Lịch sử văn hóa 

Bảo Lâm là một huyện thuộc cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc, nằm giữa thị xã Bảo Lộc và huyện Di Linh. Huyện Bảo Lâm được thành lập theo Quyết định số 65/QĐ-CP ngày 11-7-1994 của Chính phủ, từ huyện Bảo Lộc được chia ra thành 2 đơn vị mới là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.

Huyện Bảo Lâm có 14 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn Lộc Thắng và 12 xã: Lộc Quảng, Lộc Tân, Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm, Lộc Phú, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam, Tân Lạc và B’Lá. Những xã này hầu hết thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Bảo Lộc cũ. Việc thành lập huyện Bảo Lâm tạo ra cơ cấu tổ chức phù hợp để thúc đẩy quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở vùng này cùng với các địa phương khác trong toàn tỉnh bước vào thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Với diện tích tự nhiên 1.456,6km2, Bảo Lâm là một trong những huyện có diện tích lớn của tỉnh. Bảo Lâm là vành đai bao quanh 3 phía bắc, đông và tây thị xã Bảo Lộc, khiến cho chu vi của huyện Bảo Lâm rất dài và Bảo Lâm có ranh giới giáp với nhiều địa phương khác: phía bắc giáp với tỉnh Đắc Lắc, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông giáp huyện Di Linh, phía tây giáp thị xã Bảo Lộc và các huyện: Cát Tiên, Đạ Tẻh và Đạ Huoai. Ở vị trí này, Bảo Lâm có điều kiện giao lưu khá thuận lợi với các địa bàn ở trong và ngoài tỉnh.

Quốc lộ 20 cùng với tuyến đường liên tỉnh từ Bảo Lộc đến công trình thuỷ  điện Hàm Thuận - Đạ Mi tạo cho Bảo Lâm nhanh chóng tiếp cận được với Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông và vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Địa hình của huyện Bảo Lâm thuộc vùng sơn nguyên tương đối bằng phẳng. Độ cao trung bình 900m so với mặt biển.

Mặc dù không có nhiều núi cao (Tiou Hoan 1.444m, B’Nom Quanh 1.131m, B’Nom R’La 1.271m), nhưng nơi đây lại là vùng phát sinh của nhiều dòng suối lớn và là đầu nguồn sông La Ngà. Các dòng sông suối chính như: Đa Tong Kriong, Đa Dung Krian, Đạ Riam, Đạ Bình,... tập hợp nhiều nguồn suối nhỏ để đổ vào sông La Ngà. Ở phía bắc huyện Bảo Lâm cũng có nhiều dòng suối lớn như: Đạ Pou, Đạ Siat, Đạ Kôi, Đạ Sou với rất nhiều nhánh suối nhỏ tập trung đổ vào sông Đa Dâng là ranh giới tự nhiên của huyện với tỉnh Đắc Lắc.

Lượng mưa hàng năm rất lớn, bình quân 2.000 - 2.500mm. Vì vậy huyện Bảo Lâm có tiềm năng dồi dào về thuỷ lợi và thuỷ điện. Bước đầu huyện đã xây dựng được hồ chứa nước Tân Rai ở Lộc Thắng và cụm công trình thuỷ điện phục vụ cho đồng bào dân tộc ở xã Lộc Lâm. Thác nước Bảy Tầng ở Lộc Thành và hệ thống thác nước ở Lộc Bắc không chỉ là những thắng cảnh đẹp, hùng vĩ mà còn có thể xây dựng được các công trình thuỷ điện phục vụ cho đồng bào vùng sâu, vùng xa ở phía bắc và phía nam của huyện.

Mùa khô ở vùng Bảo Lâm do độ ẩm không khí cao và hầu như tháng nào trong mùa này cũng có ít nhất một cơn mưa. Vì vậy, các loại cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày, phát triển thuận lợi, đạt năng suất cao.

Bảo Lâm thuộc vùng đất rộng, người thưa, dân số toàn huyện có 87.536 người (năm 1999), mạât độ dân số: 60 người/km2.

Đồng bào các dân tộc ít người chiếm 30,5% dân số, chủ yếu là người Mạ (14,9%) và Cơ Ho (9,4%), ngoài ra còn có một số dân tộc từ các tỉnh miền Bắc đến sinh cơ lập nghiệp. Đồng bào dân tộc tại chỗ có quá trình sinh sống ở đây từ rất lâu đời. Ở xã Lộc Bắc đã phát hiện được 2 bộ đàn đá. Các nhà khảo cổ học xác định những hiện vật này có niên đại cách đây trên 2.000 năm. Đồng bào dân tộc ở xã Lộc Bảo, Lộc Bắc còn lưu giữ nếp sống trong các nhà dài bao gồm nhiều thế hệ đồng tộc cùng chung sống trong một gia Đình lớn.

Bổ sung vào thành phần cư dân sau này là các đợt di dân đến vào nhiều thời kỳ khác nhau. Đợt dân đến đông đảo đầu tiên là vào đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp khai thông quốc lộ 20, tiến hành lập các đồn điền trồng chè, cà phê. Toàn vùng cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc thời kỳ đó có đến 400 đồn điền với gần 20.000ha chè, cà phê. Công cuộc khai hoang lớn đầu tiên đã đưa lên đây hàng chục ngàn lao động cho đến nay đã trải qua nhiều thế hệ gắn bó với vùng đất này. Trong những năm đầu của thập kỷ 80, khi mở ra các nông trường thuộc Liên hiệp các xí nghiệp dâu tằm tơ Việt Nam, đã có nhiều đợt lao động và các hộ dân đi khai hoang xây dựng kinh tế mới được chuyển đến vùng Bảo Lâm.

Cùng với sự hình thành, phát triển  của  cộng đồng  dân cư,  đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân các dân tộc trong huyện cũng rất đa dạng, phong phú. Nét đẹp truyền thống của mỗi dân tộc luôn được trân trọng, giữ gìn và phát huy. Mặt khác, trong quá trình giao lưu chung sống, những tinh hoa quý báu của các dân tộc anh em được tiếp thu và trở thành tài sản chung của cả cộng đồng. Các thế hệ cư dân đến vùng Bảo Lâm đều là những người lao động cần cù, không quản ngại khó khăn, gian khổ, mong muốn xây dựng cuộc sống ổn định và tương lai tốt đẹp cho con cháu. Kẻ trước, người sau gắn bó chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, cùng đoàn kết chống áp bức, bóc lột, chống ách thống trị của thực dân, đế quốc.

Trong suốt thời kỳ kháng chiến lâu dài, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các xã phía bắc và phía nam huyện Bảo Lâm luôn là vùng căn cứ địa vững chắc của cách mạng. Đồng bào dân tộc vùng căn cứ mặc dù còn gian khổ, thiếu thốn nhưng một lòng, một dạ tin tưởng tuyệt đối ở cách mạng và quyết tâm theo Đảng chiến đấu đến cùng. Quân và dân các xã Lộc Bắc, Lộc Nam, Lộc Lâm, Lộc An đã lập chiến công xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Hình ảnh anh dân quân K’Vét dũng cảm bắn rơi máy bay Mỹ đã tiêu biểu cho khí phách anh hùng của đồng bào dân tộc vùng chiến khu năm xưa.

Nền kinh tế của huyện Bảo Lâm chủ yếu là nông lâm nghiệp. Đây là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn của tỉnh, cây trồng chính là chè, cà phê, dâu tằm và một số loại cây ăn quả khác. Trong tổng giá trị sản phẩm năm 1997, thu nhập nông nghiệp chiếm 80%, lâm nghiệp 9,32%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 4,36% và thương mại, dịch vụ 6,32%.

Cơ cấu tỷ trọng của các ngành kinh tế trên đây cho thấy Bảo Lâm còn là một huyện thuần nông. Điều này là một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Diện tích đất có khả năng nông nghiệp toàn huyện là 36.000ha, đến nay đã trồng được 24.827ha các loại cây công nghiệp dài ngày, trong đó có gần 18.219ha đã cho thu hoạch.

Diện tích chè có 8.920ha với hơn 7.746ha đã có thu hoạch. Nhân dân trong huyện đang tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong việc trồng chè, đưa những giống mới và sử dụng kỹ thuật giâm cành để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Diện tích cà phê có 15.841ha, diện tích đã cho thu hoạch là 10.473ha. Sản lượng cà phê nhân đạt 16.498 tấn.

Do ngành dâu tằm tơ gặp khó khăn nên diện tích dâu năm 1995 là 781ha chỉ còn lại khoảng 200ha.

Toàn huyện trồng được 250ha cây ăn quả, chủ yếu là trồng xen trong đất thổ cư và vườn cà phê, trong đó chiếm ưu thế là sầu riêng với tổng số 112.000 cây. Hiện nay nhân dân chủ yếu trồng loại sầu riêng ghép giống ngoại nhanh thu hoạch, giá trị kinh tế cao.

Diện tích đất lâm nghiệp là 91.462ha. Hậu quả của việc đốt nương làm rẫy đến nay còn để lại 22.345ha đất trống, đồi trọc. Huyện Bảo Lâm đang tích cực thực hiện trồng rừng và giao khoán quản lý, bảo vệ chăm sóc rừng. Diện tích rừng trồng có 3.030ha, diện tích rừng được giao bảo vệ chăm sóc là 26.449ha (chiếm 32,4% diện tích rừng). Phát triển kinh tế rừng, xây dựng vườn rừng đang được gắn kết chặt chẽ với công tác định canh, định cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc. Mỗi hộ dân nhận chăm sóc bảo vệ rừng được tạo điều kiện để trồng 1,5 - 2ha cây công nhiệp nhằm ổn định, phát triển kinh tế.

Hệ thống đường giao thông nội bộ những năm gần đây phát triển khá nhanh. Đường ô tô đã đến tất cả các xã trong huyện, toàn huyện có 40km đường nhựa. Các tuyến đường lâm nghiệp, đường đến các đồn điền chè, cà phê trước đây đang được nâng cấp dần. Đến nay đã có 127km đường cấp phối, hàng trăm cây số đường đã được tu sửa để phục vụ cho việc vận chuyển đến được các xã vùng sâu, vùng xa. Các chương trình định canh, định cư, chương trình dự án 327 cũng dành phần thích đáng để đầu tư xây dựng các tuyến đường về các xã của huyện. Nhân dân các địa phương cũng tham gia đóng góp công sức, tiền của để làm đường đến các vùng nông thôn và khu vực dân cư.

Từ khi thành lập đến nay, huyện Bảo Lâm đã tạo được bước phát triển nhanh và hướng đi lên rõ rệt. Điều dễ nhận thấy là hệ thống giao thông và các công trình kiến trúc được xây dựng ngày càng nhiều. Bộ mặt của thị trấn Lộc Thắng - trung tâm của huyện và các vùng nông thôn có sự thay đổi nhanh chóng. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 10-12%, xấp xỉ bằng mức bình quân chung của tỉnh.

Là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn của tỉnh, mỗi năm huyện Bảo Lâm thực hiện trồng mới được hàng ngàn hecta cà phê, diện tích được thu hoạch hàng năm cũng tăng thêm tương ứng. Tuy vậy, do công nghiệp chế biến, thương nghiệp, dịch vụ chưa phát triển nên giá trị tổng sản phẩm thu nhập đạt chưa cao. Thu nhập bình quân đầu người mới đạt 2,7 triệu đồng/năm (tương đương 250 USD). Mức sống có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, một số buôn vùng đồng bào dân tộc vẫn còn bị tình trạng thiếu đói 1-3 tháng trong năm. Huyện Bảo Lâm đã đầu tư cho các xã vùng đồng bào dân tộc mỗi năm 8-10 tỷ đồng để thực hiện các chương trình định canh, định cư và phát triển kinh tế - xã hội.

 Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bảo Lâm đang nỗ lực phấn đấu nhằm hoàn thành cuộc vận động định canh, định cư, phát triển nông nghiệp toàn diện cả chiều rộng lẫn chiều sâu, gắn kết với công nghiệp chế biến và phục vụ xuất khẩu nhằm tạo tiền đề để huyện Bảo Lâm bước vào thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa các vùng nông thôn, miền núi phát triển nhanh chóng, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc trong huyện.