Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng 

TỈNH UỶ LÂM ĐỒNG                                  ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                  *                                                                           Đà Lạt, ngày 14 tháng 9  năm 2010

      Số 209 - BC/TU

      

ĐOÀN KẾT, ĐỔI MỚI, TRÁCH NHIỆM, KỈ CƯƠNG, PHÁT HUY MỌI

NGUỒN LỰC, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH,

ĐƯA LÂM ĐỒNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG

(Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng)

Phần thứ nhất

KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI LẦN THỨ VIII ĐẢNG BỘ TỈNH (2006- 2010)

 

 Năm năm qua, tình hình thế giới diễn biến khá phức tạp: bên cạnh xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, các hoạt động khủng bố, bạo loạn, li khai tiếp tục gia tăng; cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến sự phá sản của nhiều tập đoàn kinh tế lớn, làm đảo lộn chính sách kinh tế của một số nước... Ở trong nước, ngoài những mặt thuận lợi, cũng gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của tình hình thế giới, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế; những hạn chế, yếu kém trên lĩnh vực kinh tế- xã hội chậm khắc phục; sự chống phá của các thế lực thù địch; thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường... diễn ra trên diện rộng.

Đối với Lâm Đồng, bên cạnh những thuận lợi cơ bản về điều kiện tự nhiên và kế thừa những thành quả đạt được của những năm trước đây, còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, như: điểm xuất phát về kinh tế- xã hội thấp, xa các trung tâm kinh tế lớn, kết cấu hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp...

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tranh thủ thời cơ, khắc phục khó khăn, phấn đấu thực hiện đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh, một số lĩnh vực phát triển vượt bậc.

I. NHỮNG THÀNH TỰU.

1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu.

1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm đạt 14%[1]; trong đó: nông, lâm, thủy sản 9,8%, công nghiệp và xây dựng 20,6%, dịch vụ 19,4%.

2- Cơ cấu GDP: nông, lâm, thủy sản 49%, công nghiệp và xây dựng 20%, dịch vụ 31%[2].

3- GDP bình quân đầu người đạt 19 triệu đồng, gấp 2,8 lần so năm 2005[3].

4- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 11.285 tỉ đồng, riêng năm 2010 đạt 3.050 tỉ đồng; tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước so với GDP đạt 13,8%, trong đó thuế và phí đạt 8,07%[4].

5- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm là 20,2%; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 1.200 triệu USD[5].

6- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 32.328 tỉ đồng, tăng gấp 3,5 lần so với thời kỳ 2001- 2005[6].

7- Giải quyết việc làm mới hàng năm cho trên 24.000 lao động[7].

8- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2009[8].

9- Có 75% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh[9].

10- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 17,5%[10].

11- Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đã qua đào tạo[11] đạt 25%.

12- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,35%[12].

13- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 5%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 15%[13].

14- Phủ sóng phát thanh, truyền hình đến 100% số xã trong tỉnh.

15- Có 3 xã, 55% thôn, khu phố và 80% cơ quan đạt danh hiệu văn hóa[14]; 80% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa.

16- Giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

17- Năm 2009, có 66,4% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh[15].

18- Có 1.097 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 86,3% tổng số thôn, khu phố[16].

2. Lĩnh vực kinh tế.

2.1. Phát triển công nghiệp- xây dựng.

Giá trị sản xuất công nghiệp- xây dựng tăng bình quân hàng năm 19,2%; trong đó, công nghiệp tăng 17,5% (khai thác mỏ tăng 19,34%, chế biến tăng 13,65%, sản xuất phân phối điện, nước tăng 26,75%). Đã tập trung đầu tư nhiều dự án lớn, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển công nghiệp vào những năm sắp tới, như: xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp Lộc Sơn, Phú Hội; quy hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 14 cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố; hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai các dự án thủy điện Đại Ninh, Đồng Nai 3, 4, Đạ M'ri, các dự án thủy điện vừa và nhỏ, khai thác và chế biến quặng bauxite, sản xuất phân bón, chế biến chè, cà phê…

2.2. Phát triển các ngành dịch vụ.

- Đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, quy hoạch các khu, điểm du lịch; tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến và tổ chức các tour, tuyến, kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng các khu du lịch, khu vui chơi giải trí, các loại hình du lịch có lợi thế, mở rộng cơ sở lưu trú, nâng cao chất lượng phục vụ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách. Bình quân hàng năm số lượt khách du lịch tăng 15- 16%, năm 2010 đạt 3 triệu lượt; số ngày lưu trú bình quân tăng từ 2,1 ngày năm 2005 lên 2,5 ngày năm 2010.

- Khai thác các nguồn lực đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại ở một số huyện, thành phố; khuyến khích phát triển chợ nông thôn ở vùng sâu, vùng xa, mở rộng giao lưu hàng hóa giữa các vùng trong tỉnh, đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ giai đoạn 2006- 2010 tăng bình quân hàng năm 27,1%.

- Các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm, tư vấn… tiếp tục được mở rộng cả về quy mô và chất lượng hoạt động, cơ bản đáp ứng nhu cầu của xã hội.

2.3. Tài chính ngân sách và hoạt động tín dụng ngân hàng.

- Tình hình tài chính ngân sách: Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2006- 2010 đạt 11.285 tỉ đồng, trong đó thu từ thuế, phí khoảng 6.579 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng 58,3%. Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước so với GDP là 13,8%, trong đó thuế, phí là 8,07%.

Tổng chi ngân sách địa phương giai đoạn 2006- 2010 đạt 18.104 tỉ đồng, đáp ứng được các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, kịp thời giải quyết các khoản chi đột xuất.

Trong công tác quản lí điều hành ngân sách đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; từng bước thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lí tài chính, ngân sách gắn với công tác cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực thu thuế, phí và cấp phát vốn; đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

- Hoạt động của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng đạt nhiều kết quả quan trọng, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, huy động và cung cấp nguồn vốn cho các tổ chức và cá nhân, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 15 chi nhánh ngân hàng thương mại, tăng 9 chi nhánh so với đầu năm 2006. Đến cuối năm 2010, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 10.600 tỉ đồng, tăng 7.872 tỉ; tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt 17.000 tỉ đồng, tăng 11.920 tỉ so với đầu năm 2006, bình quân hàng năm dư nợ tăng 30%. Tổng nợ xấu chiếm 3% trong tổng dư nợ chung, giảm 60% so đầu năm 2006.

2.4. Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn.

Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 9,8%. Giá trị nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

- Do được tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng và triển khai có hiệu quả chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa giống mới vào sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học- công nghệ, xây dựng và chuyển giao cho nông dân nhiều mô hình tiến bộ trong sản xuất rau, hoa, chè, cà phê, lúa, nuôi cá nước lạnh… nên nông nghiệp đã tiếp tục phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao, một số lĩnh vực có bước phát triển vượt bậc; giá trị thu hoạch bình quân trên 1 ha đất canh tác năm 2010 đạt 76 triệu đồng, tăng gấp 2,9 lần so với năm 2005.

Đã điều chỉnh quy hoạch phân loại 3 loại rừng, tăng cường quản lí, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, giảm thiểu khối lượng khai thác. Sắp xếp, tổ chức lại và từng bước chuyển hoạt động theo mô hình lâm nghiệp xã hội. Trong 5 năm đã trồng trên 11.360 ha rừng, hàng năm giao khoán quản lí, bảo vệ khoảng 325.000 ha, duy trì độ che phủ rừng 61%[17]. Thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 380 của Thủ tướng Chính phủ, bước đầu cải thiện được đời sống người dân nhận khoán quản lí, bảo vệ rừng.

- Kinh tế- xã hội vùng nông thôn tiếp tục phát triển; tỉnh đã triển khai thực hiện lồng ghép các chương trình, huy động tổng hợp các nguồn lực xây dựng, phát triển toàn diện vùng nông thôn, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện để ổn định và phát triển sản xuất theo hướng tập trung, chuyên canh, ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ để nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất; gắn xây dựng các vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến, phát triển các ngành dịch vụ, tiểu- thủ công nghiệp, tổ chức tiêu thụ nông sản và bảo vệ môi trường. Chú trọng việc chỉ đạo rà soát, xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông thôn; đặc biệt quy hoạch và bố trí lại dân cư, ưu tiên bố trí, ổn định dân cư ở vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai, vùng rừng xung yếu và rất xung yếu, vùng bảo vệ nghiêm ngặt của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và dân nhập cư ngoài kế hoạch; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận được các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa.

2.5. Đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong 5 năm, ngân sách nhà nước đầu tư vào các dự án, chương trình mục tiêu là 2.309 tỉ đồng để thực hiện chủ trương đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án đầu tư đã góp phần phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, diện mạo nông thôn vùng dân tộc thiểu số đã có nhiều chuyển biến tiến bộ. Hầu hết các xã vùng sâu, vùng xa đều được dùng nước hợp vệ sinh, điện lưới quốc gia và có đường bê tông nhựa đến trung tâm xã; hệ thống trường học, trạm y tế từng bước được kiên cố hoá và chuẩn hoá, số hộ nghèo giảm chỉ còn dưới 15%. Hệ thống chính trị được củng cố; quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững.

2.6. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.

Để thực hiện mục tiêu "đột phá, tăng tốc", Tỉnh ủy đã xác định 9 chương trình trọng tâm[18], 11 công trình trọng điểm[19] để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy nhiều nguồn lực cùng tham gia đầu tư; phối hợp với các bộ, ngành Trung ương trong xây dựng các công trình có nguồn vốn từ ngân sách Trung ương. Đến nay, đã đưa vào sử dụng một số công trình quan trọng như: nâng cấp, mở rộng sân bay Liên Khương, đường cao tốc Liên Khương- chân đèo Prenn, đường tỉnh 723; thực hiện cơ bản đúng tiến độ các dự án thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, khai thác và chế biến quặng bauxite, xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp Lộc Sơn, Phú Hội. Chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chương trình phát triển cơ sở hạ tầng gắn với thủy điện vừa và nhỏ, chương trình giảm nghèo gắn với giải quyết những vấn đề bức xúc trong vùng đồng bào dân tộc đạt nhiều kết quả, từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh hơn trong những năm sau.

- Mạng lưới giao thông phát triển khá đồng bộ, trong 5 năm đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp trên 826 km đường quốc lộ, tỉnh lộ (trong đó có 19,2 km đường cao tốc); huy động trên 677 tỉ đồng từ nhiều nguồn để xây dựng mới và nâng cấp, sửa chữa trên 1.350 km đường giao thông do địa phương quản lý.

- Hệ thống thuỷ lợi được duy trì và mở rộng; trong nhiệm kỳ, đã đầu tư củng cố, nâng cấp, xây dựng mới nhiều dự án thuỷ lợi như Dak K’long Thượng, Ka La, kiên cố hóa kênh mương thủy lợi Đạ Tẻh, Đạ Đờn, Tuyền Lâm... Đến nay, các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh có khả năng tưới 115.000 ha, bằng 52% đất nông nghiệp cần tưới.

- Cơ sở giáo dục, đào tạo, nhà ở giáo viên được đầu tư xây dựng, nâng cấp và từng bước kiên cố hoá; đến nay, toàn tỉnh có 633 trường học các cấp, tăng 31 trường so với năm 2005. Trong 5 năm, đã đầu tư xây dựng mới trên 2.000 phòng học, hàng trăm phòng ở cho giáo viên, đảm bảo việc học tập của học sinh và nhà ở cho giáo viên ở những vùng sâu, vùng xa.

- Mạng lưới y tế được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các bệnh viện đa khoa tỉnh, các trung tâm y tế huyện, thành phố, phòng khám khu vực; chú trọng đầu tư xây dựng, phát triển mạng lưới y tế cơ sở. Đến nay, toàn tỉnh có 190 cơ sở y tế với 2.940 giường bệnh, phục vụ kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, khám và điều trị bệnh của nhân dân.

- Thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đầu tư phát triển; đến nay, hầu hết các huyện, thành phố có nhà văn hoá, trung tâm văn hoá, thể thao; phần lớn xã, phường, thị trấn có trạm truyền thanh (140/148 xã), sân thi đấu thể thao, bưu điện văn hoá; nhiều thôn, khu phố có nhà sinh hoạt cộng đồng...

2.7. Phát triển kinh tế nhiều thành phần.

- Cơ bản đã hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; tiếp tục xây dựng, củng cố các loại hình kinh tế tập thể, trọng tâm, nòng cốt là các hợp tác xã; khuyến khích mạnh việc phát triển kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác ở hầu hết các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật; hỗ trợ các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đến nay, toàn tỉnh còn 12 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; 35 doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần, trong đó 13 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước; 100 hợp tác xã, 2.953 tổ hợp tác; 3.150 doanh nghiệp tư nhân và trên 25.500 hộ cá thể đăng ký kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ cá thể đã chấp hành tương đối tốt các quy định của pháp luật, triển khai sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đăng ký, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.

- Từ năm 2006 đến cuối năm 2009, có 310 dự án trong nước được thỏa thuận đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư, vốn đăng ký 39.487 tỉ đồng, với 39.497 ha đất; vốn thực hiện khoảng 4.000 tỉ đồng, bằng 10,1% vốn đăng ký; cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 79 dự án nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 457,5 triệu USD, vốn thực hiện 97,5 triệu USD, bằng 21,3% vốn đăng ký.

3. Lĩnh vực văn hóa- xã hội.

Thực hiện khá tốt chủ trương xã hội hoá lĩnh vực văn hoá- xã hội, huy động được nhiều nguồn lực đầu tư, nhất là vào lĩnh vực giảm nghèo, giáo dục- đào tạo và y tế; từng bước xây dựng, hình thành nếp sống văn hoá, văn minh, đảm bảo công bằng xã hội trong đời sống của nhân dân.

-  Đã tập trung các nguồn vốn thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo, như xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, xóa nhà tạm, hỗ trợ vốn và cho vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, miễn giảm và hỗ trợ học phí, cấp thẻ khám chữa bệnh cho đối tượng nghèo; giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, tỉnh đã phê duyệt đề án giảm nghèo nhanh và bền vững cho huyện Đam Rông đến năm 2020 và vận dụng Nghị quyết 30a, phê duyệt đề án cho 16 xã và 94 thôn, buôn nghèo, tạo điều kiện giảm nghèo bền vững trong những năm sau.

Sự nghiệp giáo dục- đào tạo phát triển nhanh theo hướng đa dạng hoá về loại hình, phương thức đào tạo. Hệ thống trường lớp phát triển rộng khắp, bố trí tương đối hợp lí theo địa bàn dân cư, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; năm học 2008- 2009, có 85/633 trường đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục- đào tạo có chuyển biến tích cực, toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Quy mô, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngày càng phát triển, nhất là đào tạo nghề, đào tạo cán bộ cơ sở.

- Việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất và đời sống được chú trọng; trong 5 năm, có 98 đề tài khoa học đã và đang được ứng dụng vào sản xuất và đời sống, nhất là các đề tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hoạt động bảo vệ môi trường được quan tâm, đã hạn chế tình trạng ô nhiễm tại các đô thị, khu công nghiệp tập trung.

-  Lĩnh vực y tế, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có chuyển biến tích cực. Mạng lưới y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ được tăng cường; thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, chủ động phòng chống, không để dịch bệnh xảy ra trên diện rộng; tăng cường truyền thông và tổ chức phòng chống có hiệu quả dịch bệnh Sars và dịch cúm A H5N1, H1N1. Việc chăm sóc, bảo vệ bà mẹ, trẻ em và công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình được thực hiện khá tốt; tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,73% năm 2005 xuống 1,35% năm 2010.

- Lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, báo chí, phát thanh, truyền hình có nhiều tiến bộ; hệ thống thông tin liên lạc được đầu tư đến thôn, buôn. Sóng phát thanh, truyền hình phủ kín hầu hết các địa bàn trong tỉnh; duy trì ổn định thời lượng phát sóng truyền hình và phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số. Phong trào thể dục, thể thao, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng phát huy tác dụng thiết thực.

- Đã chú trọng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi, hỗ trợ các đối tượng xã hội; quan tâm thực hiện đúng, đầy đủ chính sách đối với người và gia đình có công với nước.

4. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

4.1. Về quốc phòng, an ninh.

Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; duy trì và đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động phát hiện, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; triển khai nghiêm túc Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, kịp thời giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; thực hiện khá tốt chủ trương kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, lấy sự ổn định an ninh chính trị làm cơ sở cho phát triển kinh tế- xã hội. Chỉ đạo xây dựng lực lượng cốt cán trong vùng dân tộc, tôn giáo; quan tâm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, tỉ lệ dân quân tự vệ đạt 1,49% so với dân số.

4.2. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

Các cấp ủy đảng, các sở, ban, ngành đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường phối hợp các cơ quan bảo vệ pháp luật với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ cấp cơ sở đến huyện, tỉnh tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo; bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ bản đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật; hàng năm giải quyết được trên 80% số lượng đơn thư. Tình hình khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp đã giảm; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cơ bản được bảo vệ.

5. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

5.1. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

a. Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

Thực hiện các nghị quyết của Trung ương về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên... Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành chương trình hành động để chỉ đạo việc đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các tổ chức đảng; đổi mới cách ra nghị quyết, chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết; chú trọng xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của cấp ủy nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, phát huy tốt hơn vai trò giám sát của hội đồng nhân dân, sự chủ động trong quản lí, điều hành của ủy ban nhân dân và vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội, nhờ đó đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách của tỉnh; phát huy dân chủ, sự năng động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân trong nghiên cứu vận dụng các chủ trương của Đảng, xác định các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm để lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung các nguồn lực đầu tư tăng tốc phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Nghiên cứu, xác định những định hướng lớn phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 phục vụ xây dựng các văn kiện trình Đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh.

b. Công tác tư tưởng.

   - Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; gắn công tác tư tưởng với thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết những vấn đề quan trọng, nhạy cảm, phức tạp, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền các cấp.

Việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết được đổi mới, gắn học tập với thảo luận, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động và tuyên truyền, cung cấp thông tin đến các tầng lớp nhân dân; góp phần củng cố niềm tin, nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, sự đồng bộ trong lãnh đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị.

 - Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai đồng bộ, sâu rộng, tạo sự chuyển biến đáng kể trong việc rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên, nâng cao trách nhiệm xã hội của công dân. Các tổ chức, đơn vị đã gắn thực hiện Cuộc vận động với chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết có hiệu quả những khó khăn, bức xúc của nhân dân, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng. Tại các khu dân cư, cơ quan, doanh nghiệp đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

c. Công tác cán bộ.

Nhận thức của các cấp uỷ, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về quan điểm, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ và vị trí, vai trò của công tác cán bộ được nâng cao. Công tác quy hoạch, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ lãnh đạo các cấp cơ bản đúng quy trình, bảo đảm dân chủ, công khai, phát huy được trí tuệ của tập thể.

Đội ngũ cán bộ, công chức được tăng cường cả về số lượng, chất lượng; từng bước trẻ hoá, chuẩn hoá, khắc phục dần tình trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo. Đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã được bố trí, sắp xếp lại theo quy định của Trung ương và từng bước được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt theo tiêu chuẩn.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có nhiều chuyển biến tích cực. Các cấp uỷ đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nắm chắc tình hình và kịp thời giải quyết vấn đề chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, phục vụ cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ và kết nạp đảng viên mới.

d. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc chọn điểm chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện của các ngành, các cấp, kịp thời uốn nắn những sai sót, khuyết điểm.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng đã nâng lên rõ rệt, thể hiện được vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện trong từng cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị. Các cấp uỷ, tổ chức đảng đã lựa chọn các vấn đề trọng tâm, lĩnh vực và địa bàn trọng điểm để tập trung lãnh đạo, tạo được sự chuyển biến có tính đột phá trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt, phát huy dân chủ trong Đảng, xây dựng và điều hành hoạt động theo quy chế làm việc, từ đó đã phát huy vai trò của từng thành viên trong cấp uỷ, xây dựng được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong hệ thống chính trị. Kết quả đánh giá tổ chức cơ sở đảng và đảng viên các năm qua cơ bản phản ảnh đúng thực chất.

Năm 2009, có 66,4% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và 25,8% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 14,2% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và 73,9% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác phát triển đảng viên được triển khai trong tất cả các loại hình cơ sở và đã chú trọng về chất lượng, quan tâm đến lực lượng thanh niên, công nhân, trí thức và ở những địa bàn nông thôn, nhất là ở các thôn, buôn chưa có đảng viên và tổ chức đảng; trong nhiệm kỳ, bình quân hàng năm kết nạp được 1.718 đảng viên[20]. Đến nay, có 1.097 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 86,3% tổng số thôn, khu phố; đã thu hẹp được 191 thôn, khu phố chưa có tổ chức đảng và 31 thôn, khu phố chưa có đảng viên (chỉ còn 4 thôn chưa có đảng viên).

đ. Công tác kiểm tra, giám sát.

Các cấp uỷ đảng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỉ luật đảng; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch và triển khai thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; tập trung kiểm tra các cơ quan, đơn vị và lĩnh vực, công việc dễ nảy sinh tiêu cực; giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên, cấp uỷ viên, những điều cán bộ, đảng viên và công chức không được làm. Giám sát tổ chức đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc xem xét thi hành kỉ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên đã thực hiện cơ bản đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, trình tự thủ tục và thẩm quyền; có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí, làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Quan tâm củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra; kịp thời xây dựng các quy chế, quy định, từng bước đưa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đi vào nề nếp.

Trong nhiệm kỳ, các cấp ủy đã kiểm tra 1.797 lượt tổ chức đảng và 7.949 lượt đảng viên, kết luận 118 tổ chức, 241 đảng viên có khuyết điểm, vi phạm. Uỷ ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra 3.925 lượt tổ chức đảng và 47.456 lượt đảng viên, phát hiện 356 tổ chức đảng, 1.232 đảng viên có vi phạm. Tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 108 tổ chức đảng, 604 đảng viên. Đã xử lí kỉ luật 21 tổ chức đảng và 1.044 đảng viên (trong đó có 20 tổ chức đảng, 604 đảng viên xử lí sau kiểm tra dấu hiệu vi phạm). Cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp giám sát 335 tổ chức đảng, 701 đảng viên; phát hiện có 11 tổ chức đảng và 10 đảng viên có dấu hiệu vi phạm.

5.2. Công tác dân vận, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

Công tác quần chúng của Đảng có chuyển biến tiến bộ cả về nội dung, phương thức và lực lượng tham gia; đã từng bước khắc phục tình trạng hành chính hoá trong tổ chức, hoạt động. Các tổ chức trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã xây dựng quy chế phối hợp công tác; phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị, tập trung tuyên truyền, vận động đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chú trọng hơn trong chỉ đạo, xây dựng, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế và Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và chính quyền các cấp. Vai trò và chất lượng hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp đã được nâng lên đáng kể, góp phần quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

5.3. Xây dựng chính quyền.

- Hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều đổi mới, cơ bản thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Chất lượng các kỳ họp được nâng lên, duy trì thường xuyên việc chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp; công tác giám sát của hội đồng nhân dân được tăng cường; duy trì tốt việc tiếp xúc cử tri với sự tham gia đông đảo của cử tri trong tỉnh.

Tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của uỷ ban nhân dân từ tỉnh đến cơ sở được sắp xếp, kiện toàn theo chỉ đạo của Trung ương; nội dung và phương thức hoạt động đã từng bước đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lí, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của địa phương. Đã xây dựng và thực hiện quy định về phân cấp quản lí nhà nước, tăng cường phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới; xây dựng quy chế làm việc và chương trình, kế hoạch công tác cụ thể. Trong quản lí, điều hành đã chú trọng xây dựng quy hoạch, nghiên cứu định hướng chiến lược phát triển vùng và những ngành, lĩnh vực trọng tâm, địa bàn trọng điểm.

Uỷ ban nhân dân các cấp đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, tiến hành rà soát và giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông"; thực hiện công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, phổ biến rộng rãi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo sự thống nhất về nhận thức giữa các cấp, các ngành và đồng thuận xã hội trong việc tổ chức thực hiện.

-  Các cơ quan tư pháp ở địa phương đã tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức, tăng cường cán bộ, cơ sở vật chất kĩ thuật, tăng thẩm quyền xét xử cho toà án nhân dân cấp huyện theo lộ trình cải cách tư pháp. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có chuyển biến tiến bộ.

- Các cấp uỷ đảng đã quán triệt, xây dựng chương trình hành động và chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí và Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị gắn với cải cách thủ tục hành chính; công khai sử dụng ngân sách, tài sản công, kinh phí chi tiêu nội bộ, công tác tổ chức cán bộ.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM.

1. Lĩnh vực kinh tế.

Tuy đã thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, song Lâm Đồng vẫn còn là tỉnh nghèo, quy mô kinh tế nhỏ, thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiềm năng và lợi thế của tỉnh chưa được phát huy đúng mức, nhất là các lợi thế về cây công nghiệp, khoáng sản và du lịch; khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp, sản phẩm thấp. Công tác quy hoạch, quản lí quy hoạch còn bất cập, vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ không ổn định; hiệu quả sử dụng đất chưa cao, diện tích rừng, đất rừng tiếp tục bị lấn chiếm, tàn phá, môi trường, môi sinh chưa được quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, hạ tầng kĩ thuật yếu kém và thiếu đồng bộ, đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Kinh tế tập thể phát triển chậm và hoạt động kém hiệu quả. Kinh tế tư nhân phát triển nhanh về số lượng, nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp. Hoạt động hợp tác kinh tế, liên doanh, liên kết sản xuất với các địa phương trong cả nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết giữa “4 nhà” chưa được quan tâm đúng mức. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số chương trình trọng tâm chưa quyết liệt, hiệu quả chưa cao; số dự án đăng ký đầu tư nhiều nhưng triển khai chậm, công tác đền bù giải phóng mặt bằng khó khăn.

2. Lĩnh vực văn hóa- xã hội.

Thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực văn hóa- xã hội chưa đều, chỉ tập trung ở một số đô thị lớn, một số ngành có lợi thế. Cơ cấu, quy mô đào tạo nghề, chất lượng giáo dục, lao động qua đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu xã hội; công tác chăm sóc y tế và các hoạt động văn hoá còn hạn chế; đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng giãn ra[21], nguy cơ tái nghèo và tỉ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Quản lí nhà nước trên lĩnh vực văn hóa chưa chặt chẽ, để một số tác phẩm có nội dung độc hại, thiếu lành mạnh xâm nhập vào các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với lớp trẻ. Tình trạng xem thường kỉ cương, pháp luật, chống người thi hành công vụ, bạo lực trong quan hệ ứng xử đang tồn tại trong một bộ phận dân cư, kể cả trong trường học vẫn chưa được ngăn chặn có hiệu quả.

3. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

3.1. Về quốc phòng, an ninh.

Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch chưa sâu sắc; một số chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác. An ninh chính trị còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định; thực lực chính trị ở nhiều cơ sở còn yếu, chưa đủ khả năng giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh. Tội phạm hình sự, các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp.

3.2. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

Một số ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm Luật Khiếu nại, tố cáo; việc phân loại, xử lí đơn thư và quản lí hồ sơ chưa chặt chẽ, chế độ thông tin báo cáo chưa kịp thời; giải quyết đơn khiếu nại trên lĩnh vực đền bù, giải phóng mặt bằng chậm, có trường hợp thiếu chính xác; xác định thẩm quyền giải quyết một số nơi chưa đúng, có biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm; việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật có trường hợp chậm, chưa đúng trình tự thủ tục… gây bức xúc trong nhân dân.

4. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

4.1. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

- Công tác tư tưởng chưa theo kịp với diễn biến tình hình; thiếu nhạy bén trong thông tin, định hướng dư luận xã hội; chưa trực diện đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Việc giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong nhân dân chưa thường xuyên, chất lượng và hiệu quả chưa cao. Tệ tham nhũng, lãng phí, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả.

Kết quả thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở một số địa phương, đơn vị còn yếu, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong “làm theo” của cán bộ, đảng viên, chậm xây dựng và nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến.

- Chất lượng sinh hoạt, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn thấp, chưa thực hiện tốt vai trò hạt nhân chính trị; một số nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, buông lỏng vai trò lãnh đạo, bao biện, can thiệp sâu vào công tác quản lí, điều hành của chính quyền. Năng lực, trách nhiệm cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn thấp. Công tác xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên ở xã, phường, thị trấn, trong các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn.

4.2. Công tác dân vận, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

Nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền về công tác dân vận còn hạn chế; một vài nơi xem công tác quần chúng là công việc của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội nên thiếu quan tâm chỉ đạo thực hiện. Sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể với chính quyền các cấp trong chỉ đạo, giải quyết những vấn đề phát sinh ở địa phương chưa chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả. Số lượng đoàn viên, hội viên của các đoàn thể đông nhưng chưa mạnh; một số tổ chức ở cơ sở gặp nhiều khó khăn trong tập hợp lực lượng, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư...

Nội dung, phương thức vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chậm đổi mới; xu hướng hành chính hoá trong tổ chức đoàn thể chậm khắc phục. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nhiều nơi còn hình thức.

4.3. Xây dựng chính quyền.

- Tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền một số địa phương còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ. Công tác giám sát, thẩm định của hội đồng nhân dân chưa toàn diện; chất lượng chất vấn và tiếp xúc cử tri trước, sau các kỳ họp ở nhiều địa phương chưa cao.

Công tác quản lí, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của ủy ban nhân dân các cấp còn một số mặt hạn chế; hiệu lực, hiệu quả chưa cao; một số nơi chưa chấp hành nghiêm kỉ luật, kỉ cương trong quản lí nhà nước, nhất là quản lí quy hoạch, xây dựng, quản lí đô thị, đất đai và tài nguyên khoáng sản.

Cải cách hành chính chậm, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất là giải quyết các yêu cầu của nhân dân, các doanh nghiệp chưa hiệu quả. Tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của một bộ phận công chức, viên chức còn thấp.

- Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án chưa đáp ứng yêu cầu. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan tư pháp chưa thật chặt chẽ, tình trạng án bị hủy, cải sửa và chậm giải quyết còn chiếm tỉ lệ cao. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp có mặt còn hạn chế; tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa cao.

- Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa đầy đủ và sâu sắc; chưa thể hiện tính tự giác cao trong tổ chức thực hiện nên kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, nhất là trong lĩnh vực quản lí đất đai, xây dựng cơ bản, đền bù giải phóng mặt bằng, mua sắm, sử dụng tài sản công...

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu quan trọng, thực hiện được mục tiêu đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, quy mô và chất lượng nền kinh tế được nâng lên đáng kể, một số ngành và lĩnh vực phát triển vượt bậc; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được chú trọng đầu tư, tạo điều kiện cho sự bứt phá về phát triển kinh tế- xã hội những năm qua, đồng thời là cơ sở quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong những năm sau.

Lĩnh vực văn hoá- xã hội có nhiều tiến bộ: An sinh xã hội được đảm bảo, hộ nghèo giảm nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất và đời sống, nếp sống văn hoá, văn minh... có những bước phát triển quan trọng.

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, cơ bản thể hiện được vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở; Cuộc vận động”Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bước đầu thu được kết quả quan trọng. Hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước được tăng cường; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được khẳng định. Đoàn kết trong Đảng và đồng thuận trong xã hội ngày càng được tăng cường, củng cố.

Tuy vậy, Lâm Đồng vẫn là tỉnh nghèo, tiềm năng, lợi thế chưa được phát huy đúng mức, khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh của tỉnh thấp; chất lượng, hiệu quả, tính bền vững của nền kinh tế còn hạn chế; công nghiệp, dịch vụ chậm phát triển và chiếm tỉ trọng thấp, quy hoạch, quản lí quy hoạch chưa theo kịp yêu cầu phát triển; kết cấu hạ tầng yếu và thiếu đồng bộ. Tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đầu tư chậm, chưa quyết liệt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành liên quan chưa tốt, đặc biệt là trong đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc như lao động, việc làm, nạn phá rừng, ô nhiễm môi trường... chưa được giải quyết kịp thời; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và các hoạt động văn hoá có mặt còn yếu; đời sống của một bộ phận nhân dân, đặc biệt là nông dân, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. An ninh chính trị còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định. Chất lượng lãnh đạo, hoạt động của hệ thống chính trị một số địa phương chưa đồng bộ; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn hạn chế.

IV. NGUYÊN NHÂN.

1. Nguyên nhân thành tựu.

Việc thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng đã tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh thu hút đầu tư, tiếp thu công nghệ, kĩ thuật, giống mới, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; được các bộ, ngành Trung ương quan tâm giúp đỡ giải quyết khó khăn, hỗ trợ đầu tư thông qua các dự án, chương trình mục tiêu; song chủ yếu, do các nguyên nhân sau:

1- Sự vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương phù hợp với thực tiễn của địa phương; phát huy được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển.

2- Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, phát huy dân chủ, củng cố và tăng cường sự đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội, sự đồng bộ trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng.

3- Tập trung chỉ đạo, xây dựng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; nhiều cán bộ đã mạnh dạn đổi mới tư duy và phong cách lãnh đạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

2. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém.

Những hạn chế, yếu kém trong nhiệm kỳ qua có nguyên nhân khách quan do điểm xuất phát về kinh tế- xã hội của tỉnh thấp, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, xa các trung tâm kinh tế lớn; đặc biệt, trong những năm gần đây, kinh tế địa phương chịu sự tác động bởi tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế; thiên tai, dịch bệnh; hoạt động chống phá chính quyền và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch diễn biến phức tạp… Nhưng chủ yếu, do các nguyên nhân chủ quan sau:

1- Năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, hiệu quả hoạt động của chính quyền ở một số nơi còn hạn chế; một số địa phương, đơn vị và cán bộ lãnh đạo vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, chưa có quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện. Ý thức chấp hành kỉ luật, kỉ cương, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên chưa cao.

2- Công tác vận động quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội trên một số lĩnh vực còn lúng túng, hiệu quả vận động đoàn viên, hội viên chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa cao.

3- Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới; một số cán bộ lãnh đạo chưa thực sự chăm lo công tác xây dựng Đảng, củng cố tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm:

1- Phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị.

2- Tập trung xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực quản lí của chính quyền, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

3- Xác định rõ tiềm năng, thế mạnh; lựa chọn đúng nội dung đột phá, các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm và chỉ đạo quyết liệt trong tổ chức thực hiện. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót.

4- Bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, phải coi trọng phát huy nội lực, đặc biệt là về vốn, công nghệ, lao động, năng lực tổ chức thực hiện, làm tiền đề để thu hút và tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư. Ưu tiên đầu tư phát triển và thu hút đầu tư vào những ngành và lĩnh vực có lợi thế so sánh của địa phương.

5- Lãnh đạo phát triển kinh tế phải được tiến hành đồng bộ với giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính và xây dựng hệ thống chính trị; quan tâm đầu tư xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

 

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU,

NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP 5 NĂM 2011- 2015

I. THỜI CƠ, THÁCH THỨC.

1. Thời cơ.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh trong bối cảnh thế giới đang có xu thế hòa bình, hợp tác là chủ yếu; toàn cầu hóa kinh tế tạo điều kiện cho từng quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển nền kinh tế tri thức, tiếp cận khoa học- công nghệ hiện đại. Ở trong nước, tình hình chính trị ổn định, vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng lên; việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cùng với những thành tựu trong thời gian qua tạo điều kiện để cả nước đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Lâm Đồng có vị trí thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế- xã hội với các tỉnh thuộc khu vực trọng điểm phía Nam, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Có nhiều danh lam thắng cảnh với thương hiệu nổi tiếng; có thành phố Đà Lạt với khí hậu mát mẻ quanh năm, là đô thị du lịch lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế... Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đa dạng, một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để khai thác ở quy mô công nghiệp. Hệ thống sông, suối, hồ, đập… có tiềm năng lớn để phát triển các dự án thủy điện. Nguồn nguyên liệu nông, lâm sản phong phú về chủng loại, có thể tổ chức sản xuất thành những vùng chuyên canh tập trung với quy mô lớn phục vụ cho công nghiệp chế biến như trà, cà phê, rau. Nhiều công trình hạ tầng đã và đang xây dựng, từng bước hoàn thiện, đặc biệt là hệ thống giao thông, các khu du lịch, khu công nghiệp... Có các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, các trung tâm nghiên cứu khoa học của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững; hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng vững mạnh... Có thể khẳng định, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển mới, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững hơn trong những năm tới.

2. Thách thức.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phải chấp nhận cạnh tranh ngày càng gay gắt; xung đột cục bộ về sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ và những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, như: đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khủng bố... diễn biến phức tạp. Ở trong nước, cũng gặp khó khăn, thách thức do những hạn chế, yếu kém nội tại chậm được khắc phục, trong lúc các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, tập hợp lực lượng, tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Ở trong tỉnh, bên cạnh những khó khăn chung của đất nước, còn phải đối mặt với nhiều khó khăn của một tỉnh vùng Tây Nguyên, đó là xa các trung tâm kinh tế lớn, điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, khả năng cạnh tranh yếu, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, tỉ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị lớn; các vấn đề về khiếu nại, tố cáo, cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch là nguyên nhân có khả năng gây mất ổn định chính trị.

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải quyết tâm và nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh, đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững.

II. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU.

1. Phương hướng, mục tiêu tổng quát 5 năm 2011- 2015.

Phát huy dân chủ, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, trong hệ thống chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ; đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành kỉ cương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát huy mọi nguồn lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; đảm bảo quốc phòng, an ninh; đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững.

2. Mục tiêu cụ thể.

1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (giá 1994) bình quân hàng năm đạt 15- 16%; trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 7,8- 8,3%, công nghiệp và xây dựng tăng 22,5- 24,1%, dịch vụ tăng 19- 20%.

2- Cơ cấu kinh tế năm 2015: nông- lâm- thủy sản 36,8- 37%, công nghiệp và xây dựng 26,8- 28%, dịch vụ 35,2- 35,8%.

3- GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 44,5- 46,2 triệu đồng (khoảng 2.200- 2300 USD), gấp hơn 2 lần so với năm 2010.

4- Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 2.860 triệu USD.

5- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt 84.000- 85.000 tỉ đồng, tăng bình quân 18- 18,6%/năm.

6- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 29.800- 30.500 tỉ đồng. Tỉ lệ thu ngân sách so với GDP đạt từ 13,8 % đến 14,3%; trong đó thuế, phí 19.200- 19.700 tỉ đồng, tỉ lệ huy động đạt từ 8,7% đến 9,3% so với GDP.

7- Giải quyết việc làm mới hàng năm 28.000- 30.000 lao động.

8- Có 90% dân số đô thị được sử dụng nước sạch; 85% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh.

9- Có 70% học sinh trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông và tương đương.

10- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 15%.

11- Có 35- 40% lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo.

12- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,3%; quy mô dân số 1,3 triệu người.

13- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 2%; trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 8%.

14- Có ít nhất 30% số xã cơ bản đạt các tiêu chí về nông thôn mới.

15- Có ít nhất 30% xã, phường, thị trấn; 75% thôn, tổ dân phố và 95% cơ quan đạt danh hiệu văn hóa; 85% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa.

16- Duy trì tỉ lệ che phủ rừng 61%.

17- Giữ vững quốc phòng, an ninh.

18- Hàng năm, có ít nhất 68% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh và có 27% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 15% đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và 75% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ.

19- Mỗi năm, kết nạp từ 1.750 đảng viên trở lên.

20- Có ít nhất 95% thôn, khu phố, 90% đơn vị sự nghiệp có tổ chức đảng; 100% thôn và trường học có đảng viên.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP.

1. Lĩnh vực kinh tế.

1.1. Quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Coi trọng công tác quy hoạch và quản lí quy hoạch: thuê tổ chức tư vấn quốc tế có uy tín, kinh nghiệm xây dựng một số đồ án quy hoạch mà địa phương chưa có khả năng thực hiện. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội, quy hoạch vùng, ngành… Tăng cường quản lí quy hoạch, nâng cao trách nhiệm, ý thức chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện quy hoạch.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh của các lĩnh vực, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa; chú trọng đúng mức sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực có lợi thế, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

1.2. Xác định các khâu đột phá; các công trình, địa bàn trọng điểm.

a. Xác định 5 khâu đột phá.

Để có cơ sở thu hút các nguồn lực đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo bước đột phá phát triển kinh tế- xã hội vào những năm sau, trong nhiệm kỳ này, cần tập trung vào 5 khâu đột phá:

- Phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế- xã hội, trọng tâm là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng đô thị.

- Phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm phát huy lợi thế các loại sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đồng thời từng bước sắp xếp lại sản xuất nông nghiệp, tạo sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp và dịch vụ.

- Phát triển dịch vụ du lịch chất lượng cao, sớm hình thành một số khu du lịch lớn, đa dạng hóa các loại hình đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ.

- Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế của địa phương trong những năm đến.

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và công nghiệp khai thác khoáng sản.

b. Xác định 16 công trình trọng điểm:

Các khu công nghiệp: Lộc Sơn, Tân Phú, Phú Hội.

Dự án thuỷ điện Đồng Nai 5.

Các dự án thuỷ lợi: Đạ Sị, Đạ Lây.

Các khu du lịch: hồ Tuyền Lâm, hồ Đại Ninh, Đan Kia- Đà Lạt.

Đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương.

Các đường liên tỉnh: 721, 725.

Các đường vành đai: thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc.

Quảng trường thành phố Đà Lạt.

Trung tâm Văn hóa thể thao Lâm Đồng.

c. Tiếp tục xác định 4 địa bàn trọng điểm của tỉnh là: thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc, huyện Đức Trọng, huyện Bảo Lâm.

Các ngành, địa phương rà soát, bổ sung, điều chỉnh các chương trình trọng tâm, công trình và địa bàn trọng điểm, xây dựng kế hoạch, dự án cụ thể, tập trung chỉ đạo phát huy mọi nguồn lực, tổ chức thực hiện đúng tiến độ, tạo động lực thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển nhanh và bền vững.

1.3. Phát triển công nghiệp- xây dựng.

Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo điều kiện nâng cao tỉ trọng công nghiệp- xây dựng trong cơ cấu kinh tế. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm sản, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp năng lượng. Thu hút đầu tư phát triển hạ tầng để lấp đầy diện tích các khu công nghiệp Phú Hội, Lộc Sơn, 40% khu công nghiệp Tân Phú và 50% các cụm, điểm công nghiệp vào năm 2015. Chú trọng thu hút những tập đoàn kinh tế có tiềm năng về công nghệ, thị trường, vốn đầu tư để xây dựng những dự án có quy mô lớn, làm động lực phát triển công nghiệp; tạo điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn.

1.4. Phát triển các ngành dịch vụ.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại; hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu hàng hoá, quảng bá hình ảnh, áp dụng hệ thống quản lí chất lượng theo tiêu chuẩn phù hợp để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Tiếp tục kêu gọi đầu tư có chọn lọc; tập trung sức hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất để các nhà đầu tư triển khai dự án.

a. Về du lịch.

Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng chất lượng cao, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển các loại hình du lịch có lợi thế của địa phương. Tạo điều kiện tốt nhất để đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư tại khu du lịch hồ Tuyền Lâm, Đan Kia- Đà Lạt, hồ Đại Ninh, Cam Ly- Măng Lin, Langbian, Đam M’Bri... Đến năm 2015, có trên 15 khu, điểm tham quan du lịch được đầu tư, nâng cấp theo chủ đề. Tập trung nâng cấp cảnh quan môi trường thành phố Đà Lạt và các trục đường vào Đà Lạt; tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, bảo tồn và khôi phục những khu biệt thự cổ tại Đà Lạt, xây dựng và phát triển các làng nghề truyền thống… Đầu tư hạ tầng một số khu du lịch mới để kêu gọi đầu tư khai thác; liên kết với khu vực miền Trung- Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ, hình thành các tam giác phát triển du lịch. Phấn đấu thu hút lượng khách đến tăng bình quân hàng năm 10- 11%, đến năm 2015 đạt 4,5- 5,0 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm 10%; tăng thời gian lưu trú bình quân của khách đạt 2,7 ngày.

b. Về thương mại.

 Tiếp tục thu hút đầu tư các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ trung tâm có chất lượng cao; phát triển nhanh hệ thống chợ nông thôn, khuyến khích mở rộng các hình thức kinh doanh, mua bán, trao đổi hàng hoá ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đa dạng hóa các loại hình thương mại, bảo đảm hàng hóa lưu thông thông suốt, thị trường ổn định trên từng địa bàn; giữ vững thị trường truyền thống, tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu; ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, bình ổn giá cả.

c. Một số loại hình dịch vụ khác.

Quan tâm đầu tư nâng cấp phương tiện vận tải, tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn giao thông; hiện đại hóa mạng lưới bưu chính viễn thông và phát triển đồng bộ các dịch vụ khác phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, như: chăm sóc sức khoẻ, khoa học, công nghệ, bảo hiểm, tư vấn... Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể gắn với cải cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy; đến năm 2015, cơ bản hoàn thành tin học hoá quản lí hành chính nhà nước và vận hành tốt “Chính phủ điện tử”.

1.5. Lĩnh vực tài chính ngân sách và tín dụng ngân hàng.

- Thực hiện nghiêm các chủ trương điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trên lĩnh vực quản lí tài chính, ngân sách, giá cả…

Khai thác, quản lí và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực tài chính để thực hiện các khâu đột phá và công trình trọng điểm cuả tỉnh, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách, phấn đấu đến năm 2015 thu ngân sách đủ chi thường xuyên. Xây dựng và thực hiện tốt Đề án thu thuế giai đoạn 2011- 2015; thực hiện quyết liệt các biện pháp chống thất thu thuế, phí, triệt để khai thác các nguồn thu, nhất là những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm của tỉnh để tăng nhanh nguồn thu.

Điều hành chi ngân sách theo dự toán được duyệt, đảm bảo đúng chế độ; tiếp tục phân cấp các khoản chi cho địa phương và cơ sở, nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong việc quyết định các khoản chi. Phân bổ chi ngân sách nhà nước hợp lí nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ngân sách, theo hướng tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tạo động lực thu hút thêm các nguồn lực khác, đảm bảo có sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn lực toàn xã hội cho phát triển hạ tầng.

- Tiếp tục thực hiện định hướng phát triển các hoạt động kinh doanh tiền tệ, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng thị trường tiền tệ, tín dụng. Duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lí nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay bình quân hàng năm đạt trên 18% và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch do ngân hàng cấp trên giao; đến năm 2015, nguồn vốn huy động đạt số dư 24.000 tỉ đồng, dư nợ cho vay đạt 39.000 tỉ đồng, tỉ lệ nợ xấu dưới 3% tổng dư nợ.

Chú trọng đầu tư tín dụng và điều chỉnh cơ cấu tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp- xây dựng và dịch vụ phù hợp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Đẩy mạnh cho vay để phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tiếp tục đầu tư cho các khâu đột phá, công trình trọng điểm; hỗ trợ lãi suất đúng đối tượng cho các khách hàng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

1.6. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

a. Sản xuất nông- lâm nghiệp và thuỷ sản.

- Phát triển nông- lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tiếp tục đầu tư nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lương thực, cây đặc sản rau- hoa, cây rừng và chăn nuôi đại gia súc tập trung, tạo thành vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Tăng cường việc ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Tổng kết các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao để nhân rộng; tạo điều kiện giúp đỡ, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững các mô hình tổ chức sản xuất, các loại hình kinh tế tập thể ở nông thôn. Bố trí lại cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Phấn đấu đến năm 2015, giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất canh tác bình quân đạt 100 triệu đồng.

- Tăng cường công tác quản lí, bảo vệ rừng, nhất là đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Tiếp tục thực hiện xã hội hoá nghề rừng, kêu gọi các nguồn lực đầu tư phát triển lâm nghiệp nhằm phát huy lợi thế về rừng của địa phương; thực hiện Đề án quản lí, sử dụng và phát triển bền vững rừng sản xuất thông 3 lá tự nhiên. Hoàn thiện công tác giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng để người dân được hưởng lợi từ rừng; hạn chế đến mức thấp nhất và phấn đấu chấm dứt nạn phá rừng. Mở rộng diện thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 380 của Thủ tướng Chính phủ, cùng với các biện pháp khác nhằm đảm bảo người dân có thể sống, làm giàu từ nghề rừng.

- Khuyến khích nuôi trồng thủy sản, trọng tâm là quy hoạch phát triển các loại thuỷ sản có lợi thế của điạ phương như cá tầm, cá hồi gắn với chế biến, tiêu thụ.

b. Kinh tế nông thôn.

Quy hoạch nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các cụm, điểm dân cư, phát triển công nghiệp, làng nghề tiểu- thủ công nghiệp, dịch vụ nhằm sắp xếp ổn định dân cư trên từng địa bàn. Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới xã Tân Hội (huyện Đức Trọng) và 11 xã điểm ở các huyện, thành phố để nhân rộng; phát động phong trào xây dựng nông thôn mới trong toàn tỉnh.

Tiếp tục thực hiện các chương trình phát triển thủy lợi; chương trình kiên cố hóa kênh mương; đề án phát triển thủy lợi nhỏ vùng đồng bào dân tộc... Từng bước xã hội hoá việc đầu tư phát triển và quản lí, khai thác các công trình cấp nước sạch trên địa bàn nông thôn. Phát triển giao thông nông thôn, phấn đấu đến năm 2015, 100% đường trục xã, liên xã được nhựa hóa, bê tông hóa; 30% đường trục thôn, xóm, hẻm, đường trục chính nội đồng được cứng hóa. Thực hiện các dự án đầu tư để đến năm 2015, tỉ lệ hộ dùng điện ở nông thôn đạt trên 95%.

Tập trung chỉ đạo, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển bền vững các loại hình kinh tế tập thể. Rà soát, đánh giá chất lượng hoạt động của các hợp tác xã và tổ hợp tác để có kế hoạch sắp xếp, kiện toàn tổ chức, hoạt động; có chính sách hỗ trợ về đất đai, thuế, tín dụng, kĩ thuật, công nghệ, thông tin, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực...

1.7. Đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chủ trương về tập trung nguồn lực, tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng kinh tế- xã hội và xây dựng mô hình sản xuất phù hợp để đồng bào có điều kiện vươn lên cải thiện đời sống.

Tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời các cơ chế, chính sách đối với người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, như: hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt; hỗ trợ các mặt hàng thiết yếu; ưu tiên giao rừng, khoán quản lí, bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; thực hiện tốt các chính sách về giáo dục, khám, chữa bệnh cho người nghèo, chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo...

Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, trong đó chú ý người dân tộc gốc Tây Nguyên, khắc phục tình trạng hụt hẫng cán bộ; coi đây là hướng đột phá trong việc đầu tư toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

1.8. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị.

a. Về giao thông.

Phối hợp chặt chẽ với các ngành của Trung ương, đồng thời tích cực tìm nguồn vốn để khởi công xây dựng đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương; đầu tư nâng cấp các quốc lộ 20, 27, 28, 55; các tuyến đường tỉnh quan trọng như 721, 723, 725; tuyến đường sắt Bảo Lâm- Bình Thuận; đường vành đai thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc, các tuyến tránh quốc lộ qua các đô thị; hoàn thành đường Trường Sơn Đông. Tiếp tục đầu tư nâng cấp đường nội thị, đáp ứng tiêu chí đô thị; thực hiện đề án đầu tư giao thông nông thôn theo quy hoạch được duyệt. Mở thêm các tuyến bay nội địa và quốc tế đi và đến sân bay Liên Khương, đến năm 2015 có khả năng tiếp nhận 1 triệu lượt khách.

b. Về thuỷ điện, thuỷ lợi.

Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển thủy điện theo quy hoạch. Đầu tư kiên cố hoá kênh mương để phát huy tốt năng lực tưới tiêu của các công trình thủy lợi hiện có. Ưu tiên đầu tư các công trình thủy lợi phục vụ tưới cho vùng cây công nghiệp dài ngày; tranh thủ nguồn vốn đầu tư của Trung ương để xây dựng các công trình quy mô lớn. Đến năm 2015, đảm bảo tưới trên 50% diện tích canh tác toàn tỉnh.

c. Về hạ tầng đô thị và định hướng phát triển đô thị.

- Tập trung đầu tư các công trình trọng điểm để sớm đưa vào sử dụng. Rà soát toàn bộ các quy hoạch xây dựng đô thị để điều chỉnh, hoàn thiện. Thực hiện Chương trình phát triển nhà ở đô thị, nhà ở cho học sinh- sinh viên, công nhân và đối tượng thu nhập thấp. Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa mạng lưới giao thông nội thị. Đầu tư xây dựng và nâng công suất các nhà máy cấp nước, các công trình thoát nước, xây dựng các nhà máy xử lí chất thải ở các đô thị lớn, đặc biệt là xử lí chất thải rắn.

- Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng Đà Lạt trở thành thành phố du lịch chất lượng cao và trung tâm giáo dục- đào tạo, nghiên cứu khoa học của cả nước và khu vực; chú trọng bảo tồn kiến trúc, gìn giữ cảnh quan, sinh thái đặc thù; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng gắn với chỉnh trang, mở rộng không gian đô thị; quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội; thể hiện tốt vai trò là trung tâm chính trị- hành chính, kinh tế, văn hoá, dịch vụ và đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh.

- Xây dựng Bảo Lộc trở thành đô thị công nghiệp của tỉnh gắn với phát triển các ngành dịch vụ; chú trọng phát triển nguồn nhân lực; phát triển cơ sở hạ tầng gắn với mở rộng không gian đô thị; thể hiện rõ vai trò là vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Nam của tỉnh.

1.9. Tiếp tục củng cố, xây dựng quan hệ sản xuất.

Thực hiện có hiệu quả chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, phát triển nhiều loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trọng tâm là sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới, phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là các hợp tác xã trên các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác phát triển phù hợp, bình đẳng theo quy định của pháp luật. Tập trung chỉ đạo xây dựng một số doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh và có khả năng chi phối được thị trường trong nước và khu vực đối với các sản phẩm hàng hóa- dịch vụ thuộc những lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế.

Các cơ quan quản lí nhà nước quan tâm hướng dẫn, cung cấp thông tin, đào tạo cán bộ, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tiếp cận công nghệ, thị trường tín dụng và tiêu thụ sản phẩm… Có cơ chế, chính sách phát triển các mối liên kết chặt chẽ giữa nông hộ với các doanh nghiệp, tổ chức khoa học, hiệp hội, tổ chức dịch vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

1.10. Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu những cam kết của Việt Nam về thực hiện Chương trình nghị sự 21[22], trên cơ sở đó tiếp tục cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ để thực hiện có hiệu quả. Tăng cường quản lí nhà nước đi đôi với giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường; có biện pháp ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác tài nguyên trái phép và các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Tăng cường đầu tư của Nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực bảo vệ môi trường; trước hết là các hoạt động thu gom, xử lí và tái chế chất thải. Phát triển và ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường. Bảo đảm khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lí; thực hiện nghiêm các quy định về phục hồi môi trường các khu khai thác khoáng sản.

2. Lĩnh vực văn hoá- xã hội.

2.1. Về giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.

a. Giáo dục- đào tạo.

Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, đẩy nhanh tiến độ chuẩn hóa trường lớp học và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

Đổi mới phương pháp dạy và học, quan tâm chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo nhằm phát huy mọi nguồn lực đầu tư; thực hiện liên kết đào tạo với một số cơ sở có uy tín trong nước và quốc tế, đa dạng hoá các loại hình trường lớp và hình thức học tập; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên các cấp đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, đảm bảo về phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề nghiệp.

Quan tâm xây dựng cơ sở vật chất trường lớp và đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học cho tất cả các cấp học. Ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa để giảm khoảng cách về chất lượng dạy và học giữa các vùng trong tỉnh. Củng cố và phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên- hướng nghiệp, các trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mọi người mọi trình độ. Mở rộng các loại hình và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, phục vụ tích cực nhu cầu đào tạo lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.

b. Khoa học- công nghệ.

Nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các đề tài, dự án khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và sự phát triển nhanh, bền vững của địa phương; phát triển các công nghệ có tính đặc thù, có lợi thế so sánh và hiệu quả cao. Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ trong các ngành, phát triển sản phẩm công nghệ có hàm lượng khoa học cao trong các lĩnh vực điện tử tin học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ sinh học.

c. Phát triển nguồn nhân lực.

Triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nghề cho lao động theo nhu cầu của xã hội; thực hiện tốt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của Chính phủ. Mặt khác, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động. Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, chuyên gia giỏi tại các khu công nghiệp, du lịch; đào tạo nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức. Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và phát huy nhân tài.

2.2. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số, kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.

Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế; thường xuyên giáo dục, nâng cao y đức của đội ngũ cán bộ y tế đi đôi với phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới dịch vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cơ sở; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong hoạt động khám, chữa bệnh và làm tốt công tác quản lí thị trường thuốc chữa bệnh. Có chính sách trợ giúp các đối tượng chính sách, người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế.

Phát triển mạng lưới y tế dự phòng đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế các dịch bệnh, đảm bảo phòng chống dịch hiệu quả.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám, điều trị bệnh; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là thu hút đầu tư xây dựng các bệnh viện gắn điều trị với nghỉ dưỡng.

Thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách về dân số, duy trì mức sinh hợp lí. Quan tâm công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện. Thực hiện bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc.

2.3. Về văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.

a. Về văn hoá, thông tin.

- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá; tập trung xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, xây dựng xã, phường, thôn, tổ dân phố, gia đình văn hóa; chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam, trước hết là lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội và ý thức chấp hành pháp luật. Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, giảm chênh lệch về đời sống văn hóa tinh thần giữa các tầng lớp dân cư và giữa các địa bàn trong tỉnh.

- Sắp xếp, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội được thông tin của nhân dân. Đổi mới cơ chế quản lí, đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực thông tin; quan tâm đầu tư các loại hình báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; chú trọng các loại hình, chương trình truyền thông dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng Báo Lâm Đồng, Đài Phát thanh- Truyền hình Lâm Đồng. Phủ sóng truyền hình mặt đất đến 100% hộ dân, mạng truyền hình cáp được triển khai tại 100% trung tâm các huyện, thành phố.

b. Thể dục, thể thao.

Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thể dục, thể thao; đầu tư xây dựng hoàn chỉnh sân vận động và khu trung tâm đủ tiêu chuẩn tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao cấp quốc gia và khu vực. Quan tâm chỉ đạo phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao.

2.4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội khác.

- Thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ đối với huyện Đam Rông và vận dụng cho các xã, thôn nghèo của tỉnh; phát huy mọi nguồn lực tiếp tục thực hiện lồng ghép các chương trình khác để giảm nghèo và có biện pháp tích cực, cụ thể giúp đỡ các hộ cận nghèo vươn lên khá giả và không tái nghèo.

- Thực hiện tốt các chính sách xã hội, vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với những người có công với nước và các đối tượng chính sách xã hội khác.

3. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

3.1. Về quốc phòng, an ninh.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo quốc phòng, an ninh; chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Tăng cường giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh cho các tầng lớp nhân dân, nhất là lực lượng thanh niên, qua đó nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối của Đảng đối với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; tự hào về truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân; đề cao cảnh giác, làm thất bại âm mưu "Diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của kẻ địch. Nhận thức đúng đắn và thực hiện có hiệu quả chủ trương kết hợp xây dựng kinh tế với quốc phòng, an ninh, nhất là trong xây dựng khu vực phòng thủ. Huy động và phát huy nhiều nguồn lực để xây dựng khu kinh tế- quốc phòng.

Chăm lo xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vững mạnh toàn diện; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và công an viên đảm bảo số lượng hợp lí, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng và nhân dân, thực sự là nòng cốt trong giữ gìn an ninh- trật tự ở cơ sở.

Tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với lực lượng quân đội, công an; nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia.

3.2. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

Các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, đi đôi với nâng cao trách nhiệm giám sát của các tổ chức đoàn thể và nhân dân đối với công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tăng cường công tác quản lí nhà nước trên lĩnh vực kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh nhằm hạn chế thấp nhất những sơ hở, thiếu sót là nguyên nhân chính phát sinh khiếu nại, tố cáo.

4. Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị.

4.1. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

a. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

 Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với thực hiện nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cấp uỷ; bảo đảm thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan khối Đảng, đoàn thể, giảm bớt hội họp, bám sát cơ sở.

b. Công tác tư tưởng.

Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính sắc bén, tính thuyết phục, tính chiến đấu của công tác tư tưởng. Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ củng cố niềm tin, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng; biết tôn trọng và bảo vệ lẽ phải, đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Các cấp uỷ đảng, người đứng đầu cấp uỷ thường xuyên chỉ đạo công tác tư tưởng, kịp thời nắm bắt, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng, dư luận xã hội; chủ động làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng, hệ thống chính trị. Đổi mới và nâng cao chất lượng việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, gắn việc học với xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để thực hiện.

Tiếp tục tổ chức thực hiện sâu rộng, thiết thực và có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Xây dựng, phát triển, nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ và thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng làm công tác tư tưởng. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng.

c. Công tác cán bộ.

Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có cơ cấu hợp lí, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đánh giá cán bộ. Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ ở các cấp, các ngành đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài; thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí theo quy hoạch; xây dựng môi trường thuận lợi để cán bộ được rèn luyện, học tập, bồi dưỡng kiến thức và phát huy tính năng động, sáng tạo trong công tác.

Chủ động chuyển hướng từ rà soát lịch sử chính trị sang nắm bắt và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay nhằm đấu tranh ngăn chặn những tư tưởng lệch lạc, lập trường không vững vàng; bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trách nhiệm của tổ chức cơ sở đảng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

d. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

Quan tâm củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; gắn xây dựng, củng cố tổ chức đảng với chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên ở cơ sở. Chăm lo phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, trong các doanh nghiệp; tập trung xây dựng, kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; bảo đảm hệ thống tổ chức của Đảng ở cơ sở vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

đ. Công tác kiểm tra, giám sát.

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỉ luật đảng; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp uỷ và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỉ luật của Đảng.

Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức kiểm tra, giám sát; thực hiện công khai, dân chủ, khách quan, thận trọng, chặt chẽ và có trọng tâm, trọng điểm, đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Thực hiện tốt các quy chế phối hợp giữa các ngành, tổ chức liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp; trọng tâm là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là trong thực hiện quy chế làm việc, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, như: quản lý đất đai, tài nguyên, tài chính, tài sản công, các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, công tác đền bù giải toả... Coi trọng công tác kiểm tra của tổ chức đảng ở cơ sở, công tác giám sát của các tổ chức đoàn thể và nhân dân, kịp thời phát hiện, ngăn chặn có hiệu quả các vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng.

Quan tâm chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức, cán bộ của uỷ ban kiểm tra các cấp; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra, tạo điều kiện để cán bộ tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, thể hiện rõ chính kiến trong thực thi nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỉ luật của Đảng.

4.2. Công tác dân vận, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng; hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy chế phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội; duy trì và nâng cao chất lượng chế độ thường trực cấp ủy, lãnh đạo chính quyền định kỳ làm việc với Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị- xã hội các cấp. Tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội tham gia ngay từ đầu khi xây dựng chủ trương, chính sách và trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp với các ngành thực hiện một số chương trình, dự án có liên quan đến lợi ích và nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm phát huy trách nhiệm và sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quần chúng của Đảng, góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường sự đồng thuận xã hội.

 Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội theo định hướng hướng hoạt động về cơ sở, tăng cường các hoạt động tư vấn, hỗ trợ để nâng cao chất lượng cuộc sống, công tác và học tập của đoàn viên, hội viên; công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý... Phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám sát xã hội, làm nòng cốt trong tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần cùng chính quyền giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, các quyền lợi hợp pháp và chính đáng của nhân dân.

4.3. Xây dựng chính quyền.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân; phát huy dân chủ, công khai trong thảo luận, chất vấn; thực hiện tốt hơn công tác tiếp xúc, giải quyết kiến nghị của cử tri, công tác giám sát, thẩm tra của hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện tốt công tác phối hợp tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp, bảo đảm thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp uỷ, nghị quyết của hội đồng nhân dân, đồng thời phát huy sự năng động, sáng tạo trong quản lí, điều hành của ủy ban nhân dân và vai trò tập hợp, vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

Chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính một cách đồng bộ trên tất cả các khâu, từ tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đến thủ tục hành chính, hiện đại hóa công sở. Công bố các chuẩn mực, quy định hành chính để nhân dân giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong các cơ quan hành chính nhà nước địa phương; có giải pháp cụ thể nâng cao năng lực, trách nhiệm, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước trong việc giải quyết các thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, triển khai dự án, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Thực hiện triệt để các quy định về phân công, phân cấp quản lí nhà nước giữa các cấp chính quyền, bảo đảm sự chủ động, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành và sự quản lí thống nhất về quy hoạch, định hướng phát triển của cơ quan nhà nước cấp trên.

   Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Xây dựng phong cách làm việc khoa học, năng động, hiệu quả, nâng cao khả năng tiếp cận, dự báo phát triển kinh tế- xã hội địa phương trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chủ động đối phó với khó khăn, thách thức, những tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với nền kinh tế địa phương.

-  Triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trọng tâm là cải cách hoạt động xét xử; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan điều tra, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân các cấp. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lí, thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp, sự tham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; đổi mới quy trình, thủ tục giải quyết công việc của các toà án; xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính để sớm phát hiện, xử lí chính xác, đúng pháp luật các loại tội phạm, tranh chấp trong xã hội.

-  Kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, gắn với việc thực hiện những quy định cán bộ, đảng viên không được làm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục Luật Phòng chống tham nhũng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lí nghiêm minh, kịp thời, công khai, dứt điểm các hành vi tham nhũng; tăng cường công tác kiểm tra trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, địa phương trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; chú trọng các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lí đất đai, thu chi ngân sách, quản lí tài sản công.

Tăng cường công tác giám sát của các cấp, các ngành, đoàn thể và nhân dân nơi cư trú; khuyến khích báo chí tham gia phát hiện, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, cổ vũ, động viên phong trào tiết kiệm. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan phòng chống tham nhũng; có cơ chế phù hợp, bảo đảm an toàn cũng như các quyền, lợi ích và phát huy trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát hiện, đấu tranh hoặc báo cáo với cơ quan nhà nước, tổ chức đảng có thẩm quyền về hành vi tham nhũng, lãng phí.

Trong nhiệm kỳ Đại hội IX, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

- Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; chú trọng cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước, năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp; đặc biệt là trong triển khai 5 khâu đột phá, các công trình, địa bàn trọng điểm.

- Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp, của nhân dân.

- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương.

- Xây dựng, phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội; phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng của địa phương.

-  Xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo nhanh và bền vững, đặc biệt là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu "đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển". Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX khẳng định quyết tâm chính trị lãnh đạo toàn dân, toàn quân phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua khó khăn, giữ vững đoàn kết, kiên trì đổi mới, nâng cao trách nhiệm, giữ vững kỉ cương, phát huy mọi nguồn lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đưa Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững.

T/M TỈNH ỦY

BÍ THƯ

 

Huỳnh Phong Tranh


 

[1] NQ: Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm 13- 14%.

[2] NQ: Tỉ trọng nông nghiệp chiếm 36- 38%, dịch vụ 36- 38%, công nghiệp- xây dựng 26% trong GDP.

[3] NQ: GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 15,5- 16,5 triệu đồng.

[4] NQ: Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách đạt 15- 16%; trong đó huy động thuế và phí đạt 12- 13%.

[5] NQ: Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 900- 950 triệu USD, tăng bình quân hàng năm 14- 16%.

[6] NQ: Tăng 3,2- 3,3 lần so với thời kỳ 2001- 2005.

[7] NQ: Tạo việc làm mới hàng năm cho 24.000- 25.000 lao động.

[8] NQ: Phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2007.

[9] NQ: Có 80% dân số nông thôn được dùng nước sạch.

[10] NQ: Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20%.

[11] NQ: Có 25% lao động trong tỉnh được đào tạo nghề.

[12] NQ: Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn dưới 1,4%.

[13] NQ: Giảm hộ nghèo xuống còn dưới 14%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 30%.

[14] NQ: Có 50- 55% gia đình văn hóa; 55- 60% thôn, buôn, khu phố và 80% cơ quan văn hoá.

[15] NQ: Năm 2010, có ít nhất 80% số tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh. Chỉ tiêu này không đạt, chủ yếu do từ năm 2008, Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn thay đổi cách phân loại theo hướng nâng cao chất lượng TCCSĐ TSVM; có thêm một loại nữa sau TCCSĐ TSVM là TCCSĐ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

[16] NQ: Đến năm 2010, hầu hết các thôn, buôn đều có tổ chức đảng.

[17] Tỉ lệ này tính tại thời điểm 31.12.2009, theo Quyết định số 2140, ngày 09.8.2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn "V/v công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2009". Theo đó, Lâm Đồng là tỉnh đứng thứ 4 trong cả nước, sau Kon Tum 66,7%, Quảng Bình 66,6%, Tuyên Quang 62,8%.

[18] 9 chương trình trọng tâm: 1- Chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao. 2- Chương trình phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp. 3- Chương trình phát triển du lịch sinh thái, hội nghị hội thảo và nghỉ dưỡng. 4- Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng gắn với thủy điện vừa và nhỏ. 5- Chương trình khoa học công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực. 6- Chương trình giảm nghèo gắn với giải quyết những vấn đề bức xúc trong vùng đồng bào dân tộc. 7- Chương trình hợp tác toàn diện với thành phố Hồ Chí Minh. 8- Chương trình quy hoạch, đầu tư hạ tầng, mở rộng các đô thị. 9- Chương trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, tái định canh khi Nhà nước thu hồi đất.

[19] 11 công trình trọng điểm: 1- Nâng cấp mở rộng sân bay Liên Khương. 2- Đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương. 3- Đường cao tốc Liên Khương- chân đèo Prenn. 4- Đường tỉnh 723 Đà Lạt- Khánh Hòa. 5- Khu công nghiệp Lộc Sơn. 6- Khu công nghiệp Phú Hội. 7- Tổ hợp Bauxite- nhôm Lâm Đồng và dự án Hydroxite- oxyt nhôm tại Bảo Lộc. 8- Khu du lịch hồ Tuyền Lâm. 9- Khu du lịch Đan kia- Đà Lạt. 10- Thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4. 11- Khu công viên kết hợp vui chơi giải trí đường Bà Huyện Thanh Quan.

[20] NQ: Hàng năm kết nạp từ 1.300 đảng viên mới trở lên.

[21] Theo điều tra năm 2008, khoảng cách giàu, nghèo của tỉnh là 8,24 lần (của Tây Nguyên là 8,3 lần; của cả nước là 8,6 lần), trong đó khu vực thành thị là 6,03 lần và khu vực nông thôn là 9,42 lần;

[22] Là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lí, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên), bảo đảm phát triển bền vững trong thế kỉ 21.