HOA ĐÀ LẠT – HIỆN TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI THAM GIA THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

TS. Nguyễn Quốc Vọng

GĐ Trung tâm Phát triển Quốc tế - ĐHNN Hà Nội

Đại học RMIT, Melbourne Vic 3001,Australia

 

Hiện trạng phát triển hoa – cây cảnh tại Việt Nam

Hoa – cây cảnh tại Việt Nam chỉ mới được sản xuất trên một diện tích rất nhỏ, khoảng 15.000 ha, chủ yếu tập trung 3 vùng: miền Bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Lào Cai, Sơn La), ngoại thành TP.HCM (Hóc Môn, Củ Chi) và Lâm Đồng (Đà Lạt). Hoa sản xuất ở miền Bắc chỉ mới cung cấp cho thị trường Hà Nội khoảng 65%, chưa xuất khẩu. Hoa sản xuất ở Đà Lạt cung cấp thị trường TP.HCM và xuất khẩu khoảng 100 triệu cành hoa tươi, 5 triệu cây giống và khoảng 1 triệu cành hoa khô ra nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore với kim ngạch khoảng 16-17 triệu Mỹ kim (2007). Như vậy tuy ngành hoa Việt Nam đã có phát triển nhưng diện tích, số lượng và chủng loại vẫn còn ít, chất lượng chưa cao và chưa đáp ứng được ngay cả với yêu cầu thị trường trong nước, chưa nói đến thị trường nước ngoài. Việc xuất khẩu phần lớn nhờ các công ty nước ngoài (Hasfarm) thực hiện.

Về công nghệ cao ứng dụng trong ngành hoa – cây cảnh, Việt Nam cũng đã xây dựng một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng và Lâm Đồng. 

Tại Hà Nội, hoa được sản xuất trên khoảng 1000 ha chủ yếu ở Từ Liêm, Tây Tựu, Đông Anh, Thanh Trì. Khu nông nghiệp công nghệ cao ở Từ Liêm đi vào hoạt động từ tháng 9/2004. Vốn đầu tư 24 tỷ đồng (1,5 triệu USD), trong đó 50% vốn ngân sách thành phố và 50% vốn cơ quan chủ quản – Công ty TNHH Nhà nước một thành viên đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Nội. Khu nông nghiệp công nghệ cao được xây dựng trên diện tích 7,5 ha với 5.500 m2 trồng dưa chuột, cà chua, ớt ngọt; 2.000 m2 trồng hoa, các giống đều được nhập từ Do Thái. Với các tiến bộ mới về giống, quy trình chăm bón, hệ thống dinh dưỡng khoáng tự động, ánh sáng và nhiệt độ được điều chỉnh, năng suất cây trồng ở đây đạt khá cao và việc sản xuất bước đầu được xem là hiệu quả.

Tại Hải Phòng, hoa được sản xuất trên khoảng 300 ha. Khu nông nghiệp công nghệ cao được thực hiện tại xã Mỹ Đức huyện An Lão với tổng vốn đầu tư 22,5 tỷ đồng. Cơ quan chủ trì là Trung tâm phát triển Lâm nghiệp Hải Phòng. Khu nông – lâm nghiệp công nghệ cao Hải phòng đã xây dựng các khu chức năng như: khu bảo tồn cây ăn quả đầu dòng và vườn ươm cây giống; khu sản xuất giá thể; khu nhà nuôi cấy mô tế bào; khu nhà kính, khu nhà lưới sản xuất rau an toàn chất lượng cao; khu nhà lưới sản xuất cây cảnh. Hiện nay, các khu nhà lưới, nhà kính sản xuất rau và hoa đã hoạt động và cho sản phẩm được 2-3 vụ. Năng suất cà chua, dưa chuột đạt 200-250 tấn/ha/năm, hoa hồng cũng đạt 200-300 bông/m2.

Tại Lâm Đồng, hoa được sản xuất tập trung ở Đà Lạt và các xã Hiệp Thạnh, Hiệp An với diện tích sản xuất trên 3.200 ha, sản lượng sản xuất khoảng 1,1 tỷ cành (2009). Từ đầu 2004 Lâm Đồng đã khởi động các chương trình trọng điểm trong đó có chương trình nông nghiệp công nghệ cao. Trong kế hoạch phát triển từ 2004 - 2010 Lâm Đồng dự kiến xây dựng một số khu nông nghiệp công nghệ cao với quy mô 15.000 ha. Các họat động chính ở các khu này là sản xuất rau, hoa, dâu tây và chè. Tổng số vốn đầu tư là 2.700 tỷ đồng, trong đó vốn hỗ trợ của nhà nước là 38 tỷ đồng.

Qua các mô hình nông nghiệp công nghệ cao được triển khai ở Việt Nam, chúng ta thấy rằng ba khu nông nghiệp công nghệ cao được xây dựng đều do các địa phương chủ trì xây dựng và giao cho các doanh nghiệp làm chủ đầu tư. Việc tiếp nhận và đưa công nghệ cao vào sản xuất đầu tư lớn (7 tỷ đồng/ha hay xấp xỉ 0,5 triệu USD). Đây là những khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thực sự, nhất là của Hà Nội và Hải Phòng vì có sử dụng các công nghệ mới, hiện đại và năng suất đạt được cũng rất cao như dự định. Tuy nhiên đối tượng chính của hai nơi này là rau hơn là hoa. Và nếu so sánh cách làm công nghệ vừa của Đà Lạt, Lâm Đồng trên diện tích 500 ha trồng rau, hoa trong nhà mái che phần lớn làm bằng tre trúc, hiệu quả của Hà Nội và Hải Phòng chưa chắc là cao hơn.

Một điểm rất rõ của các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam là hầu như thiếu sự hợp tác của các cơ quan khoa học và thiếu các nghiên cứu để tăng tính thích ứng của công nghệ. Ngay cả ở Đà Lạt, Lâm Đồng nơi ngành hoa có phần vượt trội về lượng và chất lượng vì có sự đầu tư của nước ngoài, phần lớn các nhà sản xuất/nông dân ở đây cũng không được chuyển giao công nghệ cao một cách bài bản, khoa học.

Thị trường hoa – cây cảnh trên thế giới

 Hoa – cây cảnh trên thế giới đã có một thị trường rất lớn, gần 102 tỷ USD (2003) với mức tăng trưởng 6% mỗi năm, cao gấp nhiều lần so với thị trường các loại nông sản khác vốn được xem trọng như gạo, cà phê, chè (xem bảng). 

Thị truờng nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào năm 2007

(Nguồn: FAO, http://unstats.un.org/unsd/default.htp)

  Thị trường nhập khẩu thế giới

Trị giá thị trường nhập khẩu (USD)

Xuất khẩu Việt Nam

USD

Thị phần %

Rau & Quả

       97.900.226.000

   300.000.000

0,3

Hoa – Cây cảnh

    101.840.000.000 (1)

   10.000.000

0

Gạo

         9.249.026.000

1.489.970.000

16

Cà phê

         7.548.041.000

1.911.463.000

25

Cao su

         7.488.707.000

1.400.000.000

19

Chè

         3.059.002.000

   130.833.000

4

Hạt điều

         1.569.312.000

   653.863.000

41

Hồ tiêu

            511.307.000

   271.011.000

53

Thế giới

     669.063.000.000

8.300.000.000            

1,2

Note(1)  www.theflowerexpert.com/content/flowerbusiness/floral-industry

Nước Đức có thị trường Hoa – cây cảnh lớn nhất thế giới với trị giá khoảng 22 tỷ USD, chiếm 22%; thị trường Hoa kỳ với 15 tỷ USD, chiếm 15%; thị trường Pháp và Anh với 10 tỷ đô la, chiếm 10 %; thị trường Hà Lan với 9 tỷ đô la, chiếm 9 %; thị trường Nhật Bản với 6 tỷ đô la, chiếm 6 %; thị trường Ý và Thuỵ sĩ với 5 tỷ đô la, chiếm 5 %.

 Cung cấp hoa – cây cảnh cho những thị trường to lớn này là những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ và giá trị đất chưa cao, hoặc là những quốc gia ở nam bán cầu (Úc, New Zealand) sản xuất hoa cung cấp cho thị trường bắc bán cầu vào lúc trái vụ.

 Ở thị trường Âu châu, các nước châu Phi (Nam Phi, Kenya và Zimbabwe) là những nhà cung cấp chính, trong đó Kenya chiếm thị phần lớn nhất, đạt kim ngạch khoảng gần 700 triệu USD mỗi năm, nuôi sống 30.000 lao động. Ở đây ngành trồng hoa – cây cảnh được quản lý bởi Hội đồng Hoa Kenya (Kenya Flower Council).           Thị trường Mỹ cũng là một thị trường hoa – cây cảnh to lớn. Vào năm 2006, Mỹ nhập khẩu đến 79% hoa – cây cảnh trong đó Colombia là nước cung cấp lớn nhất, chiếm đến 59%, đạt kim ngạch 1 tỷ USD, nuôi sống 99.000 lao động. Gần đây một quốc gia trung Mỹ khác, Ecuador, cũng đã trở thành quốc gia xuất khẩu hoa hồng có tiếng. Hoa hồng Ecuador có chất lượng cao, kích cở hoa lớn vì được trồng ở cao nguyên. 

Thị trường hoa – cây cảnh Nhật bản

Nhật Bản có thị trường hoa – cây cảnh lớn nhất châu Á, trị giá khoảng 6 tỷ USD. Thị trường này nhập khẩu khoảng 545 triệu USD (2006) và tăng trưởng đều đặn 5-7% mỗi năm. Nhật Bản nhập hoa loa kèn, tulíp từ Hà Lan, hoa cúc từ Trung Quốc, Đài Loan, hoa Proteas và Wax flower từ Úc, Tân Tây Lan và phong lan từ Thái Lan, Singapore.

Tỉ trọng của các nước xuất khẩu hoa – cây cảnh vào Nhật Bản năm 2007 được thấy như sau: Hà Lan 27.0%; Trung Quốc 9.7%; Đài Loan 9.0%; Malaysia 8.8%; Thái Lan 7.3%; Colombia 6.3%; Việt Nam1.4%; ….

Đà Lạt xuất khẩu sang Nhật hoa tươi cắt cành, hoa khô và cây giống, đạt một kim ngạch khoảng 16-17 triệu USD vào năm 2007. Trong số 95 triệu hoa cắt cành xuất khẩu, trị giá 12 triệu USD, Dalat Hasfarm chiếm đến 98%.

Thách thức và cơ hội của ngành hoa – cây cảnh Đà Lạt

Ngành sản xuất hoa của Đà Lạt luôn giữ được mức tăng trưởng bình quân 20%/năm, diện tích canh tác cũng tăng nhiều lần trong vòng 10 năm qua, từ khoảng 320 ha năm 2001 lên gần 900 ha năm 2009, sản lượng hoa cắt cành ở mức 150 triệu cành năm 2001 đã tăng lên trên 900 triệu cành năm 2009.

Cũng trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu hoa của Đà Lạt liên tục tăng. Năm 2006, Đà Lạt đã xuất khẩu 65 triệu cành hoa, kim ngạch đạt 8,9 triệu USD; năm 2007, sản lượng xuất khẩu đạt 88,6 triệu cành, tăng hơn 37% so với năm trước; năm 2008 xuất khẩu 95 triệu cành, tăng 10,7% so với năm 2007. Năm 2009, tuy kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn nhưng sản lượng hoa xuất khẩu 3 tháng đầu năm đạt 27 triệu cành, tăng 83,5%, kim ngạch cũng tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2008.

  Tuy nhiên trong quá trình phát triển, ngành hoa – cây cảnh Đà Lạt cũng đã bộc lộ những lổ hổng lớn trong các khâu: giống, diện tích sản xuất, dây chuyền sản xuất, công nghệ sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng mặt hàng, an toàn vệ sinh, tổ chức hiệp hội và đặc biệt nhất là “tay nghề” của thành phần sản xuất chủ lực – nông dân – vẫn còn theo lề lối cũ, chưa được nâng cao ngang tầm của một nước mạnh về xuất khẩu. Cho nên nhìn chung tính bền vững của ngành hoa – cây cảnh Đà Lạt hãy còn bấp bênh.  

Để nắm bắt cơ hội mở rộng thị trường trong và đặc biệt ngoài nước, đã đến lúc ngành hoa – cây cảnh Đà Lạt cần phải triển khai những điểm sau:

Trung tâm nghiên cứu hoa - cây cảnh

Muốn phát triển tốt ngành hoa – cây cảnh trước hết phải có một địa chỉ để làm nơi thu nhập, thử nghiệm và triển khai giống mới và công nghệ mới. Việc xây dựng một trung tâm “nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các giống hoa - cây cảnh và công nghệ cao phục vụ cho thị trường trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu” là một khởi đầu hết sức quan trọng.

Trung tâm nghiên cứu & phát triển hoa - cây cảnh Đà Lạt - Lâm Đồng sẽ là cơ quan mũi nhọn mang tính đột phá, giải quyết được 4 thách thức về chất lượng, số lượng, giá cả và an toàn vệ sinh; đưa ngành hoa - cây cảnh Việt Nam hội nhập WTO. Trung tâm nghiên cứu Khoai tây,Rua & Hoa Đà Lạt và Đại học Đà Lạt phải được tiếp sức để trở thành những Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Hoa – Cây cảnh cho Đà Lạt, Lâm Đồng và toàn quốc.

‚ Chọn thị trường xuất khẩu

Thị trường Nhật Bản là thị trường lớn nhất châu Á với khoảng 500-600 triệu USD nhập khẩu hàng năm. Với cơ cấu 35-40% tổng diện tích trồng hoa hồng và 30% tổng diện tích trồng hoa cúc, Việt Nam hiện đang có cơ cấu hoa phù hợp với thị hiếu nhập khẩu hoa của Nhật Bản.

Với phong thổ và khí hậu của vùng cao nguyên, Đà Lạt là nơi lý tưởng để phát triển hoa hồng chất lượng cao cung cấp thị trường Nhật Bản. Ecuador là một nước nhiệt đới nhưng ngày nay đã trở thành quốc gia xuất khẩu hoa hồng có tiếng vì họ đã biết tận dụng vùng cao nguyên để trồng hoa hồng, điều kiện để hoa có chất lượng cao vì có kích cở hoa lớn. Đứng về mặt điạ lý, Việt Nam là địa bàn cung cấp Hoa – cây cảnh cho thị trường Nhật Bản, Hàn quốc, Hồng Kông và Singapore.

ƒ Đa dạng hoá bộ giống hoa – cây cảnh Việt Nam

Để có một bình hoa đẹp, ngoài các loại hoa cần thiết cũng còn cần phải trang trí các loại lá. Đà Lạt đã xuất khẩu hoa tươi, hoa khô, cây giống nhưng chưa chú ý đế các loại lá trang trí. Trung tâm nghiên cứu & phát triển hoa - cây cảnh Đà Lạt -Lâm Đồng sẽ là nơi thu thập, nghiên cứu và phát triển để đa dạng hoá bộ giống hoa, lá và cây cảnh Việt Nam.

Nghệ thuật cắm hoa Úc:

Ngoài các loại hoa Proteas, Kangaroo Paw, Banksia, các loại lá trang trí như dương xỉ, khuynh diệp, cỏ spear grass cũng rất quan trọng.

„     Cây giống/Củ giống

Cây giống và củ giống là những mặt hàng rất thiết yếu để phát triển một ngành hoa – cây cảnh bền vững. Muốn cây giống và củ giống có chất lượng cao, sạch bệnh... thì cần phải có quy trình công nghệ cao. Đà Lạt đã phát triển rất tốt về công nghệ cấy mô tissue culture cho nên có khả năng tham gia vào việc sản xuất cây giống và củ giống xuất khẩu sang các nước có nhân công đắt như Nhật Bản, Hà Lan...

… Xây dựng thương hiệu Hoa Việt Nam

Trong số 10 loại hoa phổ biến trên thị trường thế giới như hoa Hồng, Cúc, Tulip, Lily, Carnation, Gerbera, Freesia, lan Cymbidium, Alstroemeria và Gypsophilia, Đà Lạt nên chọn khoảng một vài loại thích hợp nhất với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu của mình, phát triển thành những loại hoa đặc biệt, tạo thành thương hiệu cho hoa Đà Lạt, hoa Việt Nam. Hồng, Cúc là hai loại hoa cắt cành có thị trường lớn nhất thế giới, kể cả thị trường Nhật Bản.  

† Hội nhập nhanh

Được thực hiện qua hình thức tổ chức hoặc tham gia các cuộc triển lãm, hội chợ về hoa – cây cảnh trong nước và quốc tề, quảng bá thương hiệu hoa Việt Nam. Festival Hoa Đà Lạt là một hoạt động rất tích cực, phổ biến hiệu quả thương hiệu Hoa Việt Nam.

Hội chợ hoa thế giới lần VI tổ chức ở Makuhari, Tokyo, Nhật Bản (6th International Flower Expo - IFEX GARDEX 2009) từ 11-13 tháng 11 năm 2009 vừa qua là dịp để Hoa Đà Lạt tham gia diễn đàn thế giới.

Tổ chức Hiệp hội Hoa Đà Lạt

Là cốt lõi của sự thành công trong việc xây dựng và thương mại hoá, quốc tế hoá ngành hoa – cây cảnh Đà Lạt. Nhờ “Hội đồng hoa – Flower Council”mà hoa của hai nước Kenya và Colombia đã “bay” khắp thế giới, mang về cho hai quốc gia này một kim ngạch xuất khẩu 700 triệu và 1 tỷ USD, mang công ăn việc làm đến cho cả trăm ngàn chuyên viên, các nhà sản xuất và nông dân.

Ngoài việc tiếp thị với thế giới, Hội đồng/Hiệp hội hoa Đà Lạt là một tổ chức chuyên nghiệp nhưng phải chuyên môn để giúp các nhà sản xuất/nông dân nâng cao công nghệ sản xuất, chủ động giá cả, có ý kiến đối với nhà nước trong việc tổ chức cơ chế, đầu tư, cải thiện hạ tầng cơ sở và chế độ kiểm dịch.

Có như vậy, việc sản xuất và xuất khẩu mới nhanh chóng dễ dàng, hoa Việt Nam sẽ cung cấp không những thị trường trong nước mà còn có có cơ hội cạnh tranh khắp thế giới, nơi có kim ngạch 102 tỷ USD mỗi năm.