Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng 

          ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU                            ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG                  Đà Lạt, ngày 19  tháng 10 năm 2010

             LẦN THỨ IX

        ĐOÀN CHỦ TỊCH

                      * 

           Số 01 - NQ/ĐH                 

 

NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ IX

 ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG

 

            Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng diễn ra từ ngày 26 tháng 9 năm 2010 đến ngày 29 tháng 9 năm 2010, tại thành phố Đà Lạt.

 

QUYẾT NGHỊ

I. Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm 2006- 2010 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2011- 2015 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội.

A. Kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh (2006- 2010).

Đại hội khẳng định:

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện được mục tiêu đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Các chỉ tiêu kinh tế- xã hội chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 14%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lí, năm 2010, tỉ trọng nông, lâm, thủy sản chiếm 49%, công nghiệp và xây dựng 20%, dịch vụ 31%. Trong 5 năm 2006- 2010, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 32.328 tỉ đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.200 triệu USD; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 11.285 tỉ đồng. Quy mô và chất lượng nền kinh tế được nâng lên đáng kể, một số ngành và lĩnh vực phát triển vượt bậc; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được chú trọng đầu tư, tạo điều kiện cho sự bứt phá về phát triển kinh tế- xã hội những năm qua, đồng thời là cơ sở quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong những năm sau.

Lĩnh vực văn hoá- xã hội có nhiều tiến bộ: An sinh xã hội được đảm bảo, hộ nghèo giảm nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên: năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 19 triệu đồng; tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 5%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 15%. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất và đời sống... có những bước phát triển quan trọng.

An ninh chính trị, trật tự xã hội tiếp tục ổn định. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng đã nâng lên rõ rệt, thể hiện được vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện trong từng cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị. Năm 2009, có 66,4% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và 25,8% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 14,2% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và 73,9% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác phát triển đảng viên, xoá thôn, buôn trắng tổ chức đảng, đảng viên được quan tâm; trong nhiệm kỳ, bình quân hàng năm kết nạp được 1.718 đảng viên. Đến nay, có 1.097 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 86,3% tổng số thôn, khu phố; đã thu hẹp được 191 thôn, khu phố chưa có tổ chức đảng và 31 thôn, khu phố chưa có đảng viên (chỉ còn 4 thôn chưa có đảng viên). Hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước được nâng lên; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được khẳng định. Đoàn kết trong Đảng và đồng thuận trong xã hội ngày càng được tăng cường, củng cố.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn những hạn chế, yếu kém: khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp, sản phẩm thấp; chất lượng, hiệu quả, tính bền vững của nền kinh tế còn hạn chế; công nghiệp, dịch vụ chậm phát triển; kết cấu hạ tầng yếu và thiếu đồng bộ. Tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đầu tư chậm, chưa quyết liệt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành liên quan chưa tốt, đặc biệt là trong đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc như lao động, việc làm, ô nhiễm môi trường... chưa được giải quyết kịp thời; đời sống của một bộ phận nhân dân, đặc biệt là nông dân, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. An ninh chính trị còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định. Chất lượng lãnh đạo, hoạt động của hệ thống chính trị một số địa phương chưa đồng bộ; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn hạn chế.

- Những thành tựu đạt được do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, song chủ yếu, do những nguyên nhân sau:

1- Sự vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương phù hợp với thực tiễn của địa phương; phát huy được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển.

2- Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, phát huy dân chủ, củng cố và tăng cường sự đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội, sự đồng bộ trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng.

3- Tập trung chỉ đạo, xây dựng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; nhiều cán bộ đã mạnh dạn đổi mới tư duy và phong cách lãnh đạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

- Những hạn chế, yếu kém trong nhiệm kỳ qua, ngoài nguyên nhân khách quan là các nguyên nhân chủ quan chính sau:

1- Năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, hiệu quả hoạt động của chính quyền ở một số nơi còn hạn chế; ý thức chấp hành kỉ luật, kỉ cương, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên chưa cao.

2- Công tác vận động quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới; chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội ở một số nơi còn hạn chế.

3- Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới.

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra 5 bài học kinh nghiệm sau:

1- Phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị.

2- Tập trung xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực quản lí của chính quyền, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

3- Xác định rõ tiềm năng, thế mạnh; lựa chọn đúng nội dung đột phá, các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm và chỉ đạo quyết liệt trong tổ chức thực hiện. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót.

4- Bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, phải coi trọng phát huy nội lực, đặc biệt là về vốn, công nghệ, lao động, năng lực tổ chức thực hiện, làm tiền đề để thu hút và tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư. Ưu tiên đầu tư phát triển và thu hút đầu tư vào những ngành và lĩnh vực có lợi thế so sánh của địa phương.

5- Lãnh đạo phát triển kinh tế phải được tiến hành đồng bộ với giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính và xây dựng hệ thống chính trị; quan tâm đầu tư xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

B. Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp 5 năm 2011- 2015.

Đại hội nhất trí:

1. Phương hướng, mục tiêu tổng quát 5 năm 2011- 2015.

Phát huy dân chủ, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, trong hệ thống chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ; đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành kỉ cương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát huy mọi nguồn lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; đảm bảo quốc phòng, an ninh; đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững.

2. Mục tiêu cụ thể.

1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (giá 1994) bình quân hàng năm đạt 15- 16%; trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 7,8- 8,3%, công nghiệp và xây dựng tăng 22,5- 24,1%, dịch vụ tăng 19- 20%.

2- Cơ cấu kinh tế năm 2015: nông- lâm- thủy sản 36,8- 37%, công nghiệp và xây dựng 26,8- 28%, dịch vụ 35,2- 35,8%.

3- GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 44,5- 46,2 triệu đồng (khoảng 2.200- 2300 USD), gấp hơn 2 lần so với năm 2010.

4- Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 2.860 triệu USD.

5- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt 84.000- 85.000 tỉ đồng, tăng bình quân 18- 18,6%/năm.

6- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 29.800- 30.500 tỉ đồng. Tỉ lệ thu ngân sách so với GDP đạt từ 13,8 % đến 14,3%; trong đó thuế, phí 19.200- 19.700 tỉ đồng, tỉ lệ huy động đạt từ 8,7% đến 9,3% so với GDP.

7- Giải quyết việc làm mới hàng năm 28.000- 30.000 lao động.

8- Có 90% dân số đô thị được sử dụng nước sạch; 85% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh.

9- Có 70% học sinh trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông và tương đương.

10- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 15%.

11- Có 35- 40% lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo.

12- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,3%; quy mô dân số 1,3 triệu người.

13- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 2%; trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 8%.

14- Có ít nhất 30% số xã cơ bản đạt các tiêu chí về nông thôn mới.

15- Có ít nhất 30% xã, phường, thị trấn; 75% thôn, tổ dân phố và 95% cơ quan đạt danh hiệu văn hóa; 85% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa.

16- Duy trì tỉ lệ che phủ rừng 61%.

17- Giữ vững quốc phòng, an ninh.

18- Hàng năm, có ít nhất 68% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và có 27% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 15% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và 75% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ.

19- Mỗi năm, kết nạp từ 1.750 đảng viên trở lên.

20- Có ít nhất 95% thôn, khu phố, 90% đơn vị sự nghiệp có tổ chức đảng; 100% thôn và trường học có đảng viên.

3. Nhiệm vụ và giải pháp.

3.1. Lĩnh vực kinh tế.

a. Quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Coi trọng công tác quy hoạch và quản lí quy hoạch; rà soát, điều chỉnh quy hoạch đi đôi với tăng cường quản lí quy hoạch. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh của các lĩnh vực, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

b. Xác định các khâu đột phá; các công trình, địa bàn trọng điểm.

- Để có cơ sở thu hút các nguồn lực đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo bước đột phá phát triển kinh tế- xã hội vào những năm sau, trong nhiệm kỳ này, cần tập trung vào 5 khâu đột phá:

+ Phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế- xã hội, trọng tâm là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị.

+ Phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm phát huy lợi thế các loại sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đồng thời từng bước sắp xếp lại sản xuất nông nghiệp, tạo sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp và dịch vụ.

+ Phát triển dịch vụ du lịch chất lượng cao, sớm hình thành một số khu du lịch lớn, đa dạng hóa các loại hình đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ.

+ Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế của địa phương trong những năm đến.

+ Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và công nghiệp khai thác khoáng sản.

- Xác định 16 công trình trọng điểm: Các khu công nghiệp: Lộc Sơn, Tân Phú, Phú Hội. Dự án thuỷ điện Đồng Nai 5. Các dự án thuỷ lợi: Đạ Sị, Đạ Lây. Các khu du lịch: hồ Tuyền Lâm, hồ Đại Ninh, Đan Kia- Đà Lạt. Đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương. Các đường liên tỉnh: 721, 725. Các đường vành đai thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc. Quảng trường thành phố Đà Lạt. Trung tâm văn hóa thể thao Lâm Đồng.

- Tiếp tục xác định 4 địa bàn trọng điểm của tỉnh là: thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, huyện Bảo Lâm.

c. Phát triển công nghiệp- xây dựng.

Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông- lâm sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp năng lượng; tạo điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Tập trung phát triển hạ tầng để khai thác có hiệu quả diện tích đất của các khu, cụm, điểm công nghiệp.

d. Phát triển các ngành dịch vụ.

 - Về du lịch: Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng chất lượng cao, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch. Đầu tư hạ tầng một số khu du lịch mới để kêu gọi đầu tư khai thác; liên kết với khu vực miền Trung- Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ, hình thành các tam giác phát triển du lịch.

- Về thương mại: Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển các trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị, chợ trung tâm; triển khai chương trình phát triển hệ thống chợ nông thôn.

- Quan tâm đầu tư phát triển đồng bộ các dịch vụ khác đảm bảo phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

đ. Lĩnh vực tài chính ngân sách và tín dụng ngân hàng.

- Tài chính ngân sách: Thực hiện nghiêm các chủ trương điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trên lĩnh vực quản lí tài chính, ngân sách, giá cả… Phấn đấu thu ngân sách so với GDP đạt từ 13,8% đến 14,3%; trong đó thu thuế phí đạt 9,3%. Điều hành chi ngân sách đảm bảo đúng dự toán, đúng chế độ.

- Ngân hàng: Duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lí nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay bình quân hàng năm đạt trên 18% và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch do ngân hàng cấp trên giao.

 e. Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn.

- Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo nhanh, bền vững. Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông- lâm sản; bố trí lại cơ cấu cây trồng, vùng sản xuất công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tạo điều kiện giúp đỡ, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững các mô hình tổ chức sản xuất, các loại hình kinh tế tập thể ở nông thôn.

- Tiếp tục thực hiện xã hội hoá nghề rừng; mở rộng diện thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cùng với các biện pháp khác nhằm đảm bảo người dân có thể sống, làm giàu từ nghề rừng; hạn chế đến mức thấp nhất và phấn đấu chấm dứt nạn phá rừng.

g. Đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách đối với người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện cơ bản về đời sống và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, trong đó chú ý người dân tộc gốc Tây Nguyên, coi đây là hướng đột phá trong việc đầu tư toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

h. Về hạ tầng đô thị và định hướng phát triển đô thị.

Tập trung đầu tư các công trình trọng điểm để sớm đưa vào sử dụng. Rà soát toàn bộ các quy hoạch xây dựng đô thị để điều chỉnh, hoàn thiện. Thực hiện Chương trình phát triển nhà ở đô thị. Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa mạng lưới giao thông nội thị. Đầu tư xây dựng và nâng công suất các nhà máy, công trình cấp, thoát nước, xây dựng các nhà máy xử lí chất thải ở các đô thị lớn.

Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng Đà Lạt trở thành thành phố du lịch chất lượng cao và trung tâm giáo dục- đào tạo, nghiên cứu khoa học của cả nước và khu vực; thể hiện tốt vai trò là trung tâm chính trị- hành chính, kinh tế, văn hoá, dịch vụ và đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh.

Xây dựng Bảo Lộc trở thành đô thị công nghiệp của tỉnh gắn với phát triển các ngành dịch vụ; thể hiện rõ vai trò là vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Nam của tỉnh.

i. Tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.

Trọng tâm là sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới, phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác phát triển phù hợp, bình đẳng theo quy định của pháp luật. Chỉ đạo xây dựng một số doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh và có khả năng chi phối được thị trường trong nước và khu vực đối với các sản phẩm hàng hóa- dịch vụ thuộc những lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế.

k. Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường.

Tăng cường đầu tư của Nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực bảo vệ môi trường. Khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lí; có biện pháp ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác tài nguyên trái phép và các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

3.2. Lĩnh vực văn hoá- xã hội.

a. Về giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.

- Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo nhằm phát huy mọi nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên các cấp đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, đảm bảo về phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề nghiệp.

- Nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các đề tài, dự án khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và sự phát triển nhanh, bền vững của địa phương.

- Triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nghề cho lao động theo nhu cầu của xã hội; khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động.

b. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số, kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.

- Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời với đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế; nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới dịch vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cơ sở.

- Thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách về dân số, duy trì mức sinh hợp lí, quy mô gia đình ít con. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện.

c. Về văn hoá, thông tin; thể dục, thể thao.

- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá; chú trọng xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, xây dựng xã, phường, thôn, tổ dân phố, gia đình văn hóa.

- Sắp xếp, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội được thông tin của nhân dân. Chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng Báo Lâm Đồng, Đài Phát thanh- Truyền hình Lâm Đồng.

- Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thể dục, thể thao. Quan tâm chỉ đạo phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao.

d. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội khác.

- Thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững của Chính phủ theo Nghị quyết số 30a đối với huyện Đam Rông và vận dụng cho các xã, thôn nghèo của tỉnh; đồng thời, phát huy mọi nguồn lực tiếp tục thực hiện lồng ghép các chương trình khác để giảm nghèo và có biện pháp tích cực, cụ thể giúp đỡ các hộ cận nghèo vươn lên và không để tái nghèo.

- Về tỷ lệ giảm hộ nghèo, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IX căn cứ tiêu chí quy định hộ nghèo của Chính phủ để có giải pháp phù hợp hàng năm và cả nhiệm kỳ.

- Thực hiện tốt các chính sách xã hội, vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với những người có công với nước và các đối tượng chính sách xã hội khác.

3.3. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

a. Về quốc phòng, an ninh.

- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Trung ương về đảm bảo quốc phòng, an ninh; chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Xây dựng tiềm lực quốc phòng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế- xã hội với quốc phòng, an ninh; chăm lo xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vững mạnh toàn diện; quan tâm chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên, công an viên làm nòng cốt trong việc giữ gìn trật tự ở cơ sở.

b. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

Các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo đối với công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đồng thời tăng cường công tác quản lí nhà nước trên lĩnh vực kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh nhằm hạn chế thấp nhất những sơ hở, thiếu sót là nguyên nhân chính phát sinh khiếu nại, tố cáo.

3.4. Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị.

a. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với thực hiện nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cấp uỷ; giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan khối Đảng, đoàn thể, giảm bớt hội họp, bám sát cơ sở.

- Công tác tư tưởng.

- Nâng cao tính sắc bén, tính thuyết phục, tính chiến đấu của công tác tư tưởng. Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Tổ chức thực hiện sâu rộng, thiết thực và có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn thực hiện Cuộc vận động với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị và công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 - Công tác cán bộ.

Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có cơ cấu hợp lí, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh; thực hiện tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ đáp ứng nhu cầu của địa phương. Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí theo quy hoạch. Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức đảng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

- Xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên.

Tập trung chỉ đạo, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh; củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; gắn xây dựng, củng cố tổ chức đảng với chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp uỷ viên. Quan tâm xây dựng tổ chức đảng, phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn và trong các doanh nghiệp.

- Công tác kiểm tra, giám sát.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp; trọng tâm là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là trong thực hiện quy chế làm việc, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, như: quản lí đất đai, tài nguyên, tài chính, tài sản công, các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, công tác đền bù giải toả... Coi trọng công tác kiểm tra của tổ chức đảng ở cơ sở, công tác giám sát của các tổ chức đoàn thể và nhân dân.

b. Công tác dân vận, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng; hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy chế phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội. Tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội tham gia ngay từ đầu khi xây dựng chủ trương, chính sách có liên quan đến lợi ích và nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân; bảo đảm phát huy trách nhiệm và sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quần chúng của Đảng.

 - Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, hướng hoạt động về cơ sở, tăng cường các hoạt động hỗ trợ để nâng cao chất lượng cuộc sống, công tác và học tập của đoàn viên, hội viên. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám sát xã hội, làm nòng cốt trong tập họp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

c. Xây dựng chính quyền.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân; phát huy dân chủ, công khai trong thảo luận, chất vấn; thực hiện tốt hơn công tác tiếp xúc, giải quyết kiến nghị của cử tri, công tác giám sát, thẩm tra của hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện tốt công tác phối hợp tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.

- Tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp chỉ đạo, điều hành nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Thực hiện triệt để các quy định về phân công, phân cấp quản lí nhà nước giữa các cấp chính quyền đi đôi với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong các cơ quan hành chính nhà nước địa phương.

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ, công chức nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Xây dựng phong cách làm việc khoa học, năng động, hiệu quả.

- Đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; tăng cường sự tham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.

-  Kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lí nghiêm minh, kịp thời, công khai, dứt điểm các hành vi tham nhũng.

II. Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII. Từ kinh nghiệm của khóa trước, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX cần phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ 2011- 2015.

III. Thông qua các báo cáo tổng hợp ý kiến của tổ chức đảng các cấp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.

IV. Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX gồm 55 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng gồm 15 đồng chí đại biểu chính thức và 01 đồng chí đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các ban đảng Trung ương có liên quan để quyết định chuẩn y theo quy định.

V. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh phát huy truyền thống của Đảng bộ, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm thực hiện chủ đề của Đại hội là "Đoàn kết, đổi mới, trách nhiệm, kỉ cương, phát huy mọi nguồn lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững", góp phần xứng đáng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng trong thời kỳ mới.

 

T/M ĐOÀN CHỦ TỊCH

Huỳnh Phong Tranh