn Ma Thuột, đoạn qua địa phận Lâm Hà dài 77 km. Đây là tuyến đường quan trọng nối với các xã vùng sâu, vùng xa ở phía bắc, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng này.

Tỉnh lộ 725 nối Lâm Hà với thành phố Đà Lạt có 29km đi qua địa phận Lâm Hà, được chia làm 2 đoạn: nối với quốc lộ 27 ở N’Thôn Hạ đi Tà Nung và nối với quốc lộ 27 ở Đinh Văn đi Tân Hà. Đây là tuyến đường nối liền trung tâm huyện với 2 vùng kinh tế quan trọng của huyện là Nam Ban và Lán Tranh.

Toàn huyện đã xây dựng được mạng lưới giao thông với tổng chiều dài 778km bảo đảm ô tô chạy đến được tất cả các xã.

Trên các tuyến giao thông có nhiều đèo và dốc: đèo Phú Mỹ, đèo Chuối, dốc 800, dốc Phì Phò, dốc Võng v.v…

Rừng của huyện Lâm Hà chiếm 57,34% diện tích tự nhiên với 90.977,21ha. Độ che phủ của rừng còn lớn, trữ lượng gỗ đạt 7 triệu mét khối và 85 triệu cây tre nứa. Ngoài các loại gỗ thông dụng còn có nhiều loại gỗ quý hiếm như cẩm lai, trắc, gõ, sao, xá xị. Đặc biệt trong rừng còn có nhiều loại dược liệu tự nhiên và có khả năng trồng với diện tích lớn như: sâm Bố Chính, sâm cau, sâm chân rết, tam thất, sa nhân, đỗ trọng, canh ki na, quế v.v… Những điều kiện thuận lợi này cho phép thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án về lâm nghiệp, thực hiện khoanh nuôi, tu bổ, cải tạo và trồng rừng đạt hiệu quả. Từ năm 1991, bình quân mỗi năm, huyện Lâm Hà trồng thêm được 400ha rừng trên những khu vực đất trống, đồi trọc, đã thực hiện giao được 19.000ha (chiếm 25% diện tích rừng hiện có) cho đồng bào các dân tộc tại chỗ quản lý, chăm sóc, bảo vệ.

Từ những ngày đầu thành lập đến nay, kinh tế huyện Lâm Hà liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, xu thế ngày càng ổn định và vững chắc. Tuy mức tăng trưởng cao, nhưng dân số cũng tăng nhanh. Đến năm 1999 đã lên tới 124.540 người, gấp 2 lần so với khi thành lập huyện.

Là vùng đất mới khai hoang, tầng dầy canh tác lớn, độ phì cao, điều kiện khí hậu thuận lợi, sản xuất nông nghiệp thực sự là thế mạnh, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện. Hướng vào việc khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, khí hậu, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn vốn, phát triển kinh tế nhiều thành phần, sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Diện tích canh tác năm 1987 mới đạt 10.050ha, đến năm 1997 đã lên 27.700ha, tăng gấp 2,39 lần. Tổng sản lượng lương thực qui thóc đạt 37.170 tấn, tăng 2,38 lần so với năm 1987, bình quân lương thực đạt 340 kg/người/năm, đạt mức cao so với các huyện ở vùng núi.   

Lâm Hà có một số đặc sản nổi tiếng như: gạo thơm Tân Văn, nếp Tân Hà, chè Lán Tranh, chuối La Ba, cà phê Phú Sơn, rượu Cát Quế v.v…

Cây công nghiệp dài ngày phát triển nhanh, đã hình thành các vùng chuyên canh với sản lượng hàng hoá ngày càng lớn, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Diện tích cây công nghiệp năm 1987 mới có 2.240ha, đến năm 1999 đã lên 24.778ha, chủ yếu là cà phê, dâu tằm và chè.

Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, toàn huyện đã trồng được trên 600ha quế và 150ha cây ăn quả có giá trị cao như nhãn lồng, vải thiều, sầu riêng, hàng chục hecta dược liệu theo mô hình nông lâm kết hợp.

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động chủ yếu là: sản xuất vật liệu xây dựng, mộc gia dụng, sửa chữa cơ khí, xay xát chế biến nông sản,… Sản xuất đã tăng về quy mô và tốc độ. Năm 1991, toàn huyện có 170 cơ sở với 483 lao động; đến năm 1997 có 520 cơ sở sản xuất với 1.268 lao động.

Về xây dựng cơ bản, với sự hỗ trợ của Nhà nước và đóng góp của nhân dân, đã đầu tư trên 40 tỷ đồng cho các công trình hạ thế điện, giao thông, thuỷ lợi, xây dựng trường học, bệnh viện, trạm xá, trụ sở làm việc,… Bộ mặt của thị trấn và các vùng nông thôn đã có sự thay đổi nhanh chóng.

Hệ thống lưới điện quốc gia đã về đến 7/17 xã, thị trấn trong huyện. Ngoài ra còn có 1.200 hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa lắp đặt được máy thuỷ điện nhỏ phục vụ thắp sáng và xay xát.

Sự phát triển và đi lên nhanh chóng của huyện Lâm Hà là kết quả của việc thực hiện thắng lợi chủ trương xây dựng các vùng kinh tế mới kết hợp với cuộc vận động định canh định cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc.

Điều rất đáng lưu ý là cộng đồng dân cư của huyện Lâm Hà hiện nay có nhiều dân tộc anh em  trong cả nước cùng chung sống và lập nghiệp trên quê hương mới, trong đó người Kinh chiếm trên 80%, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 20%.

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm, vùng rừng núi Lâm Hà là những căn cứ địa vững chắc và là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng.

Năm 1965, Tỉnh ủy Tuyên Đức chuyển từ huyện Lạc Dương về vùng Lán Tranh là nơi có điều kiện tăng gia sản xuất, xây dựng lực lượng chiến đấu, giữ được liên lạc với Khu ủy Khu VI và các vùng căn cứ của tỉnh.

 Ngày 25-1-1968, đồng chí Trần Lê, Bí thư Khu uỷ đã triệu tập hội nghị cán bộ lãnh đạo của hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức tại Lán Tranh để phổ biến Nghị quyết của Trung ương, của Khu uỷ và giao nhiệm vụ cho các địa phương tiến hành đợt Tổng tiến công và nổi dậy vào mùa xuân Mậu thân (1968).

Đại hội Tỉnh Đảng bộ tỉnh Tuyên Đức lần thứ nhất đã được tổ chức tại thôn B’Trú ngày 12-7-1970.

Trong những năm qua, với truyền thống đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, cần cù, thông minh, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, gian khổ, Đảng bộ và các dân tộc anh em trong toàn huyện Lâm Hà nỗ lực vươn lên góp phần cùng tỉnh Lâm Đồng và cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới thắng lợi.

 

 

Trang trước | Trang sau

ĐỊA CHÍ LÂM ĐỒNG
Nhà xuất bản văn hóa dân tộc - Hà Nội, 2001
Thiết kế trang web: Phòng thông tin Sở KHCNMT Lâm Đồng

Về đầu trang