Xã Đạ Lây 
New Page 6

1. Thông tin cơ quan:

Tên cơ quan: UBND xã Đạ Lây, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

Địa chỉ: xã Đạ Lây, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

Điện thoại: 0633882014

Email: ubnddalay@lamdong.gov.vn

2. Công chức lãnh đạo cơ quan:

Họ và tên

Nhiệm vụ đảm nhiệm

Ông Nguyễn Thanh Quang

Chức vụ: Chủ tịch UBND xã

Điện thoại CQ: 0633882014

Điện thoại : 0633904446

Chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại điều 127 luật tổ chức HDND và UBND năm 2003; đồng thời, cùng UBND xã chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBND trước Đảng ủy, HDND xã và UBND huyện;

- Triệu tập, chủ trì các phiên họp và hội nghị khác của UBND, khi vắng mặt thì ủy quyền phó chủ tịch chủ trì thay; bảo đảm việc chấp hành pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Đảng ủy và HDND xã;

- Xây dựng chương trình công tác năm, quý, tháng của UBND;

-Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác; phân công nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra các thành viên UBND xã và các cán bộ, công chức khác thuộc UBND xã, trưởng thôn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao;

- Quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều nội dung công việc, những vấn đề đột xuất, phức tạp trên địa bàn; những vấn đề còn ý kiến khác nhau họăc vượt quá thẩm quyền của phó chủ tịch và ủy viên UBND xã;

-Ký ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền UBND xã và thẩm quyền chủ tịch UBND theo quy định của pháp luật;

-Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội của xã, hoạt động của UBND với Đảng ủy, HDND xã và UBND huyện;

-Thường xuyên trao đổi công tác với đồng chí Bí thư Đảng ủy, chủ tịch HDND, chủ tịch MTTQ và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân cấp xã; phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công tác; nghiên cứu, tiếp thu về các đề xuất của MTTQ và các đoàn thể nhân dân đối với công tác của UBND; tạo điều kiện để các đoàn thể họat động có hiệu quả;

-Tổ chức tiếp dân, xem xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân theo quy định của pháp luật.

Bà Lê Thị Hương

Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã

Điện thoại CQ: 

Điện thoại : 

-Trực tiếp chỉ đạo các lĩnh vực và địa bàn công tác do chủ tịch phân công; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai các công việc theo lĩnh vực được phân công trên địa bàn. Được sử dụng quyền hạn của chủ tịch khi giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực được giao;

-Chịu trách nhiệm cá nhân trước chủ tịch, trước UBND và HDND xã về lĩnh vực được giao, về những quyết định chỉ đạo, điều hành của mình; cùng chủ tịch và các thành viên khác của UBND chịu trách nhiệm tập thể về toàn bộ hoạt động của UBND trước Đảng ủy, HDND xã và UBND huyện. Đối với những vấn đề vượt quá phạm vị thẩm quyền thì phó chủ tịch phải báo cáo chủ tịch quyết định;

-Khi giải quyết công việc, nếu có vấn đề liên quan đến phạm vi và trách nhiệm giải quyết công việc  của thành viên khác của UBND thì chủ động trao đổi, phối hợp với thành viên đó đề thống nhất cách giải quyết; nếu vẫn còn ý kiến khác nhau thì báo cáo chủ tịch quyết định;

-Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chức, các thôn thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật thuộc được giao.

 

 

 

  

Phần thứ nhất:

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN, NHÂN  LỰC

          I/ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1/ Đặc điểm tự nhiên của xã Đạ Lây:

* Vị trí địa lý:

Xã Đạ Lây có tổng diện tích tự nhiên: 2747,49 ha

Ranh giới hành chính của xã theo bản đồ 364. Xác định như sau:

+ Phía Bắc giáp xã Lộc Bắc

+ Phía Nam giáp sông Đồng Nai

+ Phía Đông giáp xã Hương Lâm

+ Phía Tây giáp xã Quảng Ngãi, huyện Cát Tiên

Xã Đạ Lây có tọa độ địa lý:

+ Từ 1103100 đến 1103900 vĩ độ bắc

+ Từ 10702300 đến 10702500 kinh độ đông

* Địa hình:

Xã Đạ Lây có diện tích tự nhiên không lớn (2747,49ha) địa hình trải dài từ sông Đồng Nai lên đến thượng nguồn suối Đạ Lây, giáp Lộc Bắc, Bảo Lâm; có dạng phức tạp, thấp dần từ Bắc đến Nam. Chia địa hình của xã thành 2 dạng địa hình như sau:

+ Dạng địa hình đồng bằng: dạng địa hình này có độ cao khoảng 150.m so với mực nước biển. Chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đất ở nông thôn, đất chuyên dùng. Tổng diện tích  là 1.227,49 ha chiếm 45,46% so tổng diện tích tự nhiên toàn xã.

+ Dạng địa hình đồi núi: dạng địa  hình này nằm tập trung phía bắc xã Đạ Lây và chạy dài xuống phía nam đến giáp sông Đồng Nai, chiếm diện tích lớn so với tổng diện tích tự nhiên của xã, chủ yếu là đất lâm nghiệp. Dạng địa hình chủ yếu là đồi núi tương đối cao,  nhiều khe suối, độ dốc lớn với diện tích 1.663,63  ha (chiếm 54,54 % tổng diện tích tự nhiên). Dân cư được bố trí tập trung ở khu vực đất bằng, nên thuận lợi cho việc thiết kế giao thông, chỉ có một số hộ ở khu vực thượng nguồn suối Đạ Lây, do điều kiện cách xa khu trung tâm địa hình nhiều đồi núi, khe suối nên có nhiều khó khăn về thiết kế  giao thông.

*  Khí hậu:

- Xã Đạ Lây nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, nên nhiệt và bức xạ mặt trời cao đều quanh năm, không có mùa đông lạnh, nhưng thường có gió bão, lượng mưa lớn, nhưng phân bổ không đều tạo ra 2 mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt.

+ Mùa mưa vào khoảng tháng 5 đến tháng 11 chiếm 90% lượng mưa trong năm.

+ Mùa nắng vào khoảng tháng 12 đến tháng 4 năm sau chiếm 10% lượng mưa trong năm.

Do vị trí địa lý của xã nằm ở vĩ độ thấp nên xã Đạ Lây nhận đuợc nhiều năng lượng bức xạ mặt trời và ít bị ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm cao (25 – 27 0C). Tổng tích ôn từ 9.400 – 9..7000. Bức xạ mặt trời tương đối cao: mùa khô khoảng 400 – 500calo/cm2/ngày. Những yếu tố trên cho thấy điều kiện khí hậu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp như: lúa, hoa màu, lương thực, cây công nghiệp ngắn và dài ngày.

 2/ Tài nguyên:

a/ Đất đai:

 Trên địa bàn xã Đạ Lây có 02 nhóm đất chính:

+ Nhóm đất phù sa: diện tích 739,70 ha chiếm 26,92% tổng diện tích tự nhiên, đất hình thành trên phù sa của hệ thống sông Đồng Nai và Suối Đạ Lây, địa hình bằng phẳng, trong nhóm đất này được chia làm 3 nhóm chính:

- Nhóm đất phù sa được bồi có đốm rỉ nâu vàng, nhóm đất này có diện tích 362,80 ha.

+Nhóm đất sét vàng:

Diện tích: 1.463,16ha chiếm 53,26% tổng diện tích tự nhiên.

+ Nhóm đất mùn đen: chiếm diện tích rất ít, chỉ 465,09ha, tập trung ở khu vực hạ nguồn, gần sông Đồng Nai.

b/ Tài nguyên rừng:

- Rừng xã Đạ Lây là rừng ẩm nhiệt đới: tổng diện tích đất lâm nghiệp: 1.528,63 ha chủ yếu là diện tích rừng sản xuất, không có rừng phòng hộ, và rừng đặc dụng.

c/ Tài nguyên nước:

- Đạ Lây có hệ thống sông, suối khá phong phú: Sông Đồng Nai chạy dài từ phía Bắc (thôn Lộc Hòa) xuống phía nam(thôn Liêm Phú), suối Đạ Lây chạy dài từ phía Bắc giáp Lộc Bắc đến phía nam đổ ra sông Đồng Nai, ngoài ra trên địa bàn của xã cón có suối Đa ri ông chạy dọc từ phía bắc của thôn Lộc Hoà xuống phía nam cũng đổ ra sông Đồng Nai. Hiện trạng sử dụng đất của xã năm 2012.

II, 2.2. Tài nguyên rừng:

Tài nguyên rừng ở Đạ lây khá phong phú về chủng loại (rừng lá rộng thường xanh, tre nứa, lá rộng – tre nứa …) và tập đoàn cây rừng, trữ lượng trung bình trên 1 ha khá cao. Kết quả thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2012, toàn xã 1498.33 ha , chiếm 45.53% diện tích đất tự nhiên.

Hiện tại tỷ lệ che phủ rừng đt khá cao 70%, nếu tính cả diện tích cây lâu năm quy đổi với hệ số 0,7 lần thì tỷ lệ che phủ của xã đạt 78%.

Về trữ lượng rừng, theo kết quả kiểm kê rừng năm 2000, diện tích rừng gỗ có trữ lượng bình quân 1 ha khá cao đạt 72,48 m3, trong đó rừng tự nhiên có trữ lượng bình quân trên 72 m3/ha. Rừng tre nứa có trữ lượng bình qun l 2,17 nghìn cây/ha.. Cây rừng chủ yếu l số cây loại cây có giá trị kinh tế thuộc họ dầu như Dầu rái, Sao đen, Vên vên…và các loại rừng thứ sinh tre nứa và hỗn giao gỗ - tre nứa, có trữ lượng tương đối khá có khả năng khai thác để phát triển các ngành mộc, mây tre đan, đũa xuất khẩu, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ.

- Động vật rừng:

Hiện có nhiều động vật hoang dã sinh sống như Khỉ, Cheo, Heo rừng…tạo sự đa dạng về chủng loại động vật rừng.

2.3. Mặt nước

  Đạ lây có hệ thống sông suối khá phong phú, Sông Đồng Nai, suối Đạ Lây chạy di bao quanh ranh giới Vườn quốc gia Nam Cát Tiên về phía Nam và xã Hương lâm ở phía Đông . Ngồi ra trên địa bàn xã có suối Đa ri ong..vv thuận lợi cho việc cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân..

Bảng 2: Mạng lưới sông suối trên địa bàn xã Đạ lây

STT

Tn sơng, suối

Điểm đầu

Điểm cuối

Khoảng cach đến các khu vực sản xuất ( m)

1

Sông Đồng Nai

Xã Quảng ngãi

Xã Hương Lâm

100 – thôn Lộc Hòa

2

  Sông Đạ Lây

 Xã Mỹ Lâm

Sông Đồng Nai

100 – thôn Liêm phú

3

Suối Đa ri ong

 Xã Tư Nghĩa

Sông Đồng nai

  50 – thôn Lộc Hoà

4

Suối Ông Tuyến

Thôn Phước lợi

Sông Đồng Nai

50 – thôn Thuận lộc

- Hệ thống thuỷ lợi: Toàn xã chưa có công trình thuỷ lợi.

                                                                                                                                                         

Hiện trạng sử dụng đất năm 2012:

3.1. Đất Nông nghiệp là:                                 1058,28 ha  Trong đó

3.1.1  Đất trông cây hằng năm:                        763,45 ha

        +  Đất trồng lúa:                              202,07 ha

        +  Đất trồng cây HN còn lại:             561,38 ha

3.1.2 Đất trồng cây lâu năm:                294,83 ha

        +  Đất trồng cây CN lâu năm:           149,09 ha

        +  Đất trồng cây ăn quả:                      6,91 ha

        +  Đất trồng cây lâu năm khác:         138,83 ha

      3.2  Đất lâm nghiệp:                                             1.528,63 ha

2.1 Đất rừng sản xuất:                              1.528,63 ha

2.2 Đất có rừng TN sản xuất:                   1.260,63 ha

2.3 Đất có rừng trồng sản xuất:                   268,00 ha

      3.3  Đất nuôi trồng thuỷ sản:                         07,00 ha

      3.4. Đất phi nông nghiệp:                                        153,57 ha

4.1 Đất ở:                                                               23,79 ha

4.2 Đất chuyên dùng:                                  67,43 ha

4.3 Đất trụ sở cơ quan, CTSN:                       3,21ha

4.4 Đất QPAN:                                            15,00 ha

4.5 Đất SX, KD PNN:                                   13,77 ha

.6 Đất cơ sở SX-KD:                                     1,81ha

4.7 Đất SX VLXD:                                         20,96 ha

4.8 Đất có mục đích công cộng:                    26,45 ha

4.9 Đất giao thông:                                                 18,93 ha

4.10 Đất thuỷ lợi:                                                       8,80 ha

4.11 Đất cơ sở Văn hoá:                                             0,94 ha

4.12 Đất cơ sở y tế:                                         0,42 ha

4.13 Đất cơ sở GD-ĐT:                                   3,15 ha

4.14 Đất cơ sở TD-TT:                                    1,70 ha

4.15 Đất chợ:                                                  1,51 ha

4.16 Đất tôn giáo – tín ngưỡng:                      02,00 ha

4.17 Đất nghĩa trang- nghĩa địa:                       7,19 ha

4.18 Đất sông suối và MN CD:                      52,16 ha

4.19 Đất phi nông nghiệp khác:                       01,00 ha

II/ NHÂN LỰC VÀ TIÊM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

1/ Nhân lực:

- Tổng dân số có 3508 khẩu; 818 hộ.

- Dân tộc có 5 thành phần gồm: Kinh, Tày,Nùng,Thái, Mường.

+ Dân tộc Kinh: 788 hộ/3376

+ Dân tộc Tày:  6 hộ/22 khẩu

+ Dân tộc Nùng: 24 hộ/ 107 khẩu.

+ Thái 0 Hộ/1 khẩu

+ Mường 0 hộ/2 khẩu

- Tôn giáo  có 03 thành phần tôn giáo gồm đạo thiên chúa và đạo phật, tin lành.

+ Đạo thiên chúa:  66   hộ/   295  khẩu

+ Đạo phật:           428    hộ/  1883  khẩu.

+Tin lành:        1         Hộ/ 6 khẩu

Tốc độ tăng dân số: Tổng số khẩu dưới 15 tuổi có 743    người chiếm tỷ lệ   22% ; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong các năm gần đây ở mức 1.01%  năm. Nhìn chung dân số xã Đạ Lây có lực lượng lao động trẻ, khỏe, cần cù, chịu khó, ham học hỏi.

* Được hình thành phát triển từ năm 1978 chia thành 9 thôn, dân cư sống tập chung chủ yếu dọc theo đường tỉnh lộ và các trục đường chính của xã nối liền với đường 721. Hiện nay tình trạng di dân đến xã không nhiều, trung bình từ 1-2 hộ/năm.

2/ Tiềm năng về phát triển KT-VH-XH:

Đạ Lây là xã thuần nông, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, chính quyền các cấp đầu tư cho sự phát triển nông lâm nghiệp, có những bước tiến đáng kể. Sản lượng lương thực trên địa bàn năm 2012 đạt 1374  tấn.

Giá trị sản xuất trên 01 ha canh tác ước đạt trên 40 triệu đồng/năm. Tăng 15  triệu so với năm 2011. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả như phát triển 120 ha lúa chất lượng cao năm 2012. Chuyển đổi mùa vụ trên 220 ha; cây công nghiệp và cây khác năm 2012 thực hiện được 406.31.ha. Trong sản xuất nông nghiệp nhân dân đã tăng cường đầu tư máy móc phục vụ sản xuất.

Về chăn nuôi: tổng đàn gia súc  năm 2012 phát triển 600 con; gia cầm 15000 con giá trị chăn nuôi trong năm 2012

Về lĩnh vực thương mại dịch vụ trên địa bàn phát triển tương đối với gần 70 hộ buôn bán lớn nhỏ.

- Về lĩnh vực ngành nghề: một số ngành như cơ điện, gò hàn, xay xát, mộc, nề, rèn có phát triển nhưng chưa cao, chưa mang tính quy mô trong sản xuất kinh doanh.

- Về lĩnh vực xây dựng cơ bản: chủ yếu là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội như, điện, đường, trường, trạm;

* Thu-chi ngân sách:

- Thu ngân sách năm 2012 thực hiện 3780.2 triệu đồng đạt155.3% dự toán..

- Chi ngân sách thực hiện năm 2012 đạt 3579.5triệu đồng đạt 147.1% dự toán.

Phần thứ hai

ĐÁNH GIÁ TIÊU CHÍ

1/ Quy hoạch:

Quy hoạch và hiện trạng QH của xã:

- Hiện tại xã Đạ Lây mới chỉ được quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015    , chất lượng quy hoạch sử dụng đất tương đối  tốt và ổn định, đã tính tới yếu tố môi trường, quy hoạch khu dân cư khang trang so với tiêu chí thì còn phải xây dựng và quy hoạch cụ thể hơn như:

+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiếu yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dịch vụ..

+ Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội môi trường theo chuẩn mới dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp.

2/Hạ tầng kinh tế-xã hội:

Giao thông

Đường nông thôn có:

Thôn Liêm phú dài 3,1 km

Thôn Thuận Hà dài: 2,1 km

Thôn Thuận Lộc dài: 2,5 km

Thôn Vĩnh Thủy dài: 3,9 km

Thôn Thanh Phước dài: 2,8 km

* Toàn xã có hệ thống giao thông đường bộ  trục chính dài 17,9 km trong đó có 7,8 km được thảm nhựa đạt 43,5 %; 10,1 km đường cấp phối chiếm 56,5%; đường đất 0 km, chiếm 0%. Trong đó:

+ Đường liên xã (tỉnh lộ 721) với tổng chiều dài 3,5 km mặt đường được trải nhựa bảo đảm theo yêu cầu của bộ giao thông vận tải.

+ Đường liên thôn có 05 trục chính với tổng chiều dài 14,4 km, trong đó: có 4,3km đường nhựa  (gồm các tuyến đường thôn Liêm phú, Thuận lộc và Hương bình 2 ) chiếm 29,8%;  có 10,1 km đường cấp phối (đường liên thôn ….) chiếm 70,2

+ Đường ngõ xóm có  4,08km đường đất thường bị lầy lội ngập úng vào mùa mưa, chiếm 70%.

* Hệ thống đường nội đồng của xã hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, việc sản xuất hết sức bị động, không có kênh mương nội đồng rất khó cho việc lưu thông trong sản xuất. Cần phải thực hiện kênh mương nội đồng qua kế hoạch dồn điền đổi thửa và việc sản xuất mới mang tính bền vững.

+ Như vậy so với tiêu chí có 3/4 mục nhỏ không đạt yêu cầu. Đối với đường liên xã theo tiêu chuẩn của Bộ GTVT đạt 100%, trục đường chính thôn được cứng hóa theo tiêu chuẩn cấp kỹ thuật của Bộ GTVT là 56,5%. (Tuy nhiên cịn một số đoạn đường cấp phối vẫn lầy lội vào mùa mưa do đường ở khu vực thấp thường bị ngập úng). Đường ngõ xóm sạch không lầy lội vào mùa mưa có 30%. Đường nội đồng chưa xây dựng, gần như hầu hết trên tất cả 9 thôn.

Điện:

Hệ thống điện trên toàn xã đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện, đạt yêu cầu của tiêu chí. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn đạt 100% tổng số hộ trong xã. Hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, cao thế và trạm hạ thế đạt yêu cầu. Tuy vậy vẫn còn một số hộ ở khu vực thượng nguồn là hoàn toàn chưa có điện để dùng cho sinh hoạt và sản xuất. Hệ thống điện 3 pha để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nhân dân chỉ có khu trung tâm chưa mở rộng ra các thôn.

Về Thuỷ lợi

Từ ngày thành lập đến nay việc sản xuất chủ yếu dựa vào nước trời, không chủ động được trong tưới tiêu. Thuỷ lợi hiện nay đang được khởi công xây dựng chưa đưa vào hoạt động. Hệ thống kênh mương hiện nay vẫn chưa có. Đạ Lây hiện nay ngoài nguồn nước suối Đạ Lây được làm thuỷ lợi, có nguồn nước sông Đồng Nai chảy qua địa phận của xã, nhưng địa phương chưa xây dựng được trạm bơm để phục vụ nước tưới cho khoảng hơn 200 ha đất nông nghiệp tại khu vực giáp sông Đồng Nai thuộc các thôn Thuận Hà, Liêm Phú, Thuận Lộc, Lộc Hoà.

Cơ sở vật chất trường học:

Đã qua 33 năm hình thành và phát triển, trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng,  nhà nước, chính quyền các cấp đã tập trung vào đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục ở địa phương có 2 bậc học gồm: Mầm non và Tiểu học, với 18 lớp cho cả 2 bậc học. Trong đó trường Mầm non Hoa Mai được tách ra từ trường tiểu học Hùng Vương từ  năm 2003 lúc đó trường Hoa Mai chưa có một cơ sở phòng ốc nào để tiến hành bố trí nơi làm việc cũng như nơi để cho các cháu vui chơi, học hành; UBND  xã phải bố trí nhường cơ quan làm việc để tạo điều kiện cho Trường hoạt động, các phân hiệu được mượn hầu hết các hội trường của các thôn để làm nơi các cháu vui chơi, học hành. Điều kiện phương tiện, thiết bị giáo dục của trường còn rất thiếu. Ngày nay trường Mầm Non Hoa Mai đã phát triển được 06 lớp với 145 học sinh; trong đó 1 điểm trường chính (Nhưng chưa được đầu tư xây dựng phòng làm việc của Trường, hiện nhà trường đang mượn tạm nhà văn hóa của UBND xã để làm việc) và 4 điểm phân hiệu cũng đang mượn tạm hội trường của các thôn để làm nơi học hành và vui chơi cho các cháu.

UBND xã đã quy hoạch đất để xây trường và kiến nghị lên các cấp đầu tư xây dựng trường Mầm non.

Trường Tiểu học Hùng Vương với tổng diện tích mặt bằng 2,05 ha có 03  dãy trường học với 10 phòng học cho 12 lớp. Phương tiện, thiết bị giáo dục so với tiêu chí chưa đạt; trường đang còn thiếu Phòng đa năng, phòng chức năng, nhà để xe, thiết bị giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Trong những năm qua địa phương đã kiến nghị lên các cấp để tìm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho nhiều công trình thuộc lĩnh vực giáo dục, nhưng vẫn chưa thực hiện được. Điều kiện thuận lợi của địa phương là đã có quỹ đất dành cho việc xây trường và bố trí các phòng học, mặt bằng xây trường, đặc biệt là trường MN Hoa Mai rất thuận lợi, nằm ngay khu trung tâm của xã.

Cơ sở vật chất văn hóa:

Cấp xã : Hiện nay xã đã có nhà  văn hoá. Cịn lại chưa có cơ sở vật chất văn hóa như:  nhà thi đấu đa năng, sân vận động, công viên vui chơi giải trí và các thiết bị phục vụ văn hóa, TD-TT theo quy định.

Cấp thôn: Có 8/9 thôn có nhà văn hóa được xây dựng ở dạng nhà cấp 4. nhưng mặt bằng khuôn viên sinh hoạt ngoài trời, hàng rào, bàn ghế hội trường, âm thanh và một số trang thiết bị khác chưa được trang bị đầy đủ, phần lớn chỉ trang bị sơ sài, tạm đủ dùng cho việc sinh hoạt ở các thôn. 1 thôn còn lại đã quy hoạch đất để xây nhà văn hóa, nhưng chưa có nguồn vốn để xây dựng nhà văn hóa đạt chuẩn quy định của Bộ VH-TT-DL.

Chợ nông thôn

Thuận lợi của địa phương là đã hình thành chợ ngay khu trung tâm, với mặt bằng tương đối khá rộng đối với cấp xã (1,5ha), lại có tuyến đường tỉnh lộ 721 đi qua, là điều kiện thuận lợi cho phát triển hầu hết các dịch vụ.

Tuy nhiên việc bố trí chợ hiện nay ở địa phương vẫn chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định: chưa có hệ thống nước ổn định, thiếu các trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng cháy, chữa cháy;  công trình vệ sinh tập thể không đưa vào sử dụng được.

Bưu điện:

Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông( đạt tiêu chí),. Tuy nhiên việc sử dụng khai thác internet trong nhân dân chưa mang tính rộng rãi, phần lớn tập trung ở các thành phần thuộc cán bộ Công nhân viên chức, giáo viên.

Nhà ở dân cư  

Địa phương là vùng kinh tế mới trước đây của người dân xứ Huế, xây dựng theo chủ trương của nhà nước. Thời kỳ mới vào được quy hoạch bố trí dân cư sống dọc theo chân đồi ở hầu hết các thôn. Đến sau này dân cư được quy hoạch bố trí lại rãi đều khắp địa phận của xã. Tuy nhiên, việc quy hoạch vẫn còn nhiều tồn tại, nhiều hộ dân sống không có kinh tế vườn, không mang tính bền vững, chưa tạo tâm lý ổn định ở nơi mình đang ở. Đất đai trước mắt chưa có tiềm năng nên việc xây dựng lô gia cư vừa có kinh tế vườn chưa được quan tâm, đi đôi với việc xây dựng nhà ở thuộc diện kiên cố chưa phát triển mạnh.

Tỷ lệ nhà ở dân cư đạt tiêu chuẩn của Bộ XD chiếm khoảng 60% trên tổng số nhà ở của dân, 50% nhà ở là nhà bán kiên cố với kết cấu là loại nhà gỗ, lợp ngói,tôn,  xây bao, hoặc bao gỗ. Năm 2012 nhà nước hỗ trợ cho nhân dân xây 8 căn theo chương trình xóa nhà tạm dột nát từ nguồn vốn của Chính phủ và của Tỉnh.

Thu nhập bình quân đầu người: đạt 14 triệu đồng/người/năm.

Tỷ lệ hộ nghèo:

Tổng số hộ nghèo của xã tính đến cuối năm 2012 còn 121hộ/756 hộ hiện có mặt tại địa phương,  chiếm 16. %. Nguyên nhân chủ yếu của hộ nghèo là do thiếu đất, thiếu phương tiện và thiếu nguồn vốn đầu tư sản xuất để tăng thu nhập cải thiện đời sống, thậm chí có hộ do bệnh hiểm nghèo dẫn đến nghèo. Hơn nữa địa phương là xã có đồng bào dân tộc thiểu số di cư từ phía Bắc vào làm kinh tế, một bộ phận đến từ các tỉnh Nam Hà, Nghệ an, nếp sống văn hoá tuy có khác biệt nhưng nhìn chung nhân dân sống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống.

Cơ cấu lao động

Hiện xã có 756 hộ/3373 khẩu, chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông lâm, ngư nghiệp chiếm 80 %, còn lại 20% lao động trong lĩnh vực dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp nhỏ…  Tổng số lao động trong độ tuổi (18-60 tuổi) là 2426 lao động trong đó lao động nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ lệ 80 % ; lao động xây dựng, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ 10%; lao động làm việc tại các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh chiếm tỷ lệ 10%.

Đạ Lây là địa phương mà thu nhập phần lớn là sản xuất nông nghiệp, nên lao động nông nghiệp chiếm phần lớn. Ngoài thời gian lao động theo mùa vụ, người nông dân thường kiếm thêm thu nhập từ khai thác lâm sản phụ, nhưng ngành nghề này thường bấp bênh do nguyên liệu từ rừng ngày càng cạn kiệt.

Tình hình tổ chức sản xuất

  Địa phương là vùng đất sản xuất nông nghiệp, được hình thành cách đây 30 năm, hình thức tổ chức theo hướng tự phát, sản xuất manh múm, không tập trung; do vậy việc tổ chức sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhân dân chưa chủ động trong bố trí mùa vụ và việc sản xuất chưa mang tính hàng hoá qua đó việc làm giàu nhanh là rất khó, mặc dù tương lai Đạ Lây sẽ có Thuỷ lợi phục vụ cho công tác tưới tiêu đồng ruộng. Cần có quy hoạch, kế hoạch tổ chức dồn điền, đổi thửa để sản xuất tập trung, bố trí sản xuất thuận lợi và nhanh chóng làm giàu từ phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp.

 

3) Văn hóa xã hội và môi trường:

Văn hóa giáo dục:

Nhiều năm liền  xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập THCS. Công tác phổ cập trung học luôn được duy trì. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) hàng năm đạt 90%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 100%.Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngành nghề đạt 05%,  đặc thù của địa phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp chiếm (80%), dịch vụ chiếm hơn 16%, Công nghiệp: chiếm gần 4%, nên việc đào tạo ngành nghề cho lao động còn thấp, tỷ lệ lao động có tay nghề chưa cao.

Y tế:

Được sự quan tâm của nhà nước, địa phương được trên quan tâm xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác y tế tương đối ổn định, tuy nhiên trang thiết bị bên trong để phục vụ cho công tác khám chữa bệnh chưa đáp ứng với yêu cầu đề ra, mặc dù y tế địa phương đã đạt chuẩn quốc gia theo quy định.

Do thiếu trang thiết bị bên trong nên chưa tạo điều kiện cho trạm làm việc đạt hiệu quả cao nhất. đặc biệt vào mùa nắng, không có quạt máy hoặc máy lạnh để điều hoà nhiệt độ trong phòng làm việc, chưa tạo tâm lý thoải mái cho cán bộ y tế cũng như nhân dân đến khám chữa bệnh.

Môi trường nông thôn: chưa đạt so với tiêu chí.

Địa phương là xã thuần nông, cơ sở hạ tầng tuy được nhà nước quan tâm, nhưng chưa thể đáp ứng với yêu cầu của đời sống nhân dân.

Là xã được trên quan tâm cho xây dựng chợ để phục vụ việc mua bán trao đổi hàng hoá trong nhân dân, nhưng việc thu gom xử lý rác thải, nước thải chưa được bố trí, môi trường ở khu vực chợ rất ô nhiễm, do chưa quy hoạch xây dựng hệ thống xử lý rác thải, nước thải.

Là một xã sản xuất nông nghiệp chiếm phần lớn, việc bố trí dân cư, quy hoạch chưa hợp lý, chưa mang tính đồng nhất. Số thì ở cạnh sườn đồi, không có kinh tế vườn, số thì được bố trí dọc theo các tuyến đường của các thôn; hệ thống chuồng trại bố trí không có quy hoạch, chưa đảm bảo vệ sinh, thậm chí mất vẻ đẹp cảnh quan.

Tỷ lệ hộ có nhà tắm, hố xí tự tiêu chiếm tỉ lệ còn thấp (60%). Cảnh quan môi trường chưa có quy hoạch cụ thể, chưa bố trí trồng cây xanh hợp lý ở các khu vực cần phải được bố trí như dọc các tuyến đường, khu vực chợ, khu vực nghĩa trang nhân dân, các công sở cơ quan, trường học, trạm y tế, bưu điện.

Văn hóa: đạt so với tiêu chí:

Xã có 9/9 thôn đạt thôn văn hoá.

Hằng năm địa phương luôn phát động phong trào toàn dân ĐKXDĐSVH ở khu dân cư, các thôn luôn thực hiện sống theo hương ước, nếp sống văn hoá trong ma chay, cưới hỏi.

Ở địa phương hiện có 9 thôn, trong đó có 5 thôn được dự án đầu tư xây dựng 5 hội trường văn hoá tương đối khang trang, là điểm sinh hoạt văn hoá cho nhân dân các thôn Hương Bình 1, Hương bình 2, Lộc Hoà, Liêm Phú, Thanh Phước. 3 thôn còn lại thì trong đó có 2 thôn nhà nước và nhân dân cùng làm.1 thôn chưa có hội trường.

Các điểm phục vụ văn hoá chưa phát triển mạnh, bưu điện tuy có tủ sách nhưng đầu sách nội dung chưa phong phú, chưa đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Chưa có nhà sách, thư viện, nhà văn hoá…

Hạ tầng kinh tế, đặc biệt là hệ thống đường sá tuy đã được bố trí hình thành rãi khắp các thôn, nhưng tuyến đường nhựa hoá, bê tông hoá còn ít, mùa mưa có thôn còn lầy lội, khó khăn cho việc đi lại, sinh hoạt của nhân dân.

Việc bố trí dân cư không tập trung, thường trải dài, thậm chí có thôn, có hộ dân ở rất xa khu trung tâm(dân khu vực thượng nguồn Đạ Lây) nên việc xây dựng thôn văn hoá đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hoá- Thông tin gặp rất nhiều khó khăn.

4) Hệ thống chính trị xã hội.

Hệ thống chính trị:

- Hiện đội ngũ cán bộ xã có 42 người trong đó 21 người là cán bộ công chức, chuyên trách; 21 cán bộ bán chuyên trách và phó các đoàn thể. Cán bộ công chức chuyên trách có 17/21 người chuẩn hóa về chuyên môn, trong đó có 03 đạt trình độ đại học; 14 người có trình độ trung cấp chính trị; Hầu hết cán bộ Công chức chuyên trách đạt trình độ học vấn 12/12.

Cán bộ bán chuyên trách và phó các đoàn thể có 15 người, trong đó có 05 trình độ trung cấp chính trị; trình độ văn hóa cấp III có: 10 người, cấp II có: 05 người.

Đội ngũ cán bộ thôn xóm: Từ Bí thư chi bộ, thôn trưởng, thôn phó, công an viên, xóm trưởng, xóm phó, trưởng phó các chi hội đoàn thể chính trị xã hội có tổng cộng là 172 người. Hàng năm được tham gia các lớp tập huấn, nghiệp vụ công tác.

Trình độ học vấn của cán bộ xã cơ bản đã được chuẩn hóa về văn hóa, trình độ chính trị, trình độ chuyên môn ở một số lĩnh vực như Văn phòng, Công an, Địa chính, Kế toán,Tư Pháp, Xã đội, VHTT. Nhờ đó mà trong công tác đã phát huy hết khả năng trong việc thực hiện nhiệm vụ tại địa phương, chấp hành tốt các quy định, nội quy làm việc của cơ quan. Đội ngũ cán bộ xã cũng không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt để đáp ứng với nhu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Hiện có 5 cán bộ chuyên trách, công chức đã học xong lớp trung cấp Nông nghiệp, Đại học tài chính-Kế toán. Hầu hết các đồng chí cán bộ chuyên trách, công chức đều có trình độ A tin học.

Tình hình hoạt động của hệ thống chính trị từ xã đến thôn luôn ổn định về mọi mặt. Trong những năm qua Đảng bộ địa phương do nhiều nguyên nhân khác nhau nên chưa đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh, hoạt động của khối chính quyền chỉ đạt khá. Mặt trận Tổ Quốc và các đòan thể chính trị, xã hội những năm vừa qua cũng chỉ đạt loại khá..

An Ninh, trật tự xã hội đạt tiêu chí.

Tình hình An ninh, chính trị, TTATXH ở địa phương luôn ổn định, những năm gần đây tuy có những vụ việc xảy ra ảnh hưởng đến tình hình ANTT ở địa phương nhưng vụ việc không nổi cộm, không mang tính chất nghiêm trọng.

Đội ngũ Công an, xã đội có 5 đồng chí, trong đó có 01 đồng chí  đã được tốt nghiệp trung cấp chuyên môn. 01phó công an và 3 công an thường trực. Việc xây dựng đội ngũ Công an, xã đội luôn được chú trọng, đặc biệt là lực lượng Công an viên luôn được quan tâm cũng cố.

III/ ĐÁNH GIÁ CHUNG:

1, Thuận lợi:

Đạ Lây là địa phương thuộc vùng sâu của huyện, có tiềm năng phát triển kinh tế, là điểm giao lưu phát triển kinh tế rất thuận lợi, do có tuyến đường tỉnh lộ 721 đi qua là điều kiện cho việc lưu thông hàng hoá.

Đất sản xuất nông nghiệp hơn 1000 ha, là điều kiện cho việc phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, nếu biết khai thác hết tiềm năng đất đai.

Là xã mà người nông dân rất cần cù, chịu khó làm ăn, ham nghiên cứu, học hỏi để nâng cao kiến thức về phát triển kinh tế. Sống đoàn kết, biết tương thân, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Hệ thống chính trị ổn định, tình hình an ninh chính trị luôn được giữ vững. Có đội ngũ cán bộ đủ năng lực để lãnh đạo địa phương. Nhân dân có ý thức quyết tâm xây dựng quê hương.

2, Khó khăn:

Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư phát triển nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của đời sống nhân dân, đặc biệt hệ thống giao thông hiện nay khó khăn cho việc lưu thông hàng hoá vào mùa mưa; có tuyến đường thường lầy lội, khó khăn cho việc đi lại. Mạng lưới giao thông tuy đã được xây dựng hầu hết các thôn, nhưng chưa thể kiên cố hoá hầu hết các tuyến đường. Trong phát triển kinh tế, là địa phương mà sản xuất đang còn manh mún, sản xuất chưa mang tính tập trung do đất đai của từng hộ phân tán, khó khăn cho việc đầu tư tư liệu sản xuất và bố trí sản xuất mang tính hàng hoá.

Mặt bằng dân trí có nâng cao, nhưng chưa thể đáp ứng với yêu cầu hiện tại, khi xã hội ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Trình độ tay nghề kỹ thuật chưa phát triển mạnh, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển chưa phong phú, chưa được đầu tư đúng mức, còn phát triển mang tính tự phát trong nhân dân.

Hệ thống điện tuy đã có hầu hết các thôn, nhưng còn một bộ phận nhân dân ở khu vực đoạn cuối của các thôn Liêm phú, Thuận hà, Lộc Hoà và một bộ phận nhân dân ở khu vực thượng nguồn  chưa có điện sinh hoạt và phục vụ sản xuất.

Trạm y tế xã tuy được công nhận đạt chuẩn, nhưng điều kiện làm việc còn phải cần đầu tư thêm các trang thiết bị bên trong các phòng để thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân.

Hệ thống giáo dục: Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc biệt là Trường Mầm Non ở địa phương chưa xây dựng ổn định, phòng ốc còn phải mượn, còn thiếu thốn rất nhiều về cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho việc dạy và học của các cháu.